Huyền thoại, sự thật và tiểu thuyết

10:16 14/05/2009
NGUYỄN KHẮC PHÊ           (Đọc “Thân Trọng Một – con người huyền thoại” của Nguyễn Quang Hà)Đã từ lâu, tên tuổi anh hùng Thân Trọng Một trở nên thân quen với mọi người, nhất là với quân dân Thừa Thiên Huế; những “sự tích” về ông đã thành truyện “truyền kỳ” trong dân chúng và đã được giới thiệu trên nhiều sách báo. Tuy vậy, với “THÂN TRỌNG MỘT – CON NGƯỜI HUYỀN THOẠI”, lần đầu tiên, chân dung và những chiến công của ông đã được tái hiện một cách đầy đủ và sinh động nhất.

Anh hùng Thân Trọng Một

Thoạt nghĩ, cứ tưởng rằng viết về một con người đã trở thành huyền thoại như Thân Trọng Một sẽ có nhiều thuận lợi vì nhân vật đầy cá tính, các chiến công thì đều hấp dẫn...; nhưng ngẫm ra, nhà văn lại bị những điều đó “trói buộc”, không dễ “hư cấu” – một thủ pháp quan trọng trong nghệ thuật văn chương; hơn nữa, những “sự tích” truyền kỳ thường có “dị bản”, phải cân nhắc tìm hiểu công phu mới tìm ra sự thật; lại có “sự thật” rất thú vị với người cầm bút, với độc giả, nhưng vì lẽ này lẽ khác chưa tiện nói ra bây giờ...

Trong điều kiện ấy, nhà văn Nguyễn Quang Hà đã chọn hình thức thể hiện như là một cuốn hồi ký (Trong “Lời cuối sách”, tác giả cũng gọi đây là “tập hồi ký”). Có điều độc đáo, đây là hồi ký của nhiều người – những người thân trong gia đình, các chiến hữu và bản thân tác giả - về anh hùng Thân Trọng Một, nên cuốn sách vừa phong phú sự kiện, chi tiết, phản ảnh được cuộc chiến đấu gian khổ và anh dũng của quân dân Thừa Thiên - Huế trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, vừa thể hiện được nhân vật từ nhiều góc nhìn khác nhau. Chúng ta không chỉ được biết những chiến công lẫy lừng của ông như các trận đánh trên đường tàu (thời chống Pháp), trận đánh vào Khách sạn Hương Giang (thời chống Mỹ) làm kẻ thù khiếp sợ, mà còn được “sống” cùng ông trong tình cảm yêu thương nồng cháy với gia đình, với chiến sĩ.

Qua 19 chương sách với 250 trang, Thân Trọng Một hiện ra trước mắt độc giả như một chiến sĩ quả cảm phi thường, đồng thời là một vị chỉ huy đầy tài năng và lòng nhân ái thật đặc biệt. Nhiều lần, trong thời kỳ gian khó nhất, chính là tình yêu thương chiến sĩ đói rét đã thôi thúc ông lập công (như trận đánh đồn An Lỗ, lột hết quần áo kẻ địch cho quân ta...) Ông nổi nóng, quát nạt, doạ cách chức cấp thuộc quyền cũng chỉ vì thương chiến sĩ bị đói trên điểm chốt; thậm chí ông thà chịu kỷ luật để có gạo cho lính ăn. Đối với cả kẻ đào ngũ do giao động trong chốc lát và vì bất bình với người chỉ huy kém cỏi, tình bao dung của ông đã đưa họ trở lại đội ngũ, trở thành anh hùng (Chương “Chuyện nhặt bên đường” – Theo lời kể của Hiệp, của Thảo Nguyên) Dòng chữ “Theo lời kể của...” dưới hầu hết các chương như là “nhân chứng”, giúp thuyết phục người đọc tin rằng huyền thoại về người anh hùng đều là sự thật, chứ không phải chuyện hoang đường.

Có lẽ chính nhờ những ưu điểm đó mà cuốn sách đã đồng thời được báo “Văn nghệ” (Hội Nhà văn Việt Nam) đăng nhiều kỳ và in cả ở Hà Nội (NXB Quân đội nhân dân) và Huế (Bộ chỉ huy Quân sự Tỉnh Thừa Thiên - Huế & NXB Thuận Hoá). Tuy vậy, người đọc và chính cả tác giả, cũng chưa thoả mãn. Một cuộc đời như của anh hùng Thân Trọng Một xứng đáng được viết đầy đủ và kỹ càng hơn nữa. Chúng ta vẫn còn thấy những “khoảng trống” hoặc những chỗ sơ sài. Thiết nghĩ chỉ riêng cuộc rút quân khỏi cứ điểm 815 (Chương “815 - Tháng 8 năm 1968”) đã có thể dựng thành một cuốn tiểu thuyết đầy chất bi tráng tựa như tiểu thuyết “Chiến bại” của nhà văn Liên Xô Pha-đê-ép, một cuộc lui quân nhưng lại làm nổi rõ phẩm chất anh hùng của người chiến sĩ cách mạng. (Nhà văn Nguyễn Quang Hà cho biết, có chi tiết, sự kiện rất đáng miêu tả kỹ, nhưng ông chỉ viết qua vài dòng vì một sự “tế nhị” nào đó...)

Trong “Lời cuối sách”, tác giả đã tha thiết đề nghị bạn đọc cung cấp thêm những “huyền thoại” “còn nằm trong ký ức của nhân dân”, để khi có dịp sẽ hoàn chỉnh tập sách này. Như vậy, “Thân Trọng Một - con người huyền thoại” đang là một cuốn sách “mở”. Nhà văn đang chờ đợi tư liệu bổ sung và độc giả chờ một tác phẩm có chất lượng cao hơn - có thể đó sẽ là một cuốn tiểu thuyết với nhân vật chính là Thân Trọng Một, người anh hùng đã sống trong lòng nhân dân Thừa Thiên - Huế suốt nửa thế kỷ qua.

Trường An - Huế, 26/3/2003
N.K.P.
(171/05-03)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • VỌNG THẢO(Đọc “Quỷ trong trăng’ của Trần Thuỳ Mai)Đối với người cầm bút, trong những ý niệm thuần khiết nhất của trí tưởng tượng, mỗi người đều có những nhận thức và ám ảnh khác nhau. Riêng Trần Thuỳ Mai, ý niệm thuần khiết trong trí tưởng tượng của chị là một bến bờ xa vắng, nơi ẩn chứa những hạn cuộc huyễn hoặc và khát khao tận cùng trước giả, thật cuộc đời. Đó cũng là điều chị đã gửi gắm trong tập truyện mới: “Quỷ trong trăng” (NXB Trẻ - 2001), tác phẩm văn xuôi được giải tặng thưởng hàng năm của Liên hiệp Hội VHNT Thừa Thiên Huế.

  • NGUYỄN THỊ LÊ DUNGBao đời nay, thơ vẫn là một hằng số bí ẩn bảo lưu chất trẻ thơ trong tâm hồn con người. Nó gắn với đời sống tâm linh mà tâm linh thì không hề có tuổi, do vậy, nên dù ở chu kì sinh học nào, người ta cũng sống với thế giới thi ca bằng trái tim không đổi màu.

  • TẠ VĂN SỸĐọc tập thơ CÁT MẶN của LÊ KHÁNH MAI, NXB Hội nhà văn - Hà Nội 2001

  • LÊ THỊ MỸ ÝĐọc tập truyện ngắn "NGƯỜI ƠI" - Lê Thị Hoài - NXB Thuận Hoá 2001

  • HỒNG DIỆUVâng. Thơ của nhà thơ Nguyễn Bính (1918-1966) viết ở Huế, trong đó có thơ viết về Huế và thơ viết về những nơi khác.

  • HÀ VĂN LƯỠNGBài viết này như là một nén nhang tưởng niệm nhà văn Aitmatov vừa qua đời ngày 11-6-2008)

  • UYÊN CHÂU(Nhân đọc “Mùa lá chín” của Hồ Đắc Thiếu Anh)Những ai từng tha phương cầu thực chắc chắn sẽ thông cảm với nỗi nhớ quê hương của Hồ Đắc Thiếu Anh. Hình như nỗi nhớ ấy lúc nào cũng canh cánh bên lòng, không dứt ra được. Dẫu là một làn gió mỏng lướt qua cũng đủ rung lên sợi tơ lòng: Nghe hương gió thổi ngoài thềm / Trái tim rớm lệ trở mình nhói đau (Đêm nghiêng).

  • LGT:Rainer Maria Rilke (1875 – 1926) người Áo, sinh tại Praha, đã theo học tại Praha, Muenchen và Berlin triết học, nghệ thuật và văn chương, nhưng không hoàn tất. Từ 1897 ông phiêu lưu qua nhiều nước Âu châu: Nga, Worpswede (Ðức) (1900), Paris (1903) và những nước khác trong và sau thời thế chiến thư nhất (Thụy sĩ, Ý…). Ông mất tại dưỡng viện Val-Mont vì bệnh hoại huyết.

  • Giới thiệu tập thơ đầu tiên của anh Khúc ru tình nhà thơ Ngô Minh viết: “Toàn từng làm thơ đăng báo từ trước năm 1975. Hơn 20 năm sau Toàn mới in tập thơ đầu tay là cẩn trọng và trân trọng thơ lắm lắm”.

  • 1. Trước khi có cuộc “Đối thoại với Cánh đồng bất tận” trên báo Tuổi trẻ tháng 4. 2006, Nguyễn Ngọc Tư đã được bạn đọc biết đến với tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt, giải Nhất trong cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi XX (lần 2) năm 2000, được tặng thưởng dành cho tác giả trẻ của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2000, giải B của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2001…

  • Nhân ngày 9/5 chiến thắng phát xít Đức.

  • ...Đưa người ta không đưa qua sôngSao có tiếng sóng ở trong lòng?...

  • Những năm đầu sau ngày miền giải phóng, có mấy lần nhà thơ Xuân Diệu vào các tỉnh Nam Trung Bộ và dừng ở Nha Trang ít ngày. Đến đâu Xuân Diệu cũng nói chuyện thơ, được người nghe rất hâm mộ, đặc biệt là giới trẻ.

  • Có nhiều khi trong đời, “trôi theo cõi lòng cùng lang thang” như Thiền sư Saigyo (Nhật Bản), bất chợt thèm một ánh lửa, một vầng trăng. Soi qua hương đêm, soi qua dòng văn, soi qua từng địa chỉ... những ánh lửa nhỏ nhoi sẽ tổng hợp và trình diện hết thảy những vô biên của thế cuộc, lòng người. “Trong mắt tôi” của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã là ánh lửa ấy, địa chỉ ấy.

  • 1. Kawabata Yasunari (1899 -1972) là một trong những nhà văn làm nên diện mạo của văn học hiện đại Nhật Bản. Ông được trao tặng giải Nobel năm 1968 (ba tác phẩm của Kawabata được giới thiệu với Viện Hoàng gia Thụy Điển để xét tặng giải thưởng là Xứ Tuyết, Ngàn cách hạc và Cố đô).

  • (Thơ Đỗ Quý Bông - Nxb Văn học, 2000)Đỗ Quý Bông chinh phục bạn hữu bằng hai câu lục bát này:Đêm ngâu lành lạnh sang canhTrở mình nghe bưởi động cành gạt mưa.

  • Thạch Quỳ là nhà thơ rất nhạy bén trong việc nắm bắt thông tin và chóng vánh tìm ra ngay bản chất đối tượng. Anh làm thơ hoàn toàn bằng mẫn cảm thiên phú. Thơ Thạch Quỳ là thứ thơ có phần nhỉnh hơn mọi lý thuyết về thơ.

  • Kỷ niệm 50 năm ngày mất nhà văn Nam Cao (30.11.1951-30.11.2001)

  • Có một con người đang ở vào cái tuổi dường như muốn giũ sạch nợ nần vay trả, trả vay, dường như chẳng bận lòng chút nào bởi những lợi danh ồn ào phiền muộn. Đó là nói theo cái nghĩa nhận dạng thông thường, tưởng như thế, nơi một con người đã qua "bát thập". Nhưng với nhà thơ Trinh Đường, nhìn như thế e tiêu cực, e sẽ làm ông giận dỗi: "Ta có sá gì đi với ở".

  • Nhà thơ Trinh Đường đã từ trần hồi 15g10’ ngày 28.9.2001 tại Hà Nội, thọ 85 tuổi. Lễ an táng nhà thơ đã được tổ chức trọng thể tại quê nhà xã Đại Lộc huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng , theo nguyện vọng của nhà thơ trước khi nhắm mắt.