Hình ảnh ấy ngây thơ quá, cho tôi nỗi niềm. Anh mắt, nét mặt, làn môi chúm chím khiến tôi cứ bồi hồi nôn nóng muốn gặp lại nàng, dù bao lần tôi muốn lẩn tránh. Nhưng rồi tôi cũng đã gặp nàng. Qua nhiều lần chuyện trò thân mật, tôi vẫn chưa nghĩ đó là tình yêu. Chúng tôi thường hẹn hò đi chơi đây đó và tôi càng hồi hộp hơn khi được gặp nàng. Sự ngây thơ, hiền dịu và nhân hậu cũng như tên nàng khiến cho tôi luôn nhớ tới: Hoài Thu. Khi phải xa nàng ra Huế tiếp tục năm học là tôi lo lắng không yên, nhớ thương day dứt, chỉ muốn quay về gặp nàng. Nhất là mỗi lần nhận được thư nàng lòng tôi càng quay quắt... Tôi phải cố gắng lắm mới kiềm chế nổi mình tiếp tục việc học. Dặn lòng: Phải cố gắng đạt kết quả như mình và nàng từng mơ ước. Nhưng mơ ước ấy bỗng nhòa đi, tan thành mây khói cùng với tương lai của tôi khi hòa bình lập lại. Gia đình Thu đi đâu chẳng ai rõ. Khi tôi từ Huế trở về cánh cửa nhà nàng dã đóng kín từ bao giờ. Đau lòng thay! Hình bóng Thu đã sâu đậm trong trái tim tôi. Từ đấy tôi buồn, nỗi cô đơn và hiu quạnh vây lấy tôi. Nó lan rộng khắp châu thân, chấp chới trong bóng chiều, rồi rơi xuống giữa đêm khuya quạnh vắng, lởn vởn mãi bên tôi không rời. Có một điều kỳ lạ là tôi không hề tuyệt vọng. Trong nỗi buồn mất mát đó, trong cái bóng đêm sâu thẳm lúc này. Cái bóng đêm mà đôi khi tôi tưởng là vô tận lại tóe lên một tia sáng, một miền hy vọng dẫu mong manh nhưng nâng cánh hồn tôi. Tôi đi tìm nàng. Ngày nối tiếp ngày, đêm nối tiếp đêm. Khi qua đường phố, lúc vào ngõ hẻm. Tôi như muốn lục tung cả thành phố này lên. Nàng vẫn bặt tăm. Em ở đâu bây giờ Thu? Tôi bâng khuâng tự hỏi... Trên bước đường tôi đi, hai chữ hy vọng luôn luôn diễn biến trong tâm tư. Thu và tôi như có một sợi dây vô hình ràng buộc, là mắc xích cho tâm nguyện: Dù thân xác lụn tàn cũng hướng về người dấu yêu. Và rồi trong một phút xuất thần đã vẽ lên một bước tranh tĩnh vật: Hương thời gian, và đây cũng là bức tranh duy nhất tôi đã vẽ trong cuộc đời mình. Cho đến mùa thu... tôi gần như tuyệt vọng. Ôi! Quá khứ! Quá khứ đã chìm ngất vào không gian, ẩn sâu vào thời gian, nhưng sao hương vị nồng nàn của ngày đầu cứ ngọt ngào mãi hồn tôi? Để có một tương lai, và dịu bớt nỗi buồn, tôi theo đoàn thanh niên ung phong đi xây dựng những công trình mới. Sau một thời gian tôi trở về xin vào làm việc ở một nhà máy dệt. Tại đây tôi tìm vui trong công việc, phấn đấu trong mọi công tác được giao, được lãnh đạo đưa đi học nghiệp vụ, rồi được làm trưởng phòng kế hoạch của nhà máy. Việc chậm lập gia đình của tôi khiến cha mẹ tôi lo lắng, hối thúc, đã đến lúc không thể từ chối được nữa, tôi đành nghe theo. Mái ấm gia đình không giúp tôi nguôi quên hình bóng cũ, dù thời gian đã trải dài qua bao năm tháng, tự sâu thẳm lòng tôi vẫn sáng ngời niềm ước mơ và trông chờ: Gặp lại Thu... Thật tình cờ trong một chuyến công tác tại thành phố phía Nam. Lúc trở về, tôi thấy có một thiếu phụ bước lên cùng toa tàu, ngồi cách tôi hai dãy ghế. Thoạt trông, tôi đã giật mình, sửng sốt, tim loạn nhịp. Phải mất một lúc lâu tôi mới lấy lại bình tĩnh, đến bên nàng lấy giọng thật tự nhiên tôi nói: - Xin lỗi cô... Đang lơ đễnh nhìn ra ngoài sân ga, nàng quay lại nhìn tôi. Anh mắt tôi sung sướng trong ánh mắt mở to đầy ngạc nhiên và không kém phần sửng sốt của nàng: - Ơ...Anh... Anh Thành Nàng kêu lên, rồi như quá xúc động nàng lặng yên nhìn tôi. Không để ý trên tàu đang đông người, tôi vội vã cầm tay nàng: - Lâu quá rồi phải không em? Nàng thì thầm: - Vâng, hơn hai mươi năm rồi. Như chợt nhớ ra, nàng rút tay lại hỏi nhỏ: - Anh về miền Trung à? - Ừ còn em? - Em cũng về Trung. Tôi muốn giải nỗi thắc mắc trong lòng: - Em vẫn ở miền Trung từ trước đến nay sao? - Dạ không, sau giải phóng em ở Sài Gòn, chỉ trở lại Trung mấy năm gần đây thôi. - À... Tàu khởi hành, tôi chào Thu rồi quay lại chỗ ngồi. Trong suốt cuộc hành trình lòng tôi cứ lâng lâng như uống phải một men say, như được trầm mình trong ánh sáng, một thứ ánh sáng mà tôi khát khao từ lâu lắm. Những kỷ niệm ấm ấp, vui tươi lần lượt hiện về như những đóa hoa xuân, khiến hồn tôi ngây ngất trong hạnh phúc quá bất ngờ này. Tàu qua mỗi trạm dừng là tôi tranh thủ đến nói chuyện cùng Thu. Lòng tôi nhói lên một nỗi đau khó tả: Trên nét mặt nàng hằn vết thời gian. Đôi mắt tuy còn long lanh sáng nhưng đâu rồi vẻ ngây thơ? thay vào đó là âu lo, buồn buồn trong mỗi ánh nhìn. Tôi quá xót lòng, khi biết nàng đã ly dị chồng hơn bốn năm qua, hiện đang sống với con gái út. Ôi! những giấc mộng của tôi, những giấc mộng nho nhỏ, xinh xinh tưởng rằng chỉ có trong mơ, nay đã biến thành hiện thực. Tôi sung sướng lắm, về đến nhà tôi ca hát rộn lên khiến vợ tôi phải ngạc nhiên: - Sao hôm nay anh yêu đời thế? Giật mình, tôi mỉm cười với vợ rồi lặng lẽ rút về phòng, nhìn lại bức tranh tĩnh vật: Hương thời gian. Nhưng ánh nhìn của tôi hôm nay khác rồi. Gặp lại Thu, những tưởng nỗi đau sẽ lắng dịu, hồn tôi thôi u hoài tưởng nhớ. Nhưng không ngờ những điều tôi tưởng ấy lại tăng lên mãnh liệt, càng khát khao nung nấu thêm bởi nàng đã chối từ tình tôi. Có lúc nàng dịu dàng nói: - Anh đang có những đứa con ngoan, người vợ hiền... Hãy cố gắng giữ lấy những gì mình đang có và... hãy quên em đi... Có khi nàng vừa nghiêm vừa đùa trong câu chuyện: - Em và anh cũng giống như Khánh- chồng em và cô nhân tình của anh ấy. Chúng ta không khéo cư xử với nhau chỉ làm tổn thương những đứa trẻ... em không đành. Chúng ta xem nhau như bạn đi...à... chúng ta có thể chuyển hướng. Rồi nàng cười nhìn tôi khe khẽ đọc mấy câu thơ: “Em chỉ là người em gái thôi Người em sầu mộng của muôn đời Tình em như tuyết giăng đầu núi Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời”. (L.T.L) Tôi đau lòng, nhưng không khỏi ngạc nhiên: - Em yêu thơ từ bao giờ vậy? Nàng lại cười, nhìn tôi với ánh mắt long lanh vời vợi, rồi lại ngước lên xa xăm theo áng mây trời... Nhiều đêm tôi không ngủ, càng cố quên “lại càng nhớ thêm”. Mỗi lần ngước nhìn bức tranh tĩnh vật: Hương thời gian- tôi lại chạnh lòng: - nay đã trở thành quá khứ đối với tôi, nhưng thuộc về tương lai của nàng. Tôi gỡ bức tranh xuống đem tặng nàng với mấy lời thiết tha: “Bức tranh tĩnh vật này cách đây hơn 20 năm trong một ngày xuất thần anh đã vẽ nó- với một tâm trạng đầy đau thương và tuyệt vọng. Anh đã nâng niu gìn giữ nó như báu vật cho đến nay. Anh tặng lại cho em- hy vọng em tiếp tục giữ gìn tình yêu của anh. Bức tranh gởi đi rồi, lòng tôi buồn biết mấy. Mối tình đầu với ai cũng đậm sâu, sao nàng hời hợt lắm vậy? nàng đã quên đi những kỷ niệm êm đềm, quên đi tình nồng thắm nàng đã trao cho tôi khi tuổi còn thanh xuân... Sao nàng tránh né gặp tôi? Sao lúc nào cũng khuyên tôi đừng quên bổn phận gia đình? Sao môi nàng cười mà mắt nàng rưng rưng thăm thẳm?... Mãi cho đến một hôm quá buồn, quá nhớ nàng tôi muốn đi dạo cho khuây, lúc đi ngang qua nhà văn hóa thông tin thấy có triển lãm tranh tôi liền vào xem. Và thật bất ngờ tại đây tôi đã gặp lại bức tranh của mình, đặc biệt bên góc tranh có gắn một chiếc nơ có dáng hình trái tim màu đỏ. Tôi trấn tĩnh, giả vờ hỏi người coi phòng triển lãm về bức tranh đó liền được nghe thuật lại đó là một trong những bức tranh được khen, được hỏi mua, và xin được gặp tác giả... Nhưng chủ của bức tranh đó là một người thiếu phụ trẻ (không rõ có phải là tác giả hay không?) nhất định không bán và đã dán nơ đỏ hình trái tim... Tôi bàng hoàng nhận biết tình yêu của nàng dành cho mình to lớn biết bao... và tôi chợt hiểu giờ đây tình yêu của chúng tôi dành cho nhau càng say đắm, càng thiết tha nồng nàn trong lặng lẽ như hương thời gian đã quấn quýt bên tôi trong suốt bao năm, bây giờ và mãi mãi... T.N.T.T (136/06-00) |
Tải mã QRCode
NGUYỄN HỮU THÔNGChao ơi? Xin chào Thầy, lâu ngày ghê.Tôi lúng túng một hồi mới nhận ra cô Sen. Trước mắt tôi bây giờ là một thiếu phụ với nụ cười tươi, rạng rỡ, nhưng vẫn không làm phai đi trên khuôn mặt gầy những vết hằn khốn khó.
ĐOÀN LÊ Tặng anh tôi Anh làm khoa học, tôi là diễn viên nhà hát. Riêng điều đó đã không hợp nhau. Nhưng tuổi trẻ không chịu nghĩ chín chắn, chúng tôi cứ yêu nhau bất chấp mọi giông bão ở cả hai phía gia đình.
NGUYỄN NGỌC LỢITối đó bản Phiệt có buổi liên hoan văn nghệ. Cơm chiều xong Tản đưa tôi vào đó chơi. Chúng tôi đang chuẩn bị đi thì một cô đang dẹp đám cuốc xẻng trong góc lán nói vọng ra. Anh Tản mà đưa anh ấy đi thì có mà... Anh ấy đẹp trai, gái bản theo hết, mất phần đấy... Tản cười, cho theo bớt chứ một mình tôi... mệt lắm.
LÊ NGUYÊN NGỮTrong bối cảnh rạt rào gió bấc và nắng trải vàng như mật bên ngoài báo hiệu Tết sắp vê, con ngựa cũng đứng dạng bốn chân như lắng nghe câu chuyện đầy hoài niệm mà Tư Gồng bắt đầu kể tôi nghe. Giản dị vì đây là câu chuyện về chính nó, Tư Gồng trước kia đã lần khân hẹn khất với tôi chờ đến Tết Con Ngựa. Mà lúc này thì đã là cuối tháng chạp rồi.
NGUYỄN QUANG LẬPChiều ba mươi tết, Quỳ đạp xích lô ra ga, tính đón khách chuyến tàu vét rồi gửi xích lô, bắt xe đò về quê. Vừa vào sân ga, tàu chưa về đã có khách gọi, may thế. Khách là một trung niên mặt rỗ, quần bò áo thun, kính đen gọng vàng.
ĐỖ KIM CUÔNG1... Cho đến lúc sực tỉnh, tôi mới nhận ra con đường ra cánh đồng tôm và những vườn dừa dưới chân núi Đồng Bò.
HỒNG NHU Xóm phố nằm trên một khu đất trước đây là một dẫy đồi nghe nói vốn là nơi mồ mả dày đặc, phần lớn là mồ vô chủ không biết từ bao đời nay; và cũng chẳng biết nơi nào có nơi nào không, bởi vì gần như tất cả mồ mả ở đó đều đã bị thời gian mưa gió bào mòn, chẳng còn nấm ngôi gì cả.
TRẦN HẠ THÁP1*Gã nằm xuống thoải mái. Cảm giác mát lạnh của ghế đá còn rịn hơi sương buổi sớm thu giúp gã chợp mắt ngay. Công viên thành phố không chỉ là bạn đời của những ai không nhà, các tên chích choác, kẻ sống ngoài vòng luật pháp... Đây cũng là nơi khá thân quen đối với người như gã. Ít ra đã hơn bốn tháng qua, từ khi gã rời một khách sạn năm sao trong thành phố.
THÁI KIM LAN"Làm sao biết từng nỗi đời riêngĐể yêu thương yêu cho nồng nàn” Trịnh Công Sơn
THÁI KIM LAN(tiếp theo)
NGUYỄN ĐẶNG MỪNGLGT: Cuộc sống cứ lao về phía trước, song những tâm hồn đa cảm thì lại hay ngoảnh nhìn về phía sau. Nước nhảy lên bờ là ánh nhìn về những ngày đã qua giữa một vùng quê bình yên của “đêm trước đổi mới”. Một bức tranh quê sống động, dung dị song ngổn ngang những cảnh đời, những cảnh tình mà chúng ta không được phép quên, bởi tư duy đổi mới của đất nước hãy còn tiếp diễn...
VĨNH NGUYÊNNgô - bạn tôi rủ tôi về làng Chẻ.Đến thành phố H.H., tôi mượn chiếc xe máy của một người quen. Tôi chở Ngô về làng An Hải Trung.
I. Nàng là nhân vật chính của vở kịch. Vở kịch đang diễn ra. Những chủ đề về tình yêu và hôn nhân, về ước mơ và sự thật, về hoài vọng và định mệnh, về sinh ly và tử biệt, v.v và v.v... đan chéo và quyện chặt vào nhau, tạo nên một trường nghĩa lơ mơ lan man đầy ảo dị mà qua đó, những nhân vật còn lại cứ tông tốc xoay xỏa quanh một nhân vật trung tâm đang chơi trò mê hoặc: nhân vật chính.
Đó là lần thứ mười Malio quay về góc phố ấy. Phố hẹp, những căn nhà mặt tiền nhấp nhô, khách sạn lấp lánh đèn chen cửa hàng tơ lụa, phòng tranh sơn mài phương Đông sát với những quán cà phê nho nhỏ bài trí kiểu Tây phương...
Năm 1966 thầy Phan Linh dạy Toán lớp 7A tại trường cấp II xã Phúc Giang. Đó là năm chiến tranh phá hoại rất ác liệt. Máy bay Mỹ cứ nhằm những tụ điểm đông người thả bom. Học sinh đến trường phải đội mũ rơm. Để tránh bom đạn trường Phúc Giang phải sơ tán về các làng, các xóm học tạm. Lớp 7A của Phan Linh sơ tán về làng Mai.
Gió từ đại dương lồng lộng thổi qua cửa sông, qua bãi cát trắng xoá rồi vỗ đập vào những tàu lá dài ngoằng của loài dừa nước, oà vỡ những thanh âm xạc xào.
Đúng sáu năm tôi không trở lại thành phố ấy dẫu rằng trong lòng tôi luôn luôn có một nỗi ham muốn trở lại, dù trong sáu năm tôi giấu kín trong lòng mình điều đó, chôn thật sâu trong suy nghĩ của mình, chẳng hề nói ra.
Chúng tôi tìm được địa điểm chốt quân khá lý tưởng. Đấy là chiếc hang đá ở lưng triền núi; hang cao rộng vừa lõm sâu vào vách núi. Cửa hang được chắn bởi tảng đá khổng lồ, rất kiên cố; dù máy bay Mỹ có phát hiện thấy cửa hang mà phóng rốc két, đánh bom tấn thì người ở trong hang vẫn chẳng hề gì! B52 có rải thảm bom thì lại càng không ăn thua.
Sau khi dọn bàn ghế xong, bà Lan chọn chiếc bàn kê sát ngoài cửa ngồi trang điểm. Từ ngày mở quán, bà đâm ra có thói quen ngồi trang điểm như thế, vừa tiện việc mời chào khách, vừa có đủ ánh sáng đầu ngày.
Chiếc váy của Tuyl Cleng va quệt không ngớt vào mấy vạt cỏ hai bên vệ đường. Những chỉ hoa văn ở riềm váy trông như hai cánh tay chạy như bay xuống đồi. Cuốn vở học trên tay cô nhịp nhàng lên xuống như chiếc quạt diễn viên múa. Mùa xuân sắp đến, trời đất như rộng rinh thêm. Những con chim trao trảo, chèo bẻo, ta li eo... cũng hót vang bên rặng rừng, vui lây theo nỗi vui của Tuyl Cleng.