Huế từng là trung tâm báo chí của miền Trung và cả nước

09:41 19/06/2015

LTS: Diễn ra từ 10/6 đến 22/6/2015, cuộc triển lãm “Thừa Thiên Huế: 90 năm báo chí yêu nước và cách mạng” do Hội Nhà báo tổ chức tại Huế, trưng bày các tư liệu báo chí hết sức quý giá do nhà báo, nhà nghiên cứu Dương Phước Thu sưu tập, đã thu hút đông đảo công chúng Huế. Nhiều tờ báo xuất bản cách đây hơn thế kỷ giờ đây công chúng được nhìn thấy để từ đó, hình dung về một thời kỳ Huế đã từng là trung tâm báo chí của cả nước. Nhân sự kiện hết sức đặc biệt này, Sông Hương đã có cuộc phỏng vấn ngắn với nhà nghiên cứu Dương Phước Thu.

Ảnh: hue.vnn.vn


SH:
Cuộc triển lãm này, công chúng rất ấn tượng với những tư liệu báo chí hết sức phong phú, đa dạng. Anh có thể cho bạn đọc biết vài nhận định về lịch sử báo chí Huế, qua đó nói thêm về vị trí của Huế trong lĩnh vực báo chí?

- NNC Dương Phước Thu: Do yêu cầu của nội dung triển lãm, ở đây chỉ mới giới thiệu đôi nét về báo chí yêu nước và cách mạng xuất bản ở Huế mà thôi.
 

Theo nhiều nguồn tư liệu hiện có, so với Hà Nội và Sài Gòn, hai trung tâm lớn nhất của cả nước thì báo chí xuất bản ở Huế có hơi muộn. Vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có việc các “ông chủ tư bản Pháp” đầu tư vào Huế công việc in ấn theo công nghệ tiên tiến lúc bấy giờ bị chậm, cộng với sự cản trở của thực dân Pháp và Nam triều dưới chính sách bảo hộ và chút quyền cai trị còn lại của vua quan nhà Nguyễn với cuộc đất Kinh đô Huế. Nhưng trong quá trình vận động đòi dân chủ của những người trí thức tiến bộ, cuối năm 1913, đầu năm 1914, tờ báo Le Rigolo (tạm dịch: Những kẻ ngộ nghĩnh) - tờ báo đầu tiên được in bằng đông sương đã ra đời ở Kinh đô Huế. Kế đó là hàng loạt tờ báo độc lập, khoa học, văn hóa đã xuất hiện. Năm 1927, tờ Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng vừa mới trình làng đã gây tiếng vang trên cả nước. Tiếng Dân là tờ báo khổ lớn in bằng tiếng Việt đầu tiên của miền Trung; đến khi ngừng xuất bản vào ngày 24/4/1943, Tiếng Dân đã ra được 1.766 số.

Khác với báo chí nói chung, báo chí yêu nước và cách mạng xuất hiện ở Huế khá sớm. Ngay từ những năm 1928, tờ Thanh Niên của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội do nhà báo Nguyễn Ái Quốc sáng lập đã có mặt ở Huế; tiếp đó là những tờ như Phụ Nữ Tùng San của bà Trần Thị Như Mân, Con Đường Đấu Tranh của Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên, Học Trò của thành phố Huế, Vô Sản, Chỉ Đạo, Tin Tranh Đấu của Xứ ủy Trung Kỳ... Tính đến năm 1932, Huế đã có trên 25 tờ báo chính trị, văn hóa, kinh tế, khoa học và tôn giáo, và với hàng chục tờ báo viết tay của những người hoạt động cộng sản ở Huế. Vai trò báo chí yêu nước và cách mạng lúc này ở Huế đã có một vị thế quan trọng không thể phủ nhận được. Báo chí đã tuyên truyền, hướng dẫn và hiệu triệu quần chúng đi theo cách mạng; nhiều cuộc bãi khóa, đình công chống thực dân Pháp và Nam triều; nhiều cuộc biểu tình ủng hộ Xô Viết Nghệ Tĩnh và các cuộc khởi nghĩa yêu nước khác liên tiếp nổ ra ở Huế dưới sự hiệu triệu của báo chí cách mạng.

Mấy năm gần đây, rất nhiều tư liệu quý từng được công bố về Huế và cả nước (đã bị thất lạc) lại được tìm thấy và dẫn ra từ những tờ báo như thế. Nhiều khoảng trống về tư liệu, nhất là giai đoạn cận hiện đại, nhờ có báo chí “kịp thời ghi lại” mới sáng tỏ nhiều vấn đề của lịch sử. Điều ấy chứng tỏ vai trò quan trọng của báo chí và Huế từng là trung tâm của báo chí, đã là trung tâm báo chí và sẽ còn là một trong mấy trung tâm báo chí của miền Trung và cả nước.

SH: Để có “kho” tư liệu về báo chí Huế từ xưa đến nay, anh đã phải rất công phu và kiên nhẫn. Việc đó diễn ra như thế nào?

- NNC Dương Phước Thu: Nói là “kho” thì to tát quá, chúng tôi mới chỉ sưu tập được khoảng gần 200 tờ báo nhỏ, xuất bản ở Huế, có một số tờ từ những năm 1926, nay được xem thuộc về loại quý hiếm. Nhưng để tìm ra được những tờ báo như thế quả là khó nhọc và gian nan về nhiều mặt, nhất là về kinh phí và thời gian. Vì có những tờ chỉ ra được vài kỳ, thậm chí chỉ được một đến hai kỳ với số lượng khiêm tốn thì bị chính quyền thực dân đình bản, hoặc tự nó đình bản do không bán được. Nhiều tờ ở vào lúc xuất bản xem ra rất bình thường, nhưng trải qua thời gian sau 90 đến 100 năm lại thành quý hiếm. Nó trở nên quý vì đấy là văn hóa và giá trị của lịch sử.

Có nhiều tờ báo do chính quyền thực dân Pháp cấp phép, những người hoạt động cộng sản tổ chức mua lại để tiếp tục ra báo nhưng với nội dung chỉ đạo theo đường lối của cách mạng, cũng còn lại rất ít.

Nhiều tờ báo cách mạng được in ở chiến khu kháng chiến rồi chuyển về đồng bằng, đưa vào nội thành phát hành nay cũng hơi khó tìm.

Ở Huế có một mảng khá lớn, số lượng có thể lên đến vài chục tờ, gọi là “báo chí phong trào” do các nhà giáo, công chức, sinh viên, học sinh, các đoàn thể yêu nước, các tổ chức tôn giáo và cả tư nhân chủ trương xuất bản. Để tìm được đủ số những tờ báo này là rất khó. Đấy là chưa kể những tờ báo do phía bên kia xuất bản, hay nói cách khác là những tờ báo “chống cộng”, mà theo danh mục thì ở Huế trước năm 1975 cũng có đến vài chục tờ.

Sau nhiều năm mày mò, chúng tôi mới gom được một số tờ báo như vậy. Vì không gian nên ở triển lãm này cũng chỉ mới trưng bày được một phần. Điều mà chúng tôi mong muốn nhất là làm sao đưa được những tờ báo của Huế về lại với Huế...

Tóm lại, sưu tầm tư liệu nói chung hay sưu tầm báo chí đều là một công tác khoa học, có những phương pháp của nó. Ngoài chuyện kinh phí, thời gian, cần phải có lòng say mê và sự dấn thân của mỗi người; đôi khi quên đi tất cả chỉ mê mẫn với hiện vật mà thôi. Vì lẽ sống của mỗi người tự lựa chọn, đối với tôi, đấy cũng là một cách học, một niềm vui riêng...

SH: Cảm ơn anh!  
(SDB17/06-15)






 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRẦN THỊ THANH…Núi Thuý Vân và chùa Thánh Duyên vì trước kia được xem là một trong những thắng cảnh của đất Thần Kinh nên các Chúa và các vua Nguyễn thường về đây thưởng ngoạn và làm thơ phú ca ngợi. Tuy nhiên, nổi tiếng hơn cả vẫn là những bài thơ được khắc trong hai tấm bia - một dựng trong chùa, một dựng dưới chân núi…

  • HỒ VĨNHĐồi Vọng Cảnh nằm cách thành phố Huế 7km về phía tây nam, vùng sơn phận này gồm nhiều núi đồi gối đầu lên nhau trong một khu vực rộng khoảng 2.400 ha diện tích đất tự nhiên. Về mặt địa hình của ngọn đồi, từ vị trí của tấm bia cổ Lý Khiêm Sơn (núi gối hậu của Khiêm Lăng - Tự Đức) kéo dài lên Vọng Cảnh là một dãy liên hoàn.

  • NGUYỄN QUANG HÀChùa Huyền Không Sơn Thượng tan trong non xanh và lá xanh. Dẫu đang còn tranh tre mộc mạc, nhưng thanh thoát, duyên dáng và thảnh thơi như lòng người ở đây. Đúng như nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh tâm sự: “Cảnh là tơ duyên của đời”. Đến Huyền Không Sơn Thượng cảm giác đầu tiên của tất cả du khách là thấy lòng mình ấm lại.

  • MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNHChùa Linh Mụ đẹp quá, nên thơ quá. Nói vậy cũng chưa đủ. Nó tịnh định, cổ kính, an nhiên, trầm mặc. Nói vậy cũng chưa đủ. Phải nói nó là một bài thơ Thiền lồng lộng giữa không gian mây nước, giữa khói sương, giữa mênh mang dâu bể và lòng người. Nó là bức tranh thủy mặc thuộc họa phái Sumiye, Nhật Bổn, mà, nét chấm phá tuy giản phác nhưng lung linh, ảo diệu; vượt thời gian và đi vào vĩnh cửu. Nó là bài kinh vô ngôn, tuy không nói một chữ, mà đã làm lắng đọng trăm ngàn xôn xao của cuộc thế; và, gợi nhắc vô biên cho con người hướng đến điều chân, lẽ thiện...

  • NGÔ MINHHuế trên 350 năm là thủ phủ Chúa Nguyễn Đằng Trong và Kinh Đô của Đại Việt đã tích tụ nhân tài, vật lực cả quốc gia tạo ra một hệ thống Di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc và nổi tiếng như nhã nhạc, lễ hội dân gian, văn hóa ẩm thực... Trong Di sản văn hóa ẩm thực Huế, Văn hóa ẩm thực Cung đình là bộ phận tinh hoa nhất, giá trị nhất!

  • HÀ MINH ĐỨC                   Ký Sau chặng đường dài, vượt qua nhiều đồi núi của vùng Quảng Bình, Quảng Trị, khoảng 3 giờ chiều ngày 25/9/2003, đoàn chúng tôi về đến thành phố Huế. Xe chạy dọc bờ sông Hương và rẽ vào khu vực trường Đại học Sư phạm Huế. Anh Hồ Thế Hà, Phó Chủ nhiệm khoa Văn; chị Trần Huyền Sâm, giảng viên bộ môn Lý luận văn học cùng với các em sinh viên ra đón chúng tôi. Nữ sinh mặc áo dài trắng và tặng các thầy những bó hoa đẹp.

  • BĂNG SƠN           Tuỳ bútDòng sông Hồng Hà Nội là nguồn sữa phù sa và là con đường cho tre nứa cùng lâm sản từ ngược về xuôi. Dòng sông Cấm Hải Phòng là sông cần lao lam lũ, hối hả nhịp tầu bè. Dòng sông Sài Gòn của thành phố Hồ Chí Minh là váng dầu ngũ sắc, là bóng cần cẩu nặng nề, là những chuyến vào ra tấp nập... Có lẽ chỉ có một dòng sông thơ và mộng, sông nghệ thuật và thi ca, sông cho thuyền bềnh bồng dào dạt, sông của trăng và gió, của hương thơm loài cỏ thạch xương bồ làm mê mệt khách trăm phương, đó là sông Hương xứ Huế, là dòng Hương Giang đất cố đô mấy trăm năm, nhưng tuổi sông thì không ai đếm được.

  • PHAN THUẬN THẢO                Chiều chiều trước bến Vân Lâu                Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm,                Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông.                Thuyền ai thấp thoáng bên sông,                Đưa câu Mái đẩy chạnh lòng nước non.                                              (Ưng Bình Thúc Giạ)

  • LÃNG HIỂN XUÂNChẳng hiểu sao, từ thuở còn thơ ấu, tôi đã có một cảm nhận thật mơ hồ nhưng cũng thật xác tín rằng: Chùa chính là nơi trú ngụ của những ông Bụt hay bà Tiên và khi nào gặp khó khăn hay đau khổ ta cứ đến đó thì thế nào cũng sẽ được giải toả hay cứu giúp!

  • BÙI MINH ĐỨCNói đến trang phục của các Cụ chúng ta ngày xưa là phải nhắc đến cái búi tó và cái khăn vấn bất di bất dịch trên đầu các Cụ. Các Cụ thường để tóc dài và vấn tóc thành một lọn nhỏ sau ót trông như cái củ kiệu nên đã được dân chúng đương thời gọi là “búi tó củ kiệu”. Ngoài cái áo lương dài, cái dù đen và đôi guốc gỗ, mỗi khi ra đường là các Cụ lại bối tóc hình củ kiệu và vấn dải khăn quanh trên đầu, một trang phục mà các cụ cho là đứng đắn nghiêm trang của một người đàn ông biết tôn trọng lễ nghĩa. Trang phục đó là hình ảnh đặc trưng của người đàn ông xứ ta mãi cho đến đầu thế kỷ thứ 20 mới bắt đầu có nhiều biến cải sâu đậm

  • MAO THUỶ THANH (*)Tiếng hát và du thuyền trên sông Hương là nét đẹp kỳ thú của xứ Huế. Trên sông Hương có hai chiếc cầu bắc ngang: cầu Phú Xuân và cầu Trường Tiền nhưng trước đây người dân Huế thường có thói quen đi đò ngang. Bến đò ở dưới gốc cây bồ đề cổ thụ, nằm đối diện với trường Đại học Sư phạm Huế. Một hôm, tôi và nữ giáo sư Trung Quốc thử ngồi đò sang ngang một chuyến. Trên đò đã có mấy người; thấy chúng tôi bước xuống cô lái đò áp đò sát bến, mời chúng tôi lên đò.

  • VÕ NGỌC LANBuổi chiều, ngồi trên bến đò Quảng Lợi chờ đò qua phá Tam Giang, tôi nghe trong hư vô chiều bao lời ru của gió. Lâu lắm rồi, tôi mới lại được chờ đò. Khác chăng, trong cảm nhận tôi lại thấy bờ cát bên kia phá giờ như có vẻ gần hơn, rõ ràng hơn.

  • HỒNG NHUTôi vẫn trộm nghĩ rằng: Tạo hóa sinh ra mọi thứ: đất, nước, cây cỏ chim muông... và con người. Con người có sau tất cả những thứ trên. Vì vậy cỏ cây, đất nước... là tiền bối của con người. Con người ngoài thờ kính tổ tiên ông bà cha mẹ, những anh hùng liệt sĩ đã mất... còn thờ kính Thần Đất, Thần Nước, Thần Đá, Thần Cây...là phải đạo làm người lắm, là không có gì mê tín cả, cho dù là con người hiện đại, con người theo chủ nghĩa vô thần đi nữa! Chừng nào trên trái đất còn con người, chừng đó còn có các vị thần. Các vị vô hình nhưng không vô ảnh và cái chắc là không vô tâm. Vì sao vậy? Vì các vị sống trong tâm linh của con người, mà con người thì rõ ràng không ai lại tự nhận mình là vô tâm cả.

  • MẠNH HÀTôi không sinh ra ở Huế nhưng đã có đôi lần đến Huế, khác với Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh, Huế có nét trầm lắng, nhẹ nhàng, mỗi lần khi đến Huế tôi thường đi dạo trên cầu Trường Tiền, ngắm dòng Hương Giang về đêm, nghe tiếng ca Huế văng vẳng trên những chiếc thuyền rồng du lịch thật ấn tượng. Cho đến nay đã có biết bao bài thơ, bài hát viết về Huế thật lạ kỳ càng nghe càng ngấm và càng say: Huế đẹp, Huế thơ luôn mời gọi du khách.

  • VÕ NGỌC LANNgười ta thường nói nhiều về phố cổ Hội An, ít ai biết rằng ở Huế cũng có một khu phố cổ, ngày xưa thương là một thương cảng sầm uất của kinh kỳ. Đó là phố cổ Bao Vinh. Khu phố này cách kinh thành Huế chừng vài ba cây số, nằm bên con sông chảy ra biển Thuận An. Đây là nơi ghe, thuyền trong Nam, ngoài Bắc thường tụ hội lại, từ cửa Thuận An lên, chở theo đủ thứ hàng hoá biến Bao Vinh thành một thương cảng sầm uất vì bạn hàng khắp các chợ trong tỉnh Thừa Thiên đều tập trung về đây mua bán rộn ràng.

  • NGUYỄN XUÂN HOATrước khi quần thể di tích cố đô Huế được công nhận là di sản văn hoá thế giới, thành phố Huế đã được nhiều người nhìn nhận là một mẫu mực về kiến trúc cảnh quan của Việt Nam, và cao hơn nữa - là “một kiệt tác bài thơ kiến trúc đô thị” như nhận định của ông Amadou Mahtar  M”Bow - nguyên Tổng Giám đốc UNESCO trong lời kêu gọi tháng 11-1981.

  • DƯƠNG PHƯỚC THU                       Bút kýXứ Thuận Hóa nhìn xa ngoài hai ngàn năm trước, khi người Việt cổ từ đất Tổ Phong Châu tiến xuống phía Nam, hay cận lại gần hơn bảy trăm năm kể từ ngày vua Trần Anh Tông cho em gái là Huyền Trân Công chúa sang xứ Chàm làm dâu; cái buổi đầu ở cương vực Ô Châu ác địa này, người Việt dốc sức tận lực khai sông mở núi, đào giếng cày ruộng, trồng lúa tạo vườn, dựng nhà xây đình, cắm cây nêu trấn trị hung khí rồi thành lập làng xã.

  • TRƯƠNG THỊ CÚCSông Hương, một dòng sông đẹp, sôi nổi với những ghềnh thác đầu nguồn, mềm mại quàng lấy thành phố như một dải lụa, hài hoà tuyệt diệu với thiên nhiên xinh đẹp và hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm, đền chùa; với hàng trăm điệu hò, điệu lý; với những ngày hội vật, hội đua trải, đua ghe; với mảnh vườn và con người xứ Huế, là nguồn cảm hứng vô tận của người nghệ sĩ, thu hút sự say mê của nhiều khách phương xa. Không những là một dòng sông lịch sử, sông Hương còn là không gian văn hoá làm nẩy sinh những loại hình nghệ thuật, những hội hè đình đám, là không gian của thi ca, nhạc hoạ, là dòng chảy để văn hoá Huế luân lưu không ngừng.

  • TÔN NỮ  KHÁNH TRANG              Khi bàn về văn hoá ẩm thực, người ta thường chú trọng đến ẩm thực cung đình, hay dân gian, và chủ yếu đề cập đến sinh hoạt, vai trò, địa vị xã hội... hơn là nghĩ đến hệ ẩm thực liên quan đến đời sống lễ nghi.

  • TRƯƠNG THỊ  CÚC• Bắt nguồn từ những khe suối róc rách ở vùng núi đại ngàn A Lưới - Nam Đông giữa Trường Sơn hùng vỹ, ba nhánh sông Tả Trạch, Hữu Trạch và nguồn Bồ đã lần lượt hợp lưu tạo thành hệ thống sông Hương, chảy miên man từ vùng núi trung bình ở phía đông nam A Lưới, nam Nam Đông, băng qua những dãy núi đồi chập chùng ở Hương Thuỷ, Hương Trà, Phong Điền rồi xuôi về đồng bằng duyên hải, chảy vào phá Tam Giang để đổ nước ra biển Đông.