Huế thơ và thơ Huế

10:51 12/08/2009
NGUYỄN KHẮC THẠCHNếu gọi Huế Thơ với tư cách đối tượng thẩm mĩ thì chủ thể thẩm mĩ của nó trước hết và sau cùng vẫn là sự hoá sinh Thơ Huế. Đương nhiên, không hẳn chỉ có Thơ Huế mới là chủ thể thẩm mĩ của Huế Thơ và cũng đương nhiên không hẳn chỉ có Huế Thơ mới là đối tượng thẩm mĩ của Thơ Huế. Huế Thơ và Thơ Huế vẫn là hai phạm trù độc lập trong chừng mực nào đó và có khi cả hai đều trở thành đối tượng thẩm mĩ của một đối tượng khác.

Nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch - Ảnh: Lê Vĩnh Thái

Huế Thơ là một “không gian quí phái” ăm ắp những danh lam thắng cảnh, những đền đài lăng tẩm và cả những mong manh sương khói hoà quyện với nhau thành một kiệt tác “siêu kiến trúc” về đô thị. Nó là di sản văn hoá “đồng bộ” trên ba mặt vật chất, phi vật chất và cảnh quan môi trường. Huế Thơ theo quan niệm mới hơn, mộc mạc hơn của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng là “Thiên nhiên đẹp, xã hội đẹp và con người đẹp”.

Huế Thơ luôn luôn là nguồn thi hứng vô biên cho những tâm hồn lãng mạn đi tìm giới hạn của mình. Nó cũng là sự thách đố, sự giễu cợt với mọi ngộ nhận và dễ dãi về thi ca. Đã có không ít những cảm xúc thơ “tươi sống” và nhạt nhẽo được tác giả của nó vẽ vời thêm trên màu sắc sông Hương núi Ngự. Thật ra, đấy chỉ là những cảm xúc phiến diện trên bề mặt của giác quan mà giác quan thì bao giờ cũng dừng lại ở “những điều trông thấy” làm sao có thể thấu đoạn “mà đau đớn lòng” được? Nếu chỉ làm công việc miêu tả Huế đẹp như thế này, Huế duyên dáng như thế kia thì thơ ca sẽ bị lép vế, thậm chí bị thừa trước nhiếp ảnh, chưa nói là hội họa. Mặt khác, thơ kiểu ấy cũng chẳng có giá trị gì vì thực chất nó chỉ là một “phiên bản” máy móc, vô hồn của bức tranh Huế Thơ. Huế Thơ sẽ chối bỏ những gì giống nó; nó chỉ làm chất xúc tác, làm cái “vận vào” cho từng tâm trạng cá biệt của thi nhân. Bởi thế mà mặc dù cùng thụ cảm một dòng sông xứ Huế những mỗi thực tại tâm linh đều phóng bế một mặc khải cơ duyên của mình. Bằng khí phách ngạo nghễ, Cao Bá Quát đã nhìn sông Hương như một lưỡi kiếm dựng giữa trời xanh (Trường Giang như kiếm lập thanh thiên). Còn với nỗi niềm đau đáu trước cuộc đời, thi hào Nguyễn Du lại thấy sông Hương là mảnh trăng nung nỗi buồn kim cổ (Hương Giang nhất phiến nguyệt, kim cổ hứa đa sầu).

Ngay ở các nhà thơ đương đại cũng vậy, với sông Hương, họ đều tìm ra góc độ riêng để chiếu dọi Anima của mình vào đó. Nhà thơ Thu Bồn mãi dây dưa duyên nợ trong bài Tạm biệt Huế, với “con sông dùng dằng con sông không chảy, sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”. Như mê hoặc với lần đầu tới Huế, thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo đã lãng đãng lội ngược dòng “ham chơi” của mình để đến với dòng sông tròng trành ngất ngưởng “sông Hương hoá rựơu ta đến uống, ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say”. Những câu thơ như thế từ Huế Thơ thật quá hiếm hoi. Có nhiều người viết hàng trăm bài thơ và in thành nhiều tập riêng nhưng chẳng hề thấy bóng dáng Huế đâu trong thơ của họ. Thật ngây thơ và ngớ ngẩn khi cho rằng, cứ lắp ghép danh từ Huế với những tính từ bổ nghĩa nào đó hoặc liệt kê các địa danh, địa vật của nó vào tác phẩm sẽ được cái gọi là “rất Huế”. Có Huế hay không là ở cái hồn, cái giọng của thơ chứ đâu phải trong mê lộ của xác chữ. Điều này, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lấy làm tâm đắc lắm. Trong các ca khúc của anh không hề có một từ Huế nào cả nhưng vừa hát lên một câu đã cảm thấy lòng thòng giọt Huế “mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ...”. Có lẽ từ “đầu vào” Huế Thơ đến “đầu ra” Thơ Huế cho đến nay, sự tương tác màu nhiệm nhất, mẫu mực nhất trong quan hệ chủ thể - khách thể vẫn là bài Đây thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử.

Thơ Huế xuất hiện xưa hơn nhưng nếu bắt nguồn từ Huế Thơ thì cột mốc của nó hẳn cắm vào thời thịnh của triều Nguyễn. Khi Huế trở thành kinh đô thống nhất đầu tiên trong lịch sử của người Việt thì việc nó thu hút mọi tinh hoa, trí tuệ của cả nước vào mình để làm nên những công trình hoa lệ là điều tất yếu. Mặc dù bản thân sông Hương, núi Ngự đã là sơn thuỷ hữu tình nhưng nếu không có sự cộng hưởng sáng tạo của con người thì nó cũng chỉ mang vẻ đẹp hoang dã mà bất cứ nơi nào trong thiên nhiên cũng đều có thể có. Con người và thiên nhiên đã làm nên một di sản Huế Thơ để rồi Huế Thơ làm nên một phong cách Thơ Huế. Thơ Huế trong dòng cổ điển hoành tráng nhất vẫn thuộc về nhóm Hoàng tộc kể từ vua Minh Mạng đến các con cháu của ông như Thiệu Trị, Tự Đức, Miên Trinh, Miên Thẩm, Ưng Bình Thúc Giạ Thị... Các tác giả đương thời viết không nhiều lắm nhưng mỗi người một vẻ đã làm cho diện mạo Huế Thơ ngày càng phong phú về nội dung, đa dạng về thể loại. Có những giọng thơ rất Huế và rất độc đáo tiêu biểu cho sự giao thoa giữa dòng dân gian và dòng bác học như thi sĩ Nguyễn Khoa Vy là một điển hình.

Qua trào lưu thơ mới mà nòng cốt của nó là dòng lãng mạn thì Thơ Huế đã mở thêm một không gian cảm xúc và gam màu ngôn ngữ. Hầu như các nhà thơ lớn của cả nước đều tới Huế, ở Huế và viết về Huế. Trong tuyển tập Bài thơ thôn Vỹ do Tạp chí Sông Hương ấn hành năm 1987 đã tuyển chọn khá đầy đủ những gương mặt tác giả và tác phẩm điển hình của một giai đoạn “khoả thân” Thơ Huế. Dòng thơ Cách mạng và yêu nước của Huế cũng để lại một vệt khá đậm nhưng nó đậm về tên tuổi tác giả hơn là tác phẩm của họ. Điều này cũng dễ hiểu vì có những người, đối với họ, sự nghiệp cách mạng mới là mục đích chứ không phải thi ca. Trước hết phải kể đến Ông Già Bến Ngự (tức cụ Phan Bội Châu) rồi tiếp bước vào cuộc kháng Pháp hào hùng đã nổi lên các nhà thơ Tố Hữu,Thanh Tịnh, Phùng Quán, Hải Bằng... Qua thời chống Mỹ, cùng với phong trào sinh viên đô thị, đội ngũ cầm bút - cầm súng của Huế càng rậm rạp và rầm rộ hơn. Đó là Thanh Hải, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Ngô Kha, Trần Vàng Sao, Thái Ngọc San, Võ Quê... Sau ngày giải phóng, đội ngũ thơ Huế vẫn được bảo toàn và bổ sung thêm những cây bút từ nhiều nguồn khác đến. Các nhà thơ danh tiếng Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Trọng Tạo, Ngô Minh, Vĩnh Nguyên... dù từ đâu tới nhưng họ cũng đều hoà nhập vào nhịp điệu của cộng đồng Thơ Huế. Nhà văn Hồng Nhu sau 30 năm đi kháng chiến đã kịp trở mình với “Ngẫu hứng về chiều” để ngồi lên chiếc chiếu thơ của cố hương. Những cây bút trẻ từ sinh viên đi ra bước đầu có giọng riêng, có triển vọng đã trồi lên như Hồng Hạnh, Phạm Nguyên Tường, Văn Cầm Hải, Hải Trung...

Ngỡ đứng riêng một cõi nhưng phái thơ Thiền của Minh Đức Triều Tâm Ảnh cũng đã “ngộ” màu thế tục và chính nó cũng nằm trong hợp âm chủ của giọng minor Thơ Huế. Thơ Huế không gì khác hơn là cái hồn của Huế Thơ. Huế Thơ hay Huế Đẹp cũng vậy. Cái Đẹp nào cũng mong manh dễ vỡ trước vô thường của cuộc sống nên nó hàm chứa một nỗi buồn nhân bản và triết lí nhân sinh. Nỗi buồn được coi như một đặc trưng của thơ và Thơ Huế càng lung linh cái gam màu ấy. Huế trong mắt Bích Khê đã không buồn nhưng sao thơ vẫn lắt lay, man mác:

            Vỹ Dạ thôn, Vỹ Dạ thôn
            Biếc che cần trúc không buồn mà say

Phải chăng giữa buồn say có quan hệ “họ hàng” hoặc ít nhất cũng mang một hệ lụy nào đấy? Người buồn thường tìm đến cái say và người say thường không nhận mình say mà lại nói mình buồn. Thơ Huế đã từng như thế. Thơ Huế còn là sự thầm kín, thanh tao và trầm lắng như những ngôi nhà vườn cổ kính giữa cố đô. Ở đó, những hồn thơ mang tâm thức tôn giáo mà dáng dấp Thiền vẫn trùm lên tất cả.

            Em mềm như đoá tường vi
            Dưới trăng nghiêng xuống thầm thì lời tiên
            Tôi mời em hái quả Thiền
            Đời cây cũng lụy sang miền khổ đau
            Chạm vào Cổ tích trầu cau
            Cuộc tình nào chẳng nhuốm màu của đêm...

Đây là bài thơ Đêm của Tôn Nữ Như Ngân, một cây bút nghiệp dư mà thơ như là nghiệp dĩ. Người làm thơ nghiệp dư ở Huế thì nhiều vô kể. Nói theo lối thậm xưng của Phùng Quán là, xứ Huế cứ 10 người thì có 11 người làm thơ vì trong đó thế nào cũng có người làm bằng hai người khác. Lại có những hiện tượng khó cắt nghĩa, không hiểu sao, một số cán bộ khi đương chức rất dị ứng với các nhà thơ nhưng đến lúc hưu trí thì chính họ lại làm thơ và đi tìm sự đồng điệu. Vậy thơ là cái gì? Mọi định nghĩa về thơ thường chỉ đúng với trường hợp cụ thể nào đó mà tác giả của nó nêu ra như một kinh nghiệm nhưng sự sáng tạo thì kinh nghiệm sẽ chết ngay sau đó, khi đã hoàn thành một quá trình. Ở đây, có lẽ thơ ứng với khái niệm trực cảm của nhà thơ Trần Mạnh Hảo. Theo anh, thơ là chất trẻ thơ của nhân loại còn sót lại trong mỗi con người. Bởi vậy, Thơ vẫn ẩn náu và tồn tại trong mỗi linh hồn như một tôn giáo cá thể.

Cho đến giờ, quan niệm về thơ Huế vẫn còn phải chẻ đôi theo lăng kính “nhị nguyên luận”. Thứ nhất, thơ Huế chỉ chấp nhận những thi phẩm do các tác giả gốc Huế viết ra, dù họ viết gì. Quan niệm này sẽ làm cho thơ Huế nghèo nàn và trở thành tỉnh lẻ. Nếu vậy thì nhìn lại, Huế chỉ còn chóc ngóc vài nhà thơ đại diện cho nền thi ca hiện đại của xứ sở mình. Thứ hai, gồm hết thảy những bài thơ viết về Huế, dù của ai và ở đâu, nghĩa là chỉ cần đặt nó trong tương quan với Huế Thơ. Quan niệm này lại thiếu công bằng với những tác giả bản quán vì thơ họ dù không trực tiếp viết về quê hương nhưng nó vẫn thấm đẫm tâm hồn xứ Huế. Cả hai quan niệm này đều khiếm khuyết, đều không thể đứng lẻ loi mà phải bổ sung cho nhau để làm cho Thơ Huế lại tròn đầy như những gì vốn có của nó. Hiểu rộng hơn, Thơ Huế không chỉ riêng thi ca mà còn bao hàm cả những gì mang trong nó chất thơ.

Đã có một Huế Thơ lừng lững ngang tầm quốc tế thì tin rằng, từ quan hệ biện chứng giữa chúng, giữa ý thức và tồn tại, Thơ Huế cũng sẽ vươn tới những đỉnh cao tương ứng.

N.K.T
(184/06-04)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP...Nguyễn Huy Thiệp không phải là người duy nhất đổi mới phương thức trần thuật. Trước ông đã có Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng... tích cực mở đường. Nhưng phải đến Nguyễn Huy Thiệp thì sự khai phóng về tư tưởng nghệ thuật mới được thể hiện một cách đậm nét. Tất cả được Nguyễn Huy Thiệp kiến tạo qua một trò chơi đầy tính bất ngờ. Giống như người nghệ sĩ ba lê tài năng, Nguyễn Huy Thiệp trình diễn một thế giới đa sắc trên đầu những đầu mũi ngón chân. Những ngón chân ấy bám trụ vào hiện thực một cách tinh diệu, xoay chuyển một cách nhịp nhàng với những vòng quay, những vũ điệu ngôn từ...

  • PHAN NGỌC THUTrong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX, Xuân Diệu (1916-1985) là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất, đồng thời cũng là nhà phê bình văn học kiệt xuất. Từ những bài tranh luận văn học sôi nổi thời Thơ Mới (1932-1945) đến Tiếng thơ (1951), Những bước đường tư tưởng của tôi (1958); từ Phê bình giới thiệu thơ (1960) đến Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961), Dao có mài mới sắc (1963), Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy (1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập I (1981), tập II (1982) và Công việc làm thơ (1984)... "chỉ tính riêng các tác phẩm lý luận phê bình, đã có thể gọi Xuân Diệu là một đại gia"(1)

  • BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng đáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v..v...

  • HÀ KHÁNH CHINgày 20 - 3 - 2003, siêu cường lớn nhất mọi thời đại là đế quốc Hoa Kỳ đã mở đầu cuộc chiến tranh kỳ quái nhất trong lịch sử bằng cách tấn công Iraq sau khi đã bắt quốc gia này phải tự phá huỷ vũ khí tự vệ của chính họ. Đó là bài học chưa hề thấy về chút hy vọng cuối cùng mà lương tri nhân loại có thể đòi hỏi. Để có thể hiểu rõ hơn những gì đang xảy ra hôm nay - có lẽ cũng rất cần ôn lại một trong những vấn đề lớn nhất mà loài người có thể nghĩ tới: cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc cách đây gần 30 năm.

  • HOÀNG ĐĂNG KHOA Văn học Việt từ sau 1975, nhất là từ thời kỳ đổi mới, là một quá trình văn học rất phong phú, đa dạng và không ít phức tạp, lại còn đang tiếp diễn. Cuốn sách Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy ra đời đáp ứng nhu cầu mang tính thời sự: nhu cầu nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện về tiến trình văn học ba mươi năm qua, chuẩn bị cho sự ra đời của những công trình văn học sử và những chuyên khảo về giai đoạn văn học này.

  • NGUYỄN QUANG HÀTrong đời có những bài thơ người ta quên, mà chỉ nhớ một câu nằm lòng. Bởi đó là những câu thơ thực sự, những câu thơ thi sĩ. Từ xưa đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa về thơ: Thơ là tiếng hát của trái tim; Thơ là hạt muối kết tinh của tình cảm; Thơ là phút giây rung động của tâm hồn... Nói chung, những định nghĩa ấy cho ta hiểu rằng ở đâu có được sự rung động của trái tim thì ở đó có thơ.

  • ĐỖ LAI THUÝPhê bình văn học Việt Nam, sau sự khởi nguồn của Thiếu Sơn với Phê bình và Cảo luận (1933) chia thành hai ngả. Một xuất phát từ Phê bình để trở thành lối phê bình chủ quan ấn tượng với Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam (1942). Lối kia bắt nguồn từ Cảo luận tạo nên phê bình khách quan khoa học với Vũ Ngọc Phan của Nhà văn hiện đại (1942), Trần Thanh Mai của Hàn Mặc Tử (1941), Trương Tửu của Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942), Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (1945). Sự phân chia này, dĩ nhiên, không phải là hành chính, mà là khoa học, tức sự phân giới dựa trên những yếu tố chủ đạo, nên không phải là không thể vượt biên. Bởi, mọi biên giới đều mơ hồ hơn ta tưởng, nhất là ở khoa học văn chương.

  • LTS: Marcel Reich-Ranicki, sinh năm 1920, người ở Đức được mệnh danh là "Giáo hoàng văn học", là nhà phê bình văn học đương đại quan trọng nhất của CHLB Đức. "Một lời biện hộ cho thơ" là bài thuyết trình đọc vào ngày 30.11.1980 nhân dịp ra mắt Tập 5 của "Tuyển thơ Frankfurt" trong khuôn khổ chuyên mục thơ của nhật báo "Frankfurter Allgemeine Zeitung" (FAZ) mà tác giả là chủ biên phần văn học từ 1973 đến 1988.Sông Hương xin trân trọng giới thiệu bài "Một lời biện hộ cho thơ" của ông sau đây do dịch giả Trương Hồng Quang thực hiện.

  • TRẦN HUYỀN SÂMGeorge Sand (1804-1876) là một gương mặt độc đáo trên văn đàn Pháp thế kỷ XIX. Cùng thời với những cây bút nổi tiếng như: A.Lamartine, V.Hugo, A.Vigny, A.Musset... nữ sĩ vẫn tạo cho mình một tầm vóc riêng không chìm khuất. George Sand bước vào thế giới nghệ thuật bằng một thái độ tự tin và một khát vọng sáng tạo mãnh liệt. Với hơn hai mươi cuốn tiểu thuyết đồ sộ, G.Sand đã trở thành một tên tuổi lừng danh ngay từ đương thời. Dĩ nhiên, bà lừng danh còn bởi nhiều mối tình bất tử, trong đó có nhà thơ Pháp nổi tiếng A.Musset và nhạc sĩ thiên tài Chopin người Ba Lan.

  • PHẠM QUANG TRUNGCó lần, dăm ba người có thiên hướng lý luận chúng tôi gặp nhau, một câu hỏi có thể nói là quan thiết được nêu ra: trong quan niệm văn chương, e ngại nhất là thiên hướng nào? Rất mừng là ý kiến khá thống nhất, tuy phải trải qua tranh biện, không đến nỗi quyết liệt, cũng không phải hoàn toàn xuôi chiều hẳn. Có lẽ thế mới hay!

  • NGUYỄN HỮU HỒNG MINH1- "Thơ trẻ- Những giá trị mới" là một "mưu mô" của nhà phê bình trẻ Nguyễn Thanh Sơn và nhóm "Văn nghệ mới" (bao gồm Nguyễn Hữu Hồng Minh, Văn Cầm Hải, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Vĩnh Tiến, Dạ Thảo Phương... và một số người khác) dự tính tập hợp, tuyển chọn 1 tuyển thơ của 10 (hay nhiều hơn) tác giả trẻ từ 30 tuổi trở xuống, xuất hiện trong vòng 3 năm cuối cùng của thế kỉ để trình làng giới thiệu chân dung thế hệ mình.

  • NGUYỄN HOÀN Trịnh Công Sơn là một hiện tượng độc đáo của âm nhạc và văn hoá Việt Nam được ái mộ không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài. Vì thế mà từ khi ông qua đời đến nay đã có trên chục đầu sách viết về ông, một số lượng hiếm thấy đối với các nhạc sĩ khác. Gần đây có cuốn “Trịnh Công Sơn vết chân dã tràng” của Ban Mai do Nhà xuất bản Lao Động, Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, Hà Nội, 2008. Với niềm ngưỡng mộ tài hoa và nhân cách nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tôi đã hăm hở tìm đọc cuốn sách mới này nhưng tiếc thay, chưa kịp trọn nỗi mừng đã phải thất vọng về những trang viết đánh giá đầy sai lệch và thiếu sót, phiến diện về Trịnh Công Sơn và chiến tranh Việt Nam.

  • HOÀNG QUỐC HẢIThơ Lý - Trần có mạch nguồn từ Đinh - Lê, nếu không muốn nói trước nữa. Rất tiếc, nguồn tư liệu còn lại cho chúng ta khảo cứu quá nghèo nàn.Nghèo nàn, nhưng cũng đủ tạm cho ta soi chiếu lại tư tưởng của tổ tiên ta từ cả ngàn năm trước.

  • NGUYỄN VĂN THUẤN          (Nhóm nghiên cứu - lý luận phê bình trẻ)Thời gian gần đây, tại Việt , các tác phẩm của nhà văn Nhật Bản H.Murakami thường xuyên được dịch và xuất bản. Là một giọng nói hấp dẫn trên văn đàn thế giới, sáng tác của ông thu hút đông đảo công chúng và dành được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình. Một trong những tiểu thuyết làm nên danh tiếng của ông là Rừng Nauy.

  • PHAN TÂMQuê hương Phan Đăng Lưu, xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, cách Kim Liên, Nam Đàn, quê hương Hồ Chí Minh khoảng 60 km.Hai nhân cách lớn của đất Nghệ An. Không hẹn mà gặp, xuất phát từ lương tri dân tộc, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đến chủ nghĩa Mac - Lê nin, thành hai chiến sĩ cộng sản Việt Nam nổi tiếng.

  • THÁI DOÃN HIỂUNhà thơ Võ Văn Trực thuộc loại tài thì vừa phải nhưng tình thì rất lớn. Chính cái chân tình đó đã giúp anh bù đắp được vào năng lực còn hạn chế và mong manh của mình, vươn lên đạt được những thành tựu mới đóng góp cho kho tàng thi ca hiện đại của dân tộc 4 bài thơ xuất sắc: “Chị, Vĩnh viễn từ nay, Thu về một nửa và Nghĩa địa làng, người ta sẽ còn đọc mãi.

  • HÀ  ÁNH MINHBài thứ nhất, Một cuộc đời "Ngậm ngải tìm trầm" của Vương Trí Nhàn, đăng trên tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam số Xuân Canh Thìn năm 2000, và bài thứ hai "Sư phụ Thanh Tịnh làm báo tết" của Ngô Vĩnh Bình, đăng trên báo Văn Nghệ, số Tết cũng năm Canh Thìn 2000. Bài đầu tiên viết dài, giọng văn trau chuốt điệu nghệ. Bài sau ngắn, mộc mạc.

  • LÊ THỊ HƯỜNGDẫu mượn hình thức của thể kí, dẫu tìm đến vần điệu của thơ, điểm nhất quán trong sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường là một cái tôi say đắm thiên nhiên. Đằng sau những tài hoa câu chữ là một cái tôi đa cảm - quá chừng là đa cảm - luôn dành cho cỏ dại những tình cảm lớn lao.  

  • BỬU NAM1. Nếu văn xuôi hư cấu (đặc biệt là tiểu thuyết) chiếm vị trí hàng đầu trong bức tranh thể loại của văn học Mỹ - La tinh nửa sau thế kỷ XX, thì thơ ca của lục địa này ở cùng thời gian cũng phát triển phong phú và rực rỡ không kém, nó tiếp tục đà cách tân và những tìm tòi đổi mới của những nhà thơ lớn ở những năm 30 - 40.

  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP1. Khi chạm vào cơn lốc và những điệu rock thơ mang tên Vi Thuỳ Linh, bất chợt tôi nhớ đến câu thơ dịu dàng và sâu thẳm của Paul Eluard: Trái đất màu xanh như một quả cam. Với P. Eluard, tình yêu là một thế giới tinh khiết, rạng rỡ và ngọt ngào: Đến mức tưởng em khỏa thân trước mặt. Còn Vi Thuỳ Linh, nếu ai hỏi thế giới màu gì, tôi đồ rằng nàng Vi sẽ trả lời tắp lự: Màu yêu.