Nhà văn Hồng Nhu
Đó là thời điểm 1987, lúc ấy nhà văn đã 55 tuổi và tóc đã bạc trắng vì bao đêm thao thức. Tuổi 55 là cái tuổi “biết mệnh trời” rồi. Với nhiều người, đến tuổi đó mọi sự gần như đã được an bài, rất ngại xáo trộn, biến động - đặc biệt là những người đã có gia đình và công việc ổn định như anh. Dứt áo ra đi đâu phải là chuyện dễ dàng. Nhưng rồi tình cảm đối với quê hương cứ thôi thúc anh. Và cuối cùng anh đã quyết tâm trở về dù đã lường hết mọi khó khăn đang chờ phía trước. Nếu không có cái quyết định táo bạo đó, anh vẫn là nhà văn của những thiên truyện ngắn: Thuyền đi trong trong mưa ngâu, Gió thổi chéo mặt hồ... từng được nhiều người mến mộ nhưng có lẽ sẽ không có một nhà văn đầm phá như bây giờ. Đọc những truyện ngắn: Vịt trời lông tía bay về, Lễ hội ăn mày, Cổ tích làng, Giếng loạn... tôi cứ tưởng Hồng Nhu là con một gia đình làm nghề sông nước ở đầm phá Tam Giang. Bởi phải sinh ra và lớn lên ở đầm phá, phải sống với nghề chài lưới mới có thể am hiểu một cách tường tận, cụ thể, sâu sắc cuộc sống, thiên nhiên, con người đầm phá như vậy. Nhưng hóa ra không phải. Quê anh ở làng Mỹ Lợi xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc. Nhà anh ở cách phá Tam Giang chừng vài cây số. Bố anh nguyên là một thầy khóa. Thuở nhỏ anh thường nghe ông cụ kể nhiều chuyện nhưng anh thích nhất là chuyện về đời sống tâm linh của bà con đầm phá. Những câu chuyện đó cùng với ký ức tuổi thơ bỗng nhiên thức dậy trong anh. Và bằng trí tưởng tượng phong phú của một nhà văn có nghề, anh đã tái hiện lại phần nào đời sống tâm linh ở vùng đầm phá với bao nhiêu câu chuyện huyền bí, bao nhiêu tập tục lạ lùng. Lễ hội ăn mày là lễ hội mà thời ấu thơ anh từng chứng kiến. Lễ được tổ chức ở chợ Cồn, vào giờ Thìn, ngày mồng hai tết. Mâm cỗ được bà con bưng ra từ sáng sớm. Những người ăn mày trong vùng tụ tập đông đủ, ngồi vào mâm cỗ “họ ăn một cách đàng hoàng, đĩnh đạc như ăn cỗ ở nhà mình”. Đây là một lễ hội đầy tính nhân văn. Tiếc là bây giờ đã không còn nữa. Lễ nhập vạn đò thì diễn ra “đơn sơ mà tráng lệ” giữa vời phá mênh mông. Trong chậu nước đặt đầu mũi thuyền có một con tôm hoặc con cá ngạnh (cá tượng trưng cho bản mệnh của người con trai, tôm tượng trưng cho bản mệnh của người con gái nhập vạn). Người nhập vạn được ném xuống đầm, tiếng càng to càng gọn thì “Thần Phá vui lòng”. Tiếng rơi nhỏ lại bị xòe ra là “Thần Phá không ưng”, phải làm lại vào một dịp khác. Lễ hợp cẩn cũng là một nghi lễ hết sức đặc biệt trong đời sống tâm linh của bà con vùng đầm phá. Nghi lễ được tái hiện qua ngòi bút của nhà văn Hồng Nhu vừa hoang dã vừa trang nghiêm. Chủ lễ là bố chú rể. Ông thắp hai cây hương to và một nắm hương nhỏ (tượng trưng cho hai vợ chồng và đàn con) cắm vào bát nhang đặt đầu mũi thuyền. Thắp hương khấn vái xong, ông dõng dạc hô: Xuống đầm! Đôi trai gái mỗi người ngậm một con cá, trút bỏ quần áo, cầm tay nhau nhảy xuống nước. Giao phối xong, hai người há miệng thả cá dâng Thần Đầm. Có lẽ trên thế gian này không có nơi nào tổ chức lễ hợp cẩn lạ lùng như vậy. Còn lễ hạ thủy thì diễn ra ngày tối trăng. Đêm đầu tiên của mùa trăng sau lễ hạ thủy là tục ngủ trăng mui (cả gia đình leo lên mui ngủ dưới trăng). Nhà văn tìm hiểu đến từng chi tiết nhỏ nhất mà ngay cả những người chuyên nghiên cứu phong tục, tập quán cư dân đầm phá cũng ít ai để ý. Chẳng hạn như chi tiết: khi nằm trên mui trong đêm ngủ trăng thì “không được nằm ngang, phải nằm dọc”, hay chi tiết: trong lễ cúng Thần Đầm dịp rằm tháng giêng, hành lễ xong chủ thuyền phải nhảy xuống đáy đầm “lạy Hà Bá hai lạy như người ở trên cạn vẫn lạy”... Nhà văn Hồng Nhu còn cho biết: Dân đầm phá thời trước không phải đi hỏi vợ mà là đi “cướp vợ”. Họ lân la nơi chợ búa, gặp cô nào thất cơ lỡ vận thì lập mẹo bắt. Khi bắt, họ nhét củ khoai hoặc cục cơm vào mồm cô gái chứ tuyệt đối không nhét giẻ, sợ Hà Bá trừng phạt. Bà Mận vợ ông Vui trong truyện Vịt trời lông tía bay về và nhân vật Đào trong truyện Lễ hội ăn mày đều bị những người đàn ông đầm phá cướp về làm vợ như thế. Nếu không cướp thì có cô gái trên cạn nào dám tình nguyện lấy những người nghèo khổ lại sống bấp bênh trên sông nước bao la, tít mù như họ? Thời đó, không cứ gì đàn ông mà cả đàn bà con gái đầm phá cũng ở trần để khỏi vướng víu. Nhờ thế mà nhà văn có thể miêu tả một cách tự nhiên vẻ đẹp hoang dã của bà Mận lúc còn trẻ với “đôi vú bánh dày bà mụ nặn tròn vo, lúc nào cũng căng nhưng nhức màu mận chín... Hai cái núm vú hồng hồng cứ chóc lên như thách thức cả trời đất, sông đầm”. Tả như thế thì có thua kém gì những cây bút “hiện đại”, lại không hề sa vào tự nhiên chủ nghĩa. Hồng Nhu đan cài đời sống tâm linh và đời sống thường nhật, đan cài quá khứ và hiện tại. Tất cả cùng đồng hiện trong những trang viết của anh. Nhân vật trong các truyện ngắn Hồng Nhu đều là những con người bình thường, không có những nét tính cách gì đặc biệt. Anh khéo léo dẫn dắt họ vào những tình huống gay cấn để làm nổi bật bản lĩnh hoặc những giằng xé nội tâm của họ. Trong truyện ngắn Vịt trời lông tía bay về là tình huống anh con trai của ông Vui phải giả vờ nghe lời bố nhưng tìm đủ cách lên đường nhập ngũ. Ông Vui chỉ vì thương con mà “bày điều trái đạo“ (bắt con trốn nghĩa vụ quân sự) còn Mừng - con trai ông, “không muốn phiền lòng cha mà phải thề bồi” nhưng cương quyết không nghe lời cha. Mừng đã làm theo ý mình, mặc dù biết làm như thế là mang tội “bất hiếu” với cha. Đó là bản lĩnh của thế hệ trẻ vùng đầm phá ngày nay. Nhân vật Lệ trong truyện ngắn Giếng loạn cũng tương tự như vậy. Bố mẹ Lệ đã nhận lời gả cô cho con trai ông Tú. Nhưng cô đã bỏ trốn để đi theo tiếng gọi của trái tim. Mặc dù Lệ cũng biết làm như vậy là trái với đạo làm con theo quan niệm thời phong kiến “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Mấy năm sau cô mới trở về thăm lại bố mẹ cùng với Giành - chàng trai vẫn thường hái cau cho nhà Lệ. Từ những con người dám sống và hành động theo ý mình như vậy, nhà văn rút ra “quy luật muôn đời”: “Những điều tốt đẹp, trọn vẹn không phải từ trên trời rơi xuống mà con người phải tự tìm lấy, tự giành lấy”. Đây cũng là điều mà nhà văn đúc rút được từ chính bản thân mình, cuộc đời mình. Nhân vật Đào trong truyên ngắn Lễ hội ăn mày bị giằng xé giữa tình cảm quê hương và tình cảm gia đình. Xa quê bao nhiêu năm, chị đau đáu nhớ quê. Chị quyết tâm trở về quê hương bằng mọi giá. Chị đã dìu đứa con chín tháng tuổi bơi đến sáu bảy cây số, từ giữa phá vào bờ. Chị muốn gặp lại cha mẹ, xóm giềng của chị. Nhưng đúng thời điểm chuẩn bị lên đường ra Bắc thì chị nhìn thấy trong lễ hội ăn mày “có một người đàn ông dắt một đứa trẻ đi vào chợ Cồn”. Giây phút ấy, chị có cảm giác như hàng nghìn mũi kim đâm vào tim chị. Đào đau đớn quằn quại. Tác giả chia sẻ nỗi dằn vặt lương tâm với chị: “Đã mười năm nay chị chèo chống trên mặt đầm, lớn lên cùng sóng nước, thở nhịp thở của thủy triều lên xuống, con tôm con cá đã là bạn bầu của chị, trời nước bao la đã là tầm nhìn của chị, màu nước sắc mây đã là dung nhan của chị, sao chị lại dễ dàng đánh mất?”. Tôi nghĩ, nếu không đồng cảm với nhân vật Đào, nhà văn khó lòng diễn tả được sự giằng xé nội tâm xúc động đến như thế. Đây là một trong những đoạn văn trữ tình đậm đặc chất thơ. Chính vì sự dằn vặt đó mà Đào quyết định quay về với chồng con, với đầm phá. Chị chờ đón “tiếng chèo chém nước nhịp đôi” quen thuộc của chồng... Đào bị người đàn ông đầm phá cướp về làm vợ. Ấy thế mà khi có điều kiện trốn thoát chị lại không nỡ dứt áo ra đi. Tình yêu chồng con, tình yêu đầm phá đã ngăn cản bước chân của chị. Điều đó đã góp phần làm cho Lễ hội ăn mày chứa đựng ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc. Nhà văn đã “phổ vào câu chuyện những triết lí về cuộc sống con người”. Ở những truyện ngắn Vịt trời lông tía bay về, Lễ hội ăn mày... Hồng Nhu có cách diễn đạt rất phù hợp với con người thiên nhiên vùng đầm phá. Biện pháp nghệ thuật mà anh sử dụng nhiều nhất là biện pháp so sánh. Đó là lối nói mà cư dân ở những vùng đầm phá hay dùng. Phải rất am tường “thủy thổ vùng sông nước”, nhà văn mới có thể ví von: “Bầy con ăn xong, chúng sà tới rần rật như một đàn le le, lặng lẽ ngồi bu quanh mẹ”; “người Vui ướt lướt thướt như bó rong mới cào dưới đầm lên”; “ông Vui đứng đầu mũi, bóng dựng như cái cột buồm, mắt ông tinh như mắt rắn nước”... Những hình ảnh đưa ra so sánh đều là những hình ảnh quen thuộc của vùng đầm phá. Nói như Nam Cao, Hồng Nhu đã khơi “cái nguồn chưa ai khơi”. Và đưa đến cho người đọc những khám phá mới lạ từ trước đến nay chưa ai đề cập đến. Lễ hợp cẩn, lễ hội ăn mày, lễ nhập vạn chài, lễ dâng Thần Đầm... quả là những cảnh tượng tôi chưa từng thấy. Cái cách mà bố Lệ cho cuống rau của mấy chị em Lệ vào một chiếc niêu đất nung nhỏ có nắp đậy rồi đem chôn bên Giếng Loạn, tôi cũng mới nghe lần đầu. Hồng Nhu rất giỏi khai thác những chi tiết gây sự chú ý, kích thích trí tò mò của người đọc. Chẳng hạn như cái giếng của nhà Lệ vì sao có tên là Giếng Loạn? Những câu chuyện, sự việc, hiện tượng... chung quanh Giếng Loạn cứ hư hư thực thực hết sức bí hiểm. Ví như hiện tượng nước trong giếng dù nắng hay mưa cũng không hề thêm hoặc bớt một giọt nào. Đôi cá thia nhỏ bằng ngón tay út thả trong giếng đã bao nhiêu năm vẫn không lớn thêm. Đó là chỗ linh thiêng đàn bà con gái không được bén mảng đến. Cái việc chôn cuống rau của mấy chị em Lệ ở bên Giếng Loạn càng làm tăng thêm vẻ bí hiểm. Rồi chuyện chị em Lệ có lần đến chơi bời, vầy đất, vầy cát ở đó dẫn đến việc Lệ bỏ nhà ra đi càng làm cho người đọc hồi hộp theo dõi. Có thật là Giếng Loạn thiêng đến thế không? Câu chuyện kết thúc hết sức bất ngờ: Lệ trở về với niềm hạnh phúc gia đình tự mình lựa chọn. Lúc đó mọi người mới vỡ lẽ Giếng Loạn tức là giếng yên như tục ông bà ngày xưa đặt tên gọi thường ngày cho con cái thật xấu để mong con cái gặp điều tốt đẹp. Hồng Nhu viết truyện như làm thơ. Cái tứ giếng loạn được anh dẫn dắt vô cùng khéo léo. Nội dung không có gì mới nhưng anh triển khai câu chuyện hết sức tài tình. Phải có tay nghề cao và vốn sống thật phong phú mới viết được những thiên truyện ngắn đặc sắc như Vịt trời lông tía bay về, Lễ hội ăn mày, Cổ tích làng, Giếng Loạn... Anh Nguyễn Khắc Phê trong bài viết Hồng Nhu tuổi hồi xuân, in trên báo Văn nghệ có tổng kết: ở Hội Nhà văn Huế, Hồng Nhu là người cao tuổi nhất, sáng tác truyện ngắn và làm thơ đều tay nhất, nhận nhiều cú đúp giải thưởng nhất (hai lần giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, hai lần giải thưởng tạp chí Văn nghệ Quân đội, ba lần giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô)... Tôi xin bổ sung thêm: Hồng Nhu còn là nhà văn viết về đời sống tâm linh của những người dân ở vùng đầm phá ấn tượng nhất hiện nay. M.V.H (260/10-10) |
Tải mã QRCode
HỒNG NHU (Đọc tập “Chuyện Huế” của Hồ Đăng Thanh Ngọc - NXB Thuận Hóa 2008)
NGUYỄN ĐÔNG NHẬTĐọc xong tập sách do họa sĩ Phan Ngọc Minh đưa mượn vào đầu tháng 6.2009(*), chợt nghĩ: Hẳn, đã và sẽ còn có nhiều bài viết về tác phẩm này.
NGUYỄN HỮU QUÝ (Mấy cảm nhận khi đọc Chết như thế nào của Nguyên Tường - NXB Thuận Hóa, 2009) Tôi mượn thuật ngữ chuyên ngành y học (Chăm sóc làm dịu=Palliative Care) để đặt tít cho bài viết của mình bởi Phạm Nguyên Tường là một bác sĩ điều trị bệnh ung thư. Tuy rằng, nhiều người biết đến cái tên Phạm Nguyên Tường với tư cách là nhà thơ trẻ, Chủ tịch Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế hơn là một Phạm Nguyên Tường đang bảo vệ luận án tiến sĩ y khoa.
LÊ THỊ HƯỜNGTìm trong trang viết là tập tiểu luận - phê bình thứ 3 của Hồ Thế Hà. Sau những ngày tháng miệt mài “Thức cùng trang văn” (viết chung với Lê Xuân Việt, được giải thưởng Cố đô 1993 - 1997), Hồ Thế Hà lại cần mẫn “tìm trong trang viết” như một trăn trở đầy trách nhiệm với nghề.
MAI VĂN HOANNguyễn Công Trứ từng làm tham tụng bộ lại, Thị lang bộ Hình, Thượng thư bộ Binh... Đương thời ông đã nổi tiếng là một vị tướng tài ba, một nhà Doanh điền kiệt xuất. Thế nhưng khi nói về mình ông chỉ tự hào có hai điều: Thứ nhất không ai "ngất ngưỡng" bằng ông; thứ hai không ai "đa tình" như ông. Nguyễn Công Trứ "ngất ngưỡng" đến mức "bụt cũng phải nực cười" vì đi vào chùa vẫn mang theo các cô đào.
SICOLE MOZETBà Nicole Mozet, giáo sư trường Paris VII, chuyên gia về Balzac và là người điều hành chính của các hội thảo về Balzac đã làm một loạt bài nói chuyện ở trường Đại học ngoại ngữ Hà Nội, trường Đại học sư phạm Hà Nội, Nhà xuất bản thế giới... Chúng tôi trích dịch một đoạn ngắn trong bản thảo một bài nói chuyện rất hay của bà. Lúc nói bà đã phát triển những ý sau đây dưới đầu đề: Thời gian và tiền bạc trong Eugénie Grandet, và đã gợi cho người nghe nhiều suy nghĩ về tác phẩm của Batzac, cả về một số tác phẩm của thế kỉ XX.
CAO HUY HÙNGLịch sử vốn có những ngẫu nhiên và những điều thần tình mà nhiều người trong chúng ta chưa hiểu rõ. Tỉ như: Thế giới có 2 bản Tuyên ngôn độc lập, đều có câu mở đầu giống nhau. Ngày tuyên bố tuyên ngôn trở thành ngày quốc khánh. Hai người soạn thảo Tuyên ngôn đều trở thành lãnh tụ của hai quốc gia và cả hai đều qua đời đúng vào ngày quốc khánh...
NGUYỄN VĂN HOA1. Tôi là người Kinh Bắc, nên khi cầm cuốn sách Văn chương cảm và luận (*) của Nguyễn Trọng Tạo là liền nhớ ngay tới bài hát Làng quan họ quê tôi của anh mà lời ca phỏng theo bài thơ Làng quan họ của nhà thơ Nguyễn Phan Hách.
TRẦN HUYỀN SÂMSau mười năm, kể từ khi “Cái trống thiếc” ngỗ ngược của chú lùn Oska vang lên trên đống gạch đổ nát của thế chiến II, Herta Munller đã tiếp nối Gunter Gras và vinh danh cho dân tộc Đức bởi giải Nobel 2009.
NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH (nhân Đọc "Từ những bờ hoa gió thổi về")Ông Trần Nhật Thu sinh năm 1944 ở Quảng Bình. Ông lớn lên, làm thơ, đoạt giải thi ca cũng từ miền đất gió cát này. Năm 1978 ông rời Quảng Bình như một kẻ chạy trốn quê hương. Nhưng hơn hai chục năm nay miền quê xứ cát vẫn âm thầm đeo bám thơ ông. Qua đó lộ cảm tâm trạng ông vẫn đau đáu miền gió cát này.
Nhà văn Tô Nhuận Vỹ tên thật là Tô Thế Quảng, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1941, quê ở Vinh Xuân, Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Anh đã kinh qua các công việc: dạy học, phóng viên, biên tập viên… Anh từng giữ các chức vụ: Tổng thư ký và Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, Giám đốc Sở Ngoại vụ, đại biểu HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế, Uỷ viên Ban kiểm tra, Uỷ viên Hội đồng văn xuôi và Ban đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam.
ĐÔNG LAThế là sự ồn ào qua rồi. Diễn đàn đã đóng cửa. Nhưng lẽ nào việc thẩm định văn chương chỉ râm ran một hồi như thế, rồi cái nhùng nhằng còn nguyên nhùng nhằng, sự mâu thuẫn còn nguyên mâu thuẫn, và chuyện hay dở đến đâu cũng vẫn cứ mãi lửng lơ!
ĐÀO DUY HIỆP"Ngữ pháp, ngữ pháp khô khan chính nó, trở thành cái gì đó như một thuật phù thủy, gọi hồn; các từ sống lại, được cấp xương thịt, danh từ trong dáng vẻ tôn nghiêm bản thể của nó, tính từ, trang phục trong suốt khoác lên nó và nhuộm sắc cho nó một lớp tráng, còn động từ, thiên thần của vận động, mang lại cho câu sự động dao" (Baudelaire) (1)
MAI VĂN HOANMai Văn Hoan sinh 20-1-1949, quê Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình. Anh tốt nghiệp khoa Văn, Đại học Sư phạm Vinh và từng dạy ở các trường: Cấp 3 Minh Hoá (1971-1973), Sư phạm 10+3 Quảng Bình (1973-1979), Hai Bà Trưng (1979-1985), Quốc Học (1985-2009). Anh từng tham gia bồi dưỡng hàng chục học sinh giỏi văn tỉnh Bình Trị Thiên (1979-1989), tỉnh Thừa Thiên Huế (1989-2009) đoạt giải Quốc gia. Một số học sinh của anh đã trở thành phó giáo sư, tiến sĩ, cán bộ quản lý, nhà văn, nhà báo... nhưng vẫn “mãi mãi không thể nào quên những giờ dạy văn của thầy Mai Văn Hoan” như lời chị Lương Thị Bích Ngọc tâm sự trên VietNamNet.
NGUYỄN HỮU NGÔ Cuốn sách đồ sộ "Côn Đảo" của Nhà xuất bản Trẻ (1996) là một nguồn tư liệu quý mà những người làm công việc nghiên cứu lịch sử cách mạng Việt Nam không thể không tìm đến. Vì vậy sự chính xác về thông tin đòi hỏi phải khẳng định. Và cũng vì vậy tôi có đôi điều xin thưa với ban biên tập Nhà xuất bản Trẻ về những thông tin về nhân vật Mai Tấn Hoàng được coi là người tử tù cách mạng.
VÕ THỊ QUỲNHĐặng Huy Trứ (1825 - 1874) đã để lại khá nhiều thơ văn cho đời. "Từ Thụ Yếu Quy"(*) tập sách bàn về nạn hối lộ và đức thanh liêm của người làm quan, là một trong những áng văn quý giá ấy.
Văn Cầm Hải tên thật Nguyễn Thanh Hải, sinh ngày 20 tháng 01 năm 1972, quê ở làng Trần Xá, Hàm Ninh, Quảng Ninh, Quảng Bình.
CAO HUY HÙNGBa mươi năm đã trôi qua, kể từ ngày Bác Hồ vĩnh biệt chúng ta! Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta di sản vô cùng quí báu: Đó là bản di chúc lịch sử của thời đại Hồ Chí Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử vinh quang hàng ngàn năm của dân tộc. Đó là kỷ nguyên độc lập dân tộc, tự do của Tổ quốc, kỷ nguyên cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
LÊ THỊ MÂYĐề tặng một giấc mơ là tập thơ hay và buồn của Lâm Thị Mỹ Dạ. Tập thơ này được giải thưởng của UBTQLH các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 1998. Sau khi xóa bao cấp trong in ấn thơ, rất nhiều người có cơ hội tự in thơ, có khi là mỗi năm một tập. Lâm Thị Mỹ Dạ không ở trong diện ấy.
ĐẶNG TIẾNPhê bình huyền thoại(1) của Đào Ngọc Chương là một cuốn sách mỏng, in giới hạn, có lẽ chỉ nhắm vào một nhóm sinh viên, nhưng là sách cần yếu, mới mẻ.