Hội thảo đã thu hút sự quan tâm của 30 nhà nghiên cứu, nhà giáo, các tác giả đến từ ĐH Khoa Học Huế, ĐH Sư Phạm Huế, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, Phân viện Văn hóa và Nghệ Thuật Việt Nam tại Huế, Sở Văn hóa – Thể Thao và Du lịch,… với 25 tham luận đã được đóng góp. Các báo cáo khoa học đã đề cập đến nhiều vấn đề lịch sử và văn hóa quan trọng, đặc sắc của vùng đất Quảng Điền trên nhiều phương diện: sử học, khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa học, bào tàng học, phát triển du lịch…
Nội dung Hội thảo đặc biệt chú ý tới vấn đề trọng tâm như: Vùng đất Quảng Điền: một số vấn đề địa lý – chính trị, địa lí – văn hóa; quá trình mở đất lập làng và văn hóa làng xã Quảng Điền; những dấu ấn lịch sử và văn hóa đặc trưng trên đất Quảng Điền, danh nhân qua các thời kì lịch sử; những vấn đề về đầm phá Tam Giang và việc phát huy di sản văn hóa Quảng Điền trong bối cảnh hiện nay.
Các bài báo cáo trong Hội thảo đáng chú ý xoay quanh vấn đề dấu ấn Việt dần dần được khẳng định qua quá trình chinh phục tự nhiên khắc nghiệt, từng bước chiếm lĩnh miền sông nước. Lịch sử lập làng được trình bày rõ nét qua các bài viết được trình bày như “Tổng quan về việc khai canh lập ấp ở Quảng Điền” của tác giả Trần Đại Vinh; “Quá trình di dân lập làng trên đất Quảng Điền thời quân chủ” của TS.Nguyễn Văn Đăng và “phá Tam Giang ngày rày đã cạn: Người Việt tiếp cận miền sông nước Tam Giang và sự hình thành vùng đất Quảng Điền” của tác giả Trần Đình Hằng.
Về dấu ấn văn hóa Champa trên đất Quảng Điền được khẳng định qua sự nghiên cứu công phu của tác giả Nguyễn Văn Quảng với bài viết “Các di tích văn hóa Champa trên địa bàn huyện Quảng Điền” và bài viết “Nhận xét về thành Hóa Châu qua điều tra khảo cổ học” của nhóm tác giả trường ĐH Khoa Học Huế.
Đặc biệt, Hội thảo cũng đã đặt ra vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản của vùng đất Quảng Điền trong bối cảnh mới. Bài viết “Bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa ở Quảng Điền – thực tiễn và những vấn đề đặt ra” của tác giả Cao Huy Hùng; “Quảng Điền nhìn từ di sản văn hóa lịch sử” của tác giả Phan Thanh Hải và “Mô hình L.A.T ý tưởng cho sự đa dạng hóa và tập trung hóa sản phẩm du lịch vùng đầm phá Thừa Thiên Huế” của tác giả Nguyễn Hữu Thông.
Hội thảo đã góp phần phác họa ngày càng rõ nét hơn diện mạo lịch sử và văn hóa Quảng Điền, phát hiện và định hướng phát triển các di sản đặc trưng của vùng đất có truyền thống văn hóa. Trên cơ sở nội dung trao đổi các bài viết tại Hội thảo, Ban Tổ chức có ý định tập hợp để xuất bản sách, đáp ứng nhu cầu mong mỏi của nhân dân huyện Quảng Điền. PV
|
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.