Các tạp chí văn nghệ ở các địa phương trong những năm qua đã đóng góp rất nhiều vào dòng chảy văn học Việt Nam. Đó là nơi góp sức hình thành tên tuổi của nhiều tác giả, tác phẩm từ các địa phương trước khi soi vào gương mặt chung của nền văn học nước nhà, là nơi giữ gìn bản sắc văn hóa văn nghệ của mỗi vùng đất, là nơi khởi thủy của những khuynh hướng sáng tạo mới...
Nhân kỷ niệm 30 năm thành lập Tạp chí Sông Hương, cũng là năm đến kỳ Tạp chí Sông Hương luân phiên tổ chức giao lưu, hội thảo nghiệp vụ với các tạp chí văn nghệ 6 tỉnh Bắc miền Trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế), Tạp chí Sông Hương tổ chức Hội thảo với chủ đề “Đóng góp của các tạp chí văn nghệ địa phương trong dòng chảy văn học Việt Nam”. Riêng năm nay, Hội thảo có mời một số tạp chí ở các vùng Kinh đô Việt Nam xưa tham dự, bao gồm: Báo Người Hà Nội của Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội, Hội VHNT Ninh Bình, Tạp chí Văn Nhân của Hội VHNT Nam Định.
Mỗi tờ tạp chí văn nghệ địa phương có một đặc trưng riêng, mang hơi thở cuộc sống riêng của vùng đất đó; báo chí văn nghệ địa phương vì vậy vừa làm phong phú văn hóa các vùng miền, vừa làm đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Vì thế, các tham luận gửi đến hội thảo, đều đề cập đến những đóng góp của tạp chí địa phương, hoặc từ hội văn nghệ địa phương vào nền văn học nghệ thuật Việt Nam.
Từ Thủ đô, trái tim của cả nước, Tổng biên tập Báo Người Hà Nội - nhà thơ Bùi Việt Mỹ gửi đến Hội thảo tham luận: “Báo Văn nghệ Người Hà Nội - theo hành trình sáng tạo của văn nghệ sĩ Thủ đô và cả nước”. Tham luận dẫn dắt câu chuyện bắt đầu từ các nội hàm của “Văn chương Hà Nội” và khẳng định: ở bất cứ thời đại nào văn chương Hà Nội luôn là một vùng “văn chương mở”, có sức lan tỏa mạnh mẽ đến dòng chảy văn chương cả nước hiện nay. Theo đó, Báo văn nghệ Người Hà Nội - với vị thế tiếng nói dòng chảy trung tâm đã có những đóng góp hết sức quan trọng cho nền văn học nước nhà. Từ những ngày đầu, tờ Văn nghệ Thủ đô với phương châm phải nhanh chóng truyền tải được sáng tác của văn nghệ sĩ, trước hết là các sáng tác phục vụ cuộc chiến đấu chống Mỹ - máu lửa nhất, đồng thời phải phản ánh được hiện thực cách mạng xây dựng XHCN ở miền Bắc. Suốt chiều dài của công cuộc đổi mới của đất nước đến nay, Báo Người Hà Nội tăng cường chất lượng nội dung và hình thành các chuyên mục mới nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển. Ở Hà Nội, vừa là nơi trực tiếp kế thừa văn hóa Thăng Long, lại là Thủ đô của cả nước, các cây bút xuất sắc tại Hà Nội đều đóng góp cho văn học nước nhà, và các cây bút của cả nước đều đóng góp cho văn học Hà Nội. Về mặt bằng lực lượng hội viên, các nhà văn thuộc các ngành Trung ương cũng thường lấy Hà Nội làm Hội cơ sở nên cống hiến sáng tạo của họ trở thành thành tựu chung trong dòng chảy văn chương Việt Nam.
Tham luận của Phó Chủ tịch Hội VHNT Ninh Bình - nhà văn Vũ Thanh Lịch nhắc đến những đóng góp của Hội VHNT Ninh Bình đối với nền văn học: Những năm qua, lực lượng sáng tác ở Ninh Bình xuất hiện một số tác giả “đứng được” trên văn đàn, đóng góp những tác phẩm giá trị. Các tác giả văn học Ninh Bình đã có nhiều tác giả đạt giải nhất các cuộc thi sáng tác thơ, văn trên báo chí trung ương, và các địa phương trong cả nước. Đây là điều kiện quan trọng cho sự nở rộ của các tác phẩm văn học Ninh Bình. Có thể nói rằng, hòa chung vào dòng chảy văn học Việt Nam đương đại, văn học Ninh Bình từ năm 1992 đến nay phản ánh sinh động hiện thực đời sống xã hội của đất nước nói chung, của tỉnh nói riêng, bộc lộ tình cảm sâu sắc với đất và người Ninh Bình trong hành trình đổi mới hội nhập, hòa nhịp với những chuyển động của đời sống văn học đất nước.
Tham luận về vùng đất Nam Định với Tạp chí Văn Nhân, nhà thơ Phạm Trường Thi, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Văn Nhân cho biết: Mãi đến tách tỉnh lần cuối (năm 1992) tạp chí văn nghệ Nam Định mới có được cái tên chính thức và đang được sử dụng đến ngày nay - đó là Tạp chí Văn Nhân. Văn Nhân không phải là tên sông, tên núi hay một địa danh nổi tiếng nào đó của địa phương, nhưng Văn Nhân mang nhiều ý nghĩa phản ánh được chính xác, rõ nét nhất bản sắc văn hóa của người Nam Định, vùng đất có “địa linh” có “nhân kiệt”. Đời xưa, đời nay, đời nào Nam Định cũng có những bậc anh hùng, tao nhân mặc khách đóng góp cho đất nước. Khởi thủy của dòng chảy văn học Việt Nam từ kinh kệ Phật giáo, phát triển rực rỡ vào thời Lý - Trần với những áng thơ thiền súc tích và uyên bác. Xuôi theo dòng chảy là Trạng nguyên Lương Thế Vinh, Lưỡng quốc Trạng nguyên Đào Sư Tích, Tam nguyên Trần Bích San, Trần Tế Xương (tức Tú Xương)... và đến nay, số nhà văn, nhà thơ là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam người quê gốc Nam Định ước tính có khoảng trên dưới 100, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Nhà văn Hoàng Trọng Cường - Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh - cho biết, mặc dầu rất khó khăn về kinh phí, nhưng với lòng nhiệt tâm của những người thực hiện tờ báo, tạp chí đã thực sự là diễn đàn văn học nghệ thuật, là cầu nối giữa nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, nghệ sĩ Thanh Hóa và các vùng miền với công chúng. Tạp chí đã giới thiệu, công bố nhiều tác phẩm chất lượng; phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu văn học nghệ thuật, bổ sung cho đội ngũ tác giả trong tỉnh và cả nước. Tạp chí đã thường xuyên đổi mới và không ngừng nâng cao chất lượng cả về nội dung và hình thức, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về hưởng thụ văn hóa văn nghệ của nhân dân. Với những cuộc thi truyện ngắn, tạp chí đã phát hiện nhiều nhân tố mới cho văn xuôi Xứ Thanh và cả nước.
Nhà văn Nguyễn Thị Phước - Tổng Biên tập Tạp chí Sông Lam xác quyết: Ban Biên tập Tạp chí Sông Lam đã rất ý thức trong việc chọn lọc bài vở. Bên cạnh gìn giữ sự đa dạng của đề tài, bút pháp, bản sắc văn hóa của các dân tộc ở Nghệ An, của các tác giả Nghệ An, tạp chí đã chấp nhận các tác phẩm với các phong cách mới và khác, các giá trị và sắc thái văn học ở khắp các vùng miền khác nhau. Từ đó, đã đưa đến cho công chúng những ấn phẩm hay, góp phần vào dòng chảy chung của nền văn học Việt Nam.
Tổng Biên tập Tạp chí Nhật Lệ - nhà văn Nguyễn Thị Lê Na nhận định: Trải qua bao thời kỳ, không khí sáng tác trong văn nghệ sĩ Quảng Bình vẫn cứ sôi động tạo nên một lực lượng tác giả và cũng là cộng tác viên chính của Tạp chí Nhật Lệ khá hùng hậu. Trong sáng tác, xu hướng ngày càng rõ là tìm về cội nguồn dân tộc, những giá trị tinh thần và nhân văn cao cả của dân tộc, để từ đó tạo nên những giá trị mới thích ứng với cuộc sống hiện đại. Dù đề tài không hạn chế nhưng có thể thấy tác phẩm của hầu hết văn nghệ sĩ ra đời tập trung xoay quanh lịch sử dân tộc, chiến tranh cách mạng và xây dựng đất nước hôm nay. Những đòi hỏi của thời đại buộc các văn nghệ sĩ tìm tòi, nâng cao trình độ chuyên nghiệp và dày công với những tác phẩm mới, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển văn học nghệ thuật của cả nước.
Nhà văn Y Thi - Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cửa Việt đề cập đến 3 vấn đề: Truyền thống lịch sử, văn hóa vùng đất nơi tờ tạp chí đứng chân; Cộng tác viên và chất lượng đội ngũ cầm bút; Bộ máy của tờ tạp chí cùng với cơ chế chính sách kèm theo. Nhà văn nhắc lại truyền thống văn hóa lịch sử Quảng Trị và kết luận: Người Quảng Trị hướng sự sống của mình sao cho hợp lẽ phải, hợp đạo làm người, hướng tới điều thiện, hướng tới những giá trị tinh thần cao đẹp, rất bất khuất nhưng vị tha... Theo đó, Tạp chí Cửa Việt ở nơi có truyền thống mảnh đất như vậy, đã tải những phẩm chất cao đẹp đó trên con thuyền văn chương để chở đến bến bờ nghệ thuật của đất nước. Những năm gần đây, Ban Biên tập đã rất chú tâm vào việc phát hiện, bồi dưỡng, chăm sóc, xây dựng lực lượng tại chỗ. Sau hơn 20 năm, hội viên tại chỗ từ 7 - 10 người, nay đã có 180, trong đó 1/3 là hội viên các chuyên ngành trung ương. Đội ngũ này đã thay thế dần, xông xáo trên hầu hết các thể loại như ký, truyện ngắn, thơ và khảo cứu văn hóa. Nhiều cây bút đã trưởng thành từ diễn đàn Cửa Việt, có tên tuổi trong cả nước, đang đóng góp cho tờ tạp chí văn nghệ địa phương cũng đồng nghĩa với việc đóng góp vào nền văn học nước nhà.
Tham luận của nhà văn Hoàng Việt Hùng, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Sông Hương cho biết: Tạp chí Sông Hương trong suốt 30 năm thành lập, đã có những đóng góp nhất định trong dòng chảy văn học Việt Nam trên các lĩnh vực: Thu hút và chuyển tải các tác phẩm của nhiều cây bút tiêu biểu của cả nước qua các thời kỳ; Đóng góp tiếng nói vào công cuộc đổi mới đất nước và văn học nghệ thuật ngay từ đầu những năm đổi mới; Xác định và tôn vinh các giá trị VHNT đã khuất lấp theo thời gian và cổ xúy những trào lưu sáng tác mới; Phát hiện và ươm trồng nhiều nhân tố mới cho nền văn học Việt Nam. Nhà văn kết luận: Tạp chí văn hóa văn nghệ của một vùng đất không thể gọi là phát triển nếu không liên tục được giao thoa với những vùng văn hóa khác. Điều quan trọng là phải biết chọn lọc cho mình cái gì phù hợp. Từ đó có thể lý giải, vì sao 30 năm qua Sông Hương đăng tải bài vở từ khắp nơi gửi về mà nó vẫn luôn có được cái riêng. Cũng giống như nhận xét của nhiều bạn đọc, Sông Hương đã hợp lưu được nhiều dòng chảy vào một dòng chảy chủ đạo.
Cùng tham gia ý kiến với Hội thảo, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đến từ Viện Văn học Việt Nam đã chúc mừng các tạp chí văn nghệ địa phương đã dũng cảm đi tới trên hành trình luôn cam go. Nhà phê bình cũng đã đánh giá cao những nỗ lực không mệt mỏi của các thế hệ làm Tạp chí Sông Hương để cho đến nay, Sông Hương vẫn là một tạp chí luôn có đẳng cấp.
Nhà văn Bửu Ý lưu ý về tính chất bản sắc văn hóa của tạp chí địa phương và với riêng Sông Hương, nhà văn nhận định sở dĩ Sông Hương có giá trị văn hóa xã hội, chính là nhờ kết tinh từ vùng đất dày dặn lịch sử, thừa hưởng sự thiện cảm của độc giả trong và ngoài nước. Nhà văn đề nghị Sông Hương cũng như các tạp chí địa phương khác cũng nên mạnh dạn hơn nữa, mở thêm nhiều cánh cửa để đưa công chúng đến với sự đa dạng của nghệ thuật.
Nhà thơ Bằng Việt - Phó Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, thay mặt lãnh đạo đã hoan nghênh sáng kiến tổ chức hội thảo, giao lưu thường niên của các tạp chí văn nghệ Bắc miền Trung; đồng thời đánh giá cao sự đóng góp của các tạp chí văn nghệ địa phương, việc giữ gìn bản sắc văn hóa văn nghệ vùng miền là hết sức cần thiết, song cũng nên hội nhập mạnh mẽ hơn. Nhà thơ cũng lưu ý các tạp chí văn nghệ địa phương nên đặt ra vấn đề phát triển báo điện tử để đưa văn học nghệ thuật vùng miền đến với công chúng nhanh hơn, xa hơn...
Thay mặt Ban Tổ chức, nhà văn Hồ Đăng Thanh Ngọc đã phát biểu kết luận Hội thảo. Theo đó, Hội thảo vui mừng trước những thành quả mà các tạp chí địa phương, các nền văn nghệ địa phương đã đóng góp ngày càng nhiều, làm phong phú thêm, hiện đại thêm cho văn học nước nhà. Bên cạnh đó, cũng đã có nhiều ý kiến âu lo cho tình hình văn học tại các địa phương hiện nay: sự trống vắng các tác phẩm đỉnh cao, sự trống vắng của thế hệ trẻ kế cận... Đó không chỉ là nỗi lo của từng tạp chí riêng lẻ. Đó đã thật sự là nỗi lo chung của cả nền văn học, mà chỉ có những chính sách lớn mang tầm vĩ mô, mới hy vọng giải quyết rốt ráo vấn đề đang làm bao trái tim yêu thương nền VHNT Việt Nam mất ngủ.
Hội thảo vui mừng khi một số địa phương, lãnh đạo tỉnh đã quan tâm tạo điều kiện như tỉnh Yên Bái với quan điểm đầu tư cho báo văn nghệ như đầu tư cho báo Đảng, với mức trên 1 tỷ đồng dành riêng cho in ấn, nhuận bút/năm (không kể lương cho bộ máy); có tỉnh có công văn của lãnh đạo tỉnh đề nghị các cơ quan đơn vị mua và đọc báo văn nghệ tỉnh nhà (như ở Ninh Bình, Nghệ An...); có tỉnh đầu tư kinh phí lớn cho việc phát triển trang web (như Tạp chí Cửa Việt được cấp 200 triệu/năm, trước mắt trong 10 năm liên tục)...
Hội thảo vui mừng trước những thành tựu đạt được, song cũng chia sẻ những khó khăn. Nhân Hội thảo, Ban Tổ chức cũng có những kiến nghị:
- Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam cần tổ chức hội thảo toàn quốc về những đóng góp của các tạp chí văn nghệ địa phương để có những kết luận cụ thể về những thành tựu, những khó khăn mà các tạp chí văn nghệ hiện đang gặp phải, từ đó tìm giải pháp khắc phục để phát triển.
- Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam cần tiếp tục kiến nghị với Chính phủ về đề án về “Nâng cao chất lượng các tạp chí văn nghệ địa phương” để có chính sách đầu tư thỏa đáng. Trong lúc đề án còn chờ Chính phủ phê duyệt, rất mong Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam điều tiết một phần kinh phí hỗ trợ sáng tạo và công bố tác phẩm để hỗ trợ trực tiếp cho các tạp chí văn nghệ địa phương (là nơi đăng tải các tác phẩm của các văn nghệ sĩ).
- Kính mong lãnh đạo các tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về Văn học nghệ thuật, tiếp tục quan tâm tạo điều kiện hơn nữa để các tạp chí văn nghệ địa phương có thể phát triển.
Hội thảo đã kết thúc trong ánh nắng trưa vàng tươi trên dòng sông Hương nước chảy hiền hòa.
P.V
(SH293/07-13)
Tải mã QRCode
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGKể từ tập thơ đầu tay (Phía nắng lên in năm 1985), Huyền thoại Cửa Tùng (*) là tập thơ thứ mười (và là tập sách thứ 17) của Ngô Minh đã ra mắt công chúng. Dù nghề làm báo có chi phối đôi chút thì giờ của anh, có thể nói chắc rằng Ngô Minh đã đi với thơ gần chẵn hai mươi năm, và thực sự đã trở thành người bạn cố tri của thơ, giữa lúc mà những đồng nghiệp khác của anh hoặc do quá nghèo đói, hoặc do đã giàu có lên, đều đã từ giã “nghề” làm thơ.
Võ Quê được nhiều người biết đến khi anh 19 tuổi với phong trào xuống đường của học sinh, sinh viên các đô thị miền Nam (1966). Lúc đó, anh ở trong Ban cán sự Sinh viên, học sinh Huế. Võ Quê hoạt động hết sức nhiệt tình, năng nổ bất chấp nguy hiểm với lòng yêu nước nồng nàn và niềm tin sắt đá vào chính nghĩa.
PHẠM PHÚ PHONGThỉnh thoảng có thấy thơ Đinh Lăng xuất hiện trên các báo và tạp chí. Một chút Hoang tưởng mùa đông, một Chút tình với Huế, một chuyến Về lại miền quê, một lần Đối diện với nỗi buồn, hoặc cảm xúc trước một Chiếc lá rụng về đêm hay một Sớm mai thức dậy... Với một giọng điệu chân thành, giản đơn đôi khi đến mức thật thà, nhưng dễ ghi lại ấn tượng trong lòng người đọc.
ĐẶNG TIẾNNhà xuất bản Trẻ, phối hợp với Công ty Văn hoá Phương Nam trong 2002 đã nhẩn nha ấn hành Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, trọn bộ bốn cuốn. Sách in đẹp, trên giấy láng, trình bày trang nhã, bìa cứng, đựng trong hộp giấy cứng.
NGUYỄN ĐỨC TÙNG(Tiếp theo Sông Hương số 244 tháng 6-2009)Mến tặng các nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Khánh Phương, Trần Thị Trường, cháuDiệu Linh, và những người bạn khác,lớn lên trong những hoàn cảnh khác.
NGUYỄN THỤY KHANhà thơ Quang Dũng đã tạ thế tròn 15 năm. Người lính Tây Tiến tài hoa xưa ấy chẳng những để lại cho cuộc đời bao bài thơ hay với nhịp thơ, thi ảnh rất lạ như "Tây Tiến", "Mắt người Sơn Tây"... và bao nhiêu áng văn xuôi ấn tượng, mà còn là một họa sĩ nghiệp dư với màu xanh biểu hiện trong từng khung vải. Nhưng có lẽ ngoài những đồng đội Tây Tiến của ông, ít ai ở đời lại có thể biết Quang Dũng từng viết bài hát khi cảm xúc trên đỉnh Ba Vì - quả núi như chính tầm vóc của ông trong thi ca Việt Nam hiện đại. Bài hát duy nhất này của Quang Dũng được đặt tên là "Ba Vì mờ cao".
HOÀNG KIM DUNG (Đọc trường ca Lửa mùa hong áo của Lê Thị Mây)Nhà thơ Lê Thị Mây đã có nhiều tập thơ được xuất bản như: Những mùa trăng mong chờ, Dịu dàng, Tặng riêng một người, Giấc mơ thiếu phụ, Du ca cây lựu tình, Khúc hát buổi tối, v.v... Chị còn viết văn xuôi với các tập truyện: Trăng trên cát, Bìa cây gió thắm, Huyết ngọc, Phố còn hoa cưới v.v...Nhưng say mê tâm huyết nhất với chị vẫn là thơ. Gần đây tập trường ca Lửa mùa hong áo của nhà thơ Lê Thị Mây đã được nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành. (quý IV. 2003)
PHẠM PHÚ PHONGTrước khi có Hoa nắng hoa mưa (NXB Thanh Niên, 2001), Hà Huy Hoàng đã có tập Một nắng hai sương (NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 1998) và hai tập in chung là Một khúc sông Trà (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh) và Buồn qua bóng đuổi (NXB Văn hoá Dân tộc, 2000). Đã có thơ đăng và giới thiệu trên các báo Văn nghệ Trẻ, Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, Lao động, Người lao động, các tập san, tạp chí Thời văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Cẩm thành hoặc đăng trong các tuyển thơ như Hạ trong thi ca (1994), Lục bát tình (1997), Thời áo trắng (1997), Ơn thầy (1997), Lục bát xuân ca (1999)...
Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937. Quê ở Triệu Long, Triệu Hải, Quảng Trị. Năm 1960, tốt nghiệp khóa I, ban Việt Hán, Trường đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1964, nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. Năm 1960 - 1966, dạy trường Quốc Học Huế. Từng tham gia phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống Mỹ - ngụy đòi độc lập thống nhất Tổ quốc. Năm 1966 - 1975, nhà văn thoát li lên chiến khu, hoạt động ở chiến trường Trị Thiên. Sau khi nước nhà thống nhất, từng là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt.
ANH DŨNGLTS: Kết hợp tin học với Hán Nôm là việc làm khó, càng khó hơn đối với Phan Anh Dũng - một người bị khuyết tật khiếm thính do tai nạn từ thuở còn bé thơ. Bằng nghị lực và trí tuệ, anh đã theo học, tốt nghiệp cử nhân vật lý lý thuyết trường Đại học Khoa học Huế và thành công trong việc nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh bộ Phần mềm Hán Nôm độc lập, được giải thưởng trong cuộc thi trí tuệ Việt Nam năm 2001.Sông Hương xin giới thiệu anh với tư cách là một công tác viên mới.
SƠN TÙNGLTS: Trong quá trình sưu tầm, tuyển chọn bài cho tập thơ Dạ thưa Xứ Huế - một công trình thơ Huế thế kỷ XX, chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết các nhà thơ lớn đương thời khắp cả nước đều tới Huế và đều có cảm tác thơ. Điều này, khiến chúng tôi liên tưởng đến Bác Hồ. Bác không những là Anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hoá thế giới mà còn là một nhà thơ lớn. Các nhà thơ lớn thường bộc lộ năng khiếu của mình rất sớm, thậm chí từ khi còn thơ ấu. Vậy, từ thời niên thiếu (Thời niên thiếu của Bác Hồ phần lớn là ở Huế) Bác Hồ có làm thơ không?Những thắc mắc của chúng tôi được nhà văn Sơn Tùng - Một chuyên gia về Bác Hồ - khẳng định là có và ông đã kể lại việc đó bằng “ngôn ngữ sự kiện” với những nhân chứng, vật chứng lịch sử đầy sức thuyết phục.
NGUYỄN KHẮC PHÊAnh Hoài Nguyên, người bạn chiến đấu của nhà văn Thái Vũ (tức Bùi Quang Đoài) từ thời kháng chiến chống Pháp, vui vẻ gọi điện thoại cho tôi: “Thái Vũ vừa in xong TUYỂN TẬP đó!...” Nhà văn Thái Vũ từng được bạn đọc biết đến với những bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ như “Cờ nghĩa Ba Đình” (2 tập - 1100 trang), bộ ba “Biến động - Giặc Chày Vôi”, “Thất thủ kinh đô Huế 1885”, “Những ngày Cần Vương” (1200 trang), “Thành Thái, người điên đầu thế kỷ” (350 trang), “Trần Hưng Đạo - Thế trận những dòng sông” (300 trang), “Tình sử Mỵ Châu” (300 trang)... Toàn những sách dày cộp, không biết ông làm “tuyển tập” bằng cách nào?
MINH QUANG Trời tròn lưng bánh tét Đất vuông lòng bánh chưng Dân nghèo thương ngày Tết Gói đất trời rưng rưng...
NGUYỄN THỊ THÁITôi không đi trong mưa gió để mưu sinh, để mà kể chuyện. Ngày ngày tôi ngồi bên chiếc máy may, may bao chiếc áo cho người. Tôi chưa hề may, mà cũng không biết cách may một chiếc Yêng như thế nào.
Nhà thơ Hải Bằng tên thật là Vĩnh Tôn, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1930, quê ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông mất ngày 7 tháng 7 năm 1998.
NGUYỄN VĂN HOACuốn sách: "Nhớ Phùng Quán" của Nhà xuất bản Trẻ, do Ngô Minh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn với nhiều tác giả phát hành vào quý IV năm 2003. Cuốn sách có 526 trang khổ 13x19cm. Bìa cứng, in 1000 cuốn. Rất nhiều ảnh đẹp của Nguyễn Đình Toán - nhà nhiếp ảnh chân dung nổi tiếng của Việt nam. Đơn vị liên doanh là Công ty Văn hoá Phương Nam.
ĐÀ LINHĐể có trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, trước đó quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những trận đánh để đời mở ra những khả năng to lớn về thế và lực cho chúng ta. Trong đó Trận chiến trên đường (thuộc địa) số 4 - biên giới Cao Bắc Lạng 1950 là một trận chiến như vậy.
HOÀNG VĂN HÂNLướt qua 30 bài thơ của Ngô Đức Tiến trong “Giọng Nghệ”, hãy dừng lại ở những bài đề tài tình bạn. Với đặc điểm nhất quán, bạn của anh luôn gắn liền với những hoài niệm, với những địa chỉ cụ thể, về một khoảng thời gian xác định. Người bạn ấy hiện lên khi anh “nghĩ về trường” “Thăm trường cũ”, hoặc là lúc nhớ quá phải “Gửi bạn Trường Dùng” “ Nhớ bạn Thanh Hoá”. Bạn của anh gắn với tên sông, tên núi: sông Bùng, sông Rộ, Lạt, Truông Dong, Đồng Tháp.
FAN ANHTrên thế gian này tồn tại biết bao nhiêu báu vật, hoặc những huyền thoại về báu vật, thì cũng gần như hiện hữu bấy nhiêu nỗi đau và bi kịch của con người vốn dành cả cuộc đời để kiếm tìm, bảo vệ, chiếm đoạt hay đơn giản hơn, đặt niềm tin vào những báu vật ấy. Nhẫn thạch (Syngué sabour - Pierre de patience) của Atiq Rahimi trước tiên là một báu vật trong đời sống văn học đương đại thế giới, với giải thưởng Goncourt năm 2008, sau đó là một câu chuyện về một huyền thoại báu vật của những người theo thánh Allad.
KIM QUYÊNSinh năm 1953 tại Thừa Thiên (Huế), tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế năm 1976, sau đó về dạy học ở Khánh Hoà (Nha Trang) hơn 10 năm. Từ năm 1988 đến nay, nhà thơ xứ Huế này lại lưu lạc ở thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục làm thơ và viết báo. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện nay là biên tập viên Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật của Sở Thông tin Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh.