LTS: Trong thời gian qua, báo chí trong nước đã phản ảnh về việc Hội Quảng Tri - nơi diễn ra các hoạt động khai trí ở Huế đầu thế kỷ 20 - được đề xuất phá dỡ, xây mới để làm …trụ sở UBND phường.
Đề xuất này khiến người dân Huế và những người yêu Huế nói chung, nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ Huế nói riêng lo lắng, nhiều ý kiến đề nghị cần cẩn trọng.
Hội Quảng Tri năm xưa, nay là UBND phường Phú Hòa
Tạp chí Sông Hương xin cung cấp một số tư liệu liên quan đến Hội Quảng Tri - Huế (còn gọi là Hội quán Quảng Tri, Nhà Đại Chúng) qua sách báo và các bài viết của một số nhà nghiên cứu Huế, để các cấp có thẩm quyền có cơ sở suy xét, đưa ra những quyết định hợp lòng dân.
Các tư liệu cho thấy: Nơi đây gắn liền với tên tuổi các chí sỹ yêu nước như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng…; các nhà hoạt động cách mạng như Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu, Hoàng Anh…; các tên tuổi văn hóa lớn như Đào Duy Anh, Đạm Phương Nữ Sử, Phạm Quỳnh, Nguyễn Lân, Đào Đăng Vỹ, Manh Manh Nữ Sỹ, Ưng Quả, Hoài Thanh …
Với thành phố Huế, đây từng là nơi Hội đồng Nhân dân Thuận Hóa họp lần Thứ nhất sau Cách mạng Tháng Tám 1945.
Nhiều ấn phẩm văn hóa đã xuất bản tại đây, trong đó nổi bật là Tập văn họa Kỷ niệm Nguyễn Du. Đây cũng là nơi đóng tòa soạn của một số tớ báo cách mạng, trong đó có tạp chí Đại Chúng, cơ quan văn hóa cứu quốc Trung Bộ…
Các tư liệu tuy còn ít ỏi do thời gian sưu tầm gấp rút, song cũng đủ cho chúng ta thấy Hội Quảng Tri - Huế, thật sự là một địa chỉ văn hóa quý hiếm của cả nước, rất đáng được bảo tồn và phát huy.
SÔNG HƯƠNG
Hội Quảng Tri ở Huế
HỒ VĨNH
Hội Quảng Tri có trụ sở tọa lạc trên đường Hàng Bè, nay là số 51 Huỳnh Thúc Kháng, thành phố Huế. Hội Quảng Tri là một tòa lầu đứng soi bóng trên bờ sông Đông Ba. Ông Đào Đăng Vỹ đã từng làm Hội trưởng trong gần 15 năm: 1935 - 1949(1).
Lúc đầu những hội viên của Hội là những người bình thường có chút ít học thức vào Hội để trau dồi kiến thức. Về sau, dần dần có những người trí thức có bản lĩnh, có tinh thần yêu nước vào Hội để “gạn đục khơi trong” mở mang dân trí chờ cơ hội đứng ra giúp nước… Nơi đây tổ chức thường xuyên những buổi nói chuyện về văn hóa nghệ thuật, thời sự khoa học. Người ta còn nhớ trong những năm 1934 - 1935 ở đây nổ ra nhiều cuộc tranh luận về nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh; lần đầu tiên chủ nghĩa Duy vật được nói công khai và đã thắng chủ nghĩa Duy tâm. Đến năm 1936 đã có những cuộc họp của trí thức ở Hội Quảng Tri để lấy ý kiến đòi chính quyền thực dân Pháp phải tổ chức Đông Dương Đại hội theo tinh thần “dân chủ” của chính phủ Bình Dân mới lên cầm quyền ở Pháp(2). Ngày 23/1/1937, nhân danh chủ nhiệm báo Nhành Lúa, ông Nguyễn Xuân Lữ đã đứng ra tổ chức cuộc họp trù bị những người viết báo ở Huế tại Hội Quảng Tri. Hầu hết những người viết ở Huế đều đến dự. Buổi họp cũng đã cử ra Ủy ban trù bị Đại hội gồm Nguyễn Quý Hương (Báo Tiếng Dân), Nguyễn Xuân Lữ (Báo Nhành Lúa) và Phạm Bá Nguyên (Báo Kinh Tế Tân văn). Các ông Huỳnh Thúc Kháng, chí sĩ Phan Bội Châu, Tiêu Diêu Tử có gửi thư hoan nghênh hội nghị(3).
Riêng ông Đào Đăng Vỹ, nhà văn Nguyễn Vỹ trong tác phẩm “Tuấn - chàng trai nước Việt” có nhắc đến ông Hội trưởng này: “Buổi diễn thuyết ở Huế do một ông tên là Đào Đăng Vỹ, Hội trưởng Hội Quảng Tri chủ tọa, ông này hình như đã quen biết Tuấn từ lúc ông còn học trường Luật tại Hà Nội, và cũng là ký giả, trợ bút như Tuấn, trong tờ báo Pháp ngữ “La Patrie Annamite” của Tôn Thất Bình, rể Phạm Quỳnh”. Cuộc diễn thuyết bắt đầu 8 giờ tối thứ bảy. Thính giả đông nghẹt, ngồi chật ních trong cử tọa, lần đầu tiên có bà Đạm Phương đến dự. Bà là một nữ sĩ danh tiếng nhất của Đế Đô, một nữ học giả đã đứng tuổi giỏi cả Hán văn và Quốc văn, tác giả một số quyển sách có giá trị. Bà viết trong tạp chí Nam Phong và đăng thơ trong báo Tiếng Dân, ký tên Đạm Phương Nữ Sử. Lúc bấy giờ bà là Hội trưởng “Nữ công học hội” Huế. Đa số thính giả phụ nữ, gồm những nữ lưu trí thức ở Thần Kinh, là những phần tử tân tiến, không tán thành ý kiến của Tuấn về vấn đề phụ nữ đua xe máy. Họ cho rằng con gái đua xe máy như thế mới là tiến bộ.
Giữa lúc câu chuyện của Tuấn đang hăng say, (Tuấn ứng khẩu chứ không viết sẵn bài diễn thuyết) một vài thiếu nữ đứng dậy phản đối ý kiến của Tuấn. Tuấn bình tĩnh yêu cầu cho chàng nói hết xong rồi ai muốn chất vấn chàng sẽ xin trả lời. Nhưng hai cô yêu cầu Tuấn trả lời ngay. Ông chủ tọa Đào Đăng Vỹ phải can thiệp:
- Xin lỗi các cô, đây là Hội Quảng Tri mời diễn giả đến nói chuyện. Nếu các cô không đồng quan điểm với diễn giả, thì xin hôm khác sẽ tổ chức một buổi hội thảo chống lại. Hôm nay xin đừng ngắt lời diễn giả”. Thật thú vị khi lần tìm những dấu tích như thế, còn sót lại ít ỏi của từ điển gia người Huế Đào Đăng Vỹ(4).
Sau ngày Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, trụ sở Hội Quảng Tri là tụ điểm sinh hoạt nhộn nhịp nhất của trí thức Huế. Ngoài những cuộc họp mặt nghe thời sự cách mạng do các đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Anh, Tố Hữu, Hoài Thanh, Đỗ Nhuận, Phan Thị Nga… nói, còn có những buổi biểu diễn văn nghệ không chuyên của các tầng lớp nhân dân Huế(5).
Mùa xuân năm 1948 tại Hội Quảng Tri, ông Đào Đăng Vỹ tổ chức buổi nói chuyện do văn hào George Duhamel (Pháp) làm diễn giả; mở đầu bài diễn văn George Duhamel có lời lẽ dụ dỗ trí thức Huế “trở lại về nếp nhà xưa” và bị học sinh Huế đả đảo tẩy chay. Ông bắt đầu lập luận “Suy nghĩ là gì. Suy nghĩ là trở lại bước đường đã đi qua”(6). Bà Nguyễn Thị Mỹ Lý, cư dân ở phố Cửa Đông thuộc phường Phú Hòa, nay là đường Phan Đăng Lưu, thành phố Huế cho biết: “Năm 1955, tôi có đi xem ban nhạc Tân Hoa (ban nhạc Thiếu nhi trong đó có 5 người con của gia đình ông Tăng Duyệt) biểu diễn tại Hội Quảng Tri. Chương trình biểu diễn phần lớn hát những bài nhạc do Tinh Hoa xuất bản(7). “Hội Quảng Tri hoạt động đến năm 1968 thì suy yếu, sau năm 1975 hội giải tán. Ngôi nhà này sau năm 1975 được giao Phòng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp thành phố Huế. Năm 1989 giao Thành đoàn Huế làm Nhà Văn hóa Thanh Niên. Đến năm 2004, UBND phường Phú Hòa chuyển về đây. Ngôi nhà chính được cải tạo để phù hợp công năng mới. Còn lại hội trường và chiếc cổng nguyên gốc của Hội Quảng Tri vẫn giữ được đến nay. Mới đây, UBND phường Phú Hòa đã đề xuất với UBND thành phố Huế cho phá dỡ trụ sở hiện tại. Theo ông Tôn Thất Thái - Chủ tịch UBND phường Phú Hòa: “Trung tâm kiểm định chất lượng xây dựng cho biết phương án sửa chữa là không khả thi nên chúng tôi đề xuất được xây mới”. Nhà nghiên cứu Bửu Ý nói: “Công trình hiện đại thì ngày càng xây nhiều lên mà công trình của cha ông ngày xưa thì ngày một mất đi. Vì vậy, tôi đề xuất nên giữ lại để con cháu đời sau muốn tìm hiểu Hội Quảng Tri thì nó vẫn còn đó”(8).
Hội Quảng Tri là một di tích văn hóa một thời gắn bó quen thuộc của người dân Cố đô Huế. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho biết: “Trước đây Hội Quảng Tri có một thư viện với nhiều tài liệu sách vở quý giá như bộ Tứ khố Toàn Thư mà ở Việt Nam lúc ấy không nơi nào có. Nhờ số tài liệu sách vở này mà nhiều hội viên của Hội đã trở thành những nhà bách khoa của thế kỷ XX ở nước ta như các ông Đào Duy Anh, Đào Đăng Vỹ, Nguyễn Lân…”.
H.V
(SDB19/12-15)
......................................
(1) “Nhà văn Đào Đăng Vỹ và cuốn Bách khoa từ điển”, báo Thế giới tự do, số 6, tập VII, tr.12. Xem thêm: Niên giám Văn nghệ sĩ Việt Nam và Hiệp hội Văn hóa Việt Nam, 1969 - 1970, Sài Gòn, 1970, tr.111.
(2) Nguyễn Đắc Xuân, “Hội Quảng Tri”, Báo Tin Huế, số 22, từ 1 đến 10/10/1986, tr.4.
(3) Nguyễn Văn Cường, “Phong trào Dân chủ 1936 - 1939 ở Thừa Thiên Huế”, Luận văn Thạc sĩ Sử học, Trường Đại học Sư phạm Huế, 2012, tr.52. Xem thêm Nguyễn Thành, Báo chí cách mạng Việt Nam 1925 - 1945, Nxb. Khoa học xã hội Hà Nội, 1984, tr.178. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế - Báo Thừa Thiên Huế, Lịch sử báo Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1930 - 2010), Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2014, tr.62.
(4) Dẫn theo Võ Sơn Trung, “Một người Huế làm bộ từ điển bách khoa đầu tiên của Việt Nam”, Tạp chí Sông Hương, số 12, tháng 3/2014, tr.37.
(5) Nguyễn Đắc Xuân, “Hội Quảng Tri”, Bài đã dẫn, tr.4.
(6) Nhiều tác giả, Huế một thời học sinh, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội, 1996, tr.19. Bùi Minh Đức, Từ điển Tiếng Huế, Nxb. Văn học - Trung tâm Nghiên cứu Quốc Học, 2004, tr.437.
(7) Ghi theo lời kể của bà Nguyễn Thị Mỹ Lý, ngày 01/07/2010.
(8) An Bang, “Huế sẽ xóa bỏ dấu tích cuối cùng của Hội Quảng Tri”, Báo Tuổi Trẻ, 26/11/2015, tr.16.
Tải mã QRCode
TRẦN THỊ THANH…Núi Thuý Vân và chùa Thánh Duyên vì trước kia được xem là một trong những thắng cảnh của đất Thần Kinh nên các Chúa và các vua Nguyễn thường về đây thưởng ngoạn và làm thơ phú ca ngợi. Tuy nhiên, nổi tiếng hơn cả vẫn là những bài thơ được khắc trong hai tấm bia - một dựng trong chùa, một dựng dưới chân núi…
HỒ VĨNHĐồi Vọng Cảnh nằm cách thành phố Huế 7km về phía tây nam, vùng sơn phận này gồm nhiều núi đồi gối đầu lên nhau trong một khu vực rộng khoảng 2.400 ha diện tích đất tự nhiên. Về mặt địa hình của ngọn đồi, từ vị trí của tấm bia cổ Lý Khiêm Sơn (núi gối hậu của Khiêm Lăng - Tự Đức) kéo dài lên Vọng Cảnh là một dãy liên hoàn.
NGUYỄN QUANG HÀChùa Huyền Không Sơn Thượng tan trong non xanh và lá xanh. Dẫu đang còn tranh tre mộc mạc, nhưng thanh thoát, duyên dáng và thảnh thơi như lòng người ở đây. Đúng như nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh tâm sự: “Cảnh là tơ duyên của đời”. Đến Huyền Không Sơn Thượng cảm giác đầu tiên của tất cả du khách là thấy lòng mình ấm lại.
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNHChùa Linh Mụ đẹp quá, nên thơ quá. Nói vậy cũng chưa đủ. Nó tịnh định, cổ kính, an nhiên, trầm mặc. Nói vậy cũng chưa đủ. Phải nói nó là một bài thơ Thiền lồng lộng giữa không gian mây nước, giữa khói sương, giữa mênh mang dâu bể và lòng người. Nó là bức tranh thủy mặc thuộc họa phái Sumiye, Nhật Bổn, mà, nét chấm phá tuy giản phác nhưng lung linh, ảo diệu; vượt thời gian và đi vào vĩnh cửu. Nó là bài kinh vô ngôn, tuy không nói một chữ, mà đã làm lắng đọng trăm ngàn xôn xao của cuộc thế; và, gợi nhắc vô biên cho con người hướng đến điều chân, lẽ thiện...
NGÔ MINHHuế trên 350 năm là thủ phủ Chúa Nguyễn Đằng Trong và Kinh Đô của Đại Việt đã tích tụ nhân tài, vật lực cả quốc gia tạo ra một hệ thống Di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc và nổi tiếng như nhã nhạc, lễ hội dân gian, văn hóa ẩm thực... Trong Di sản văn hóa ẩm thực Huế, Văn hóa ẩm thực Cung đình là bộ phận tinh hoa nhất, giá trị nhất!
HÀ MINH ĐỨC Ký Sau chặng đường dài, vượt qua nhiều đồi núi của vùng Quảng Bình, Quảng Trị, khoảng 3 giờ chiều ngày 25/9/2003, đoàn chúng tôi về đến thành phố Huế. Xe chạy dọc bờ sông Hương và rẽ vào khu vực trường Đại học Sư phạm Huế. Anh Hồ Thế Hà, Phó Chủ nhiệm khoa Văn; chị Trần Huyền Sâm, giảng viên bộ môn Lý luận văn học cùng với các em sinh viên ra đón chúng tôi. Nữ sinh mặc áo dài trắng và tặng các thầy những bó hoa đẹp.
BĂNG SƠN Tuỳ bútDòng sông Hồng Hà Nội là nguồn sữa phù sa và là con đường cho tre nứa cùng lâm sản từ ngược về xuôi. Dòng sông Cấm Hải Phòng là sông cần lao lam lũ, hối hả nhịp tầu bè. Dòng sông Sài Gòn của thành phố Hồ Chí Minh là váng dầu ngũ sắc, là bóng cần cẩu nặng nề, là những chuyến vào ra tấp nập... Có lẽ chỉ có một dòng sông thơ và mộng, sông nghệ thuật và thi ca, sông cho thuyền bềnh bồng dào dạt, sông của trăng và gió, của hương thơm loài cỏ thạch xương bồ làm mê mệt khách trăm phương, đó là sông Hương xứ Huế, là dòng Hương Giang đất cố đô mấy trăm năm, nhưng tuổi sông thì không ai đếm được.
PHAN THUẬN THẢO Chiều chiều trước bến Vân Lâu Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm, Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông. Thuyền ai thấp thoáng bên sông, Đưa câu Mái đẩy chạnh lòng nước non. (Ưng Bình Thúc Giạ)
LÃNG HIỂN XUÂNChẳng hiểu sao, từ thuở còn thơ ấu, tôi đã có một cảm nhận thật mơ hồ nhưng cũng thật xác tín rằng: Chùa chính là nơi trú ngụ của những ông Bụt hay bà Tiên và khi nào gặp khó khăn hay đau khổ ta cứ đến đó thì thế nào cũng sẽ được giải toả hay cứu giúp!
BÙI MINH ĐỨCNói đến trang phục của các Cụ chúng ta ngày xưa là phải nhắc đến cái búi tó và cái khăn vấn bất di bất dịch trên đầu các Cụ. Các Cụ thường để tóc dài và vấn tóc thành một lọn nhỏ sau ót trông như cái củ kiệu nên đã được dân chúng đương thời gọi là “búi tó củ kiệu”. Ngoài cái áo lương dài, cái dù đen và đôi guốc gỗ, mỗi khi ra đường là các Cụ lại bối tóc hình củ kiệu và vấn dải khăn quanh trên đầu, một trang phục mà các cụ cho là đứng đắn nghiêm trang của một người đàn ông biết tôn trọng lễ nghĩa. Trang phục đó là hình ảnh đặc trưng của người đàn ông xứ ta mãi cho đến đầu thế kỷ thứ 20 mới bắt đầu có nhiều biến cải sâu đậm
MAO THUỶ THANH (*)Tiếng hát và du thuyền trên sông Hương là nét đẹp kỳ thú của xứ Huế. Trên sông Hương có hai chiếc cầu bắc ngang: cầu Phú Xuân và cầu Trường Tiền nhưng trước đây người dân Huế thường có thói quen đi đò ngang. Bến đò ở dưới gốc cây bồ đề cổ thụ, nằm đối diện với trường Đại học Sư phạm Huế. Một hôm, tôi và nữ giáo sư Trung Quốc thử ngồi đò sang ngang một chuyến. Trên đò đã có mấy người; thấy chúng tôi bước xuống cô lái đò áp đò sát bến, mời chúng tôi lên đò.
VÕ NGỌC LANBuổi chiều, ngồi trên bến đò Quảng Lợi chờ đò qua phá Tam Giang, tôi nghe trong hư vô chiều bao lời ru của gió. Lâu lắm rồi, tôi mới lại được chờ đò. Khác chăng, trong cảm nhận tôi lại thấy bờ cát bên kia phá giờ như có vẻ gần hơn, rõ ràng hơn.
HỒNG NHUTôi vẫn trộm nghĩ rằng: Tạo hóa sinh ra mọi thứ: đất, nước, cây cỏ chim muông... và con người. Con người có sau tất cả những thứ trên. Vì vậy cỏ cây, đất nước... là tiền bối của con người. Con người ngoài thờ kính tổ tiên ông bà cha mẹ, những anh hùng liệt sĩ đã mất... còn thờ kính Thần Đất, Thần Nước, Thần Đá, Thần Cây...là phải đạo làm người lắm, là không có gì mê tín cả, cho dù là con người hiện đại, con người theo chủ nghĩa vô thần đi nữa! Chừng nào trên trái đất còn con người, chừng đó còn có các vị thần. Các vị vô hình nhưng không vô ảnh và cái chắc là không vô tâm. Vì sao vậy? Vì các vị sống trong tâm linh của con người, mà con người thì rõ ràng không ai lại tự nhận mình là vô tâm cả.
MẠNH HÀTôi không sinh ra ở Huế nhưng đã có đôi lần đến Huế, khác với Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh, Huế có nét trầm lắng, nhẹ nhàng, mỗi lần khi đến Huế tôi thường đi dạo trên cầu Trường Tiền, ngắm dòng Hương Giang về đêm, nghe tiếng ca Huế văng vẳng trên những chiếc thuyền rồng du lịch thật ấn tượng. Cho đến nay đã có biết bao bài thơ, bài hát viết về Huế thật lạ kỳ càng nghe càng ngấm và càng say: Huế đẹp, Huế thơ luôn mời gọi du khách.
VÕ NGỌC LANNgười ta thường nói nhiều về phố cổ Hội An, ít ai biết rằng ở Huế cũng có một khu phố cổ, ngày xưa thương là một thương cảng sầm uất của kinh kỳ. Đó là phố cổ Bao Vinh. Khu phố này cách kinh thành Huế chừng vài ba cây số, nằm bên con sông chảy ra biển Thuận An. Đây là nơi ghe, thuyền trong Nam, ngoài Bắc thường tụ hội lại, từ cửa Thuận An lên, chở theo đủ thứ hàng hoá biến Bao Vinh thành một thương cảng sầm uất vì bạn hàng khắp các chợ trong tỉnh Thừa Thiên đều tập trung về đây mua bán rộn ràng.
NGUYỄN XUÂN HOATrước khi quần thể di tích cố đô Huế được công nhận là di sản văn hoá thế giới, thành phố Huế đã được nhiều người nhìn nhận là một mẫu mực về kiến trúc cảnh quan của Việt Nam, và cao hơn nữa - là “một kiệt tác bài thơ kiến trúc đô thị” như nhận định của ông Amadou Mahtar M”Bow - nguyên Tổng Giám đốc UNESCO trong lời kêu gọi tháng 11-1981.
DƯƠNG PHƯỚC THU Bút kýXứ Thuận Hóa nhìn xa ngoài hai ngàn năm trước, khi người Việt cổ từ đất Tổ Phong Châu tiến xuống phía Nam, hay cận lại gần hơn bảy trăm năm kể từ ngày vua Trần Anh Tông cho em gái là Huyền Trân Công chúa sang xứ Chàm làm dâu; cái buổi đầu ở cương vực Ô Châu ác địa này, người Việt dốc sức tận lực khai sông mở núi, đào giếng cày ruộng, trồng lúa tạo vườn, dựng nhà xây đình, cắm cây nêu trấn trị hung khí rồi thành lập làng xã.
TRƯƠNG THỊ CÚCSông Hương, một dòng sông đẹp, sôi nổi với những ghềnh thác đầu nguồn, mềm mại quàng lấy thành phố như một dải lụa, hài hoà tuyệt diệu với thiên nhiên xinh đẹp và hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm, đền chùa; với hàng trăm điệu hò, điệu lý; với những ngày hội vật, hội đua trải, đua ghe; với mảnh vườn và con người xứ Huế, là nguồn cảm hứng vô tận của người nghệ sĩ, thu hút sự say mê của nhiều khách phương xa. Không những là một dòng sông lịch sử, sông Hương còn là không gian văn hoá làm nẩy sinh những loại hình nghệ thuật, những hội hè đình đám, là không gian của thi ca, nhạc hoạ, là dòng chảy để văn hoá Huế luân lưu không ngừng.
TÔN NỮ KHÁNH TRANG Khi bàn về văn hoá ẩm thực, người ta thường chú trọng đến ẩm thực cung đình, hay dân gian, và chủ yếu đề cập đến sinh hoạt, vai trò, địa vị xã hội... hơn là nghĩ đến hệ ẩm thực liên quan đến đời sống lễ nghi.
TRƯƠNG THỊ CÚC• Bắt nguồn từ những khe suối róc rách ở vùng núi đại ngàn A Lưới - Nam Đông giữa Trường Sơn hùng vỹ, ba nhánh sông Tả Trạch, Hữu Trạch và nguồn Bồ đã lần lượt hợp lưu tạo thành hệ thống sông Hương, chảy miên man từ vùng núi trung bình ở phía đông nam A Lưới, nam Nam Đông, băng qua những dãy núi đồi chập chùng ở Hương Thuỷ, Hương Trà, Phong Điền rồi xuôi về đồng bằng duyên hải, chảy vào phá Tam Giang để đổ nước ra biển Đông.