“Hoa vẫn lặng thầm nuôi lớn nỗi cô đơn”

09:16 07/01/2025
(Đọc tập tiểu luận “Ngắn dần đều” của Hoàng Đăng Khoa, Nxb. Đà Nẵng và Book Hunter, 2024)

Ngắn dần đều chọn vấn đề khó, vấn đề cơ bản, yếu tính của văn học hiện đại/ đương đại để đối diện, luận bàn: cái nhìn trong sáng tạo, phê bình văn học hôm nay, bản lĩnh và bản sắc của người cầm bút, hướng đến một tư duy lý luận văn học động và mở, sự cách tân trong thơ, tác giả nữ và biểu đạt giới, người viết trẻ tự vẽ những đường bay… Sự đa diện đó của nội dung cuốn sách mở ra nhiều chiều kích, vừa cụ thể vừa khái quát trên nhiều lĩnh vực của văn học: sáng tác, tiếp nhận - nghiên cứu phê bình.

Vững vàng trong lý thuyết, đọc nhiều và đọc đa dạng, bao quát cả nền và đỉnh, cả trung tâm lẫn ngoại biên, quan tâm những người viết văn trẻ, quan tâm cả đời sống văn học trong học đường và văn chương mạng, ý thức về căn tính dân tộc, về khí quyển, thổ nhưỡng văn hóa Việt, tiếp nhận có chọn lọc thành tựu nghiên cứu về lý luận văn học Việt Nam và thế giới, vừa là nhà thơ vừa là nhà phê bình, đam mê và tỉnh táo…, Hoàng Đăng Khoa trình ra những tiểu luận có chiều sâu và khúc chiết, sinh động và tinh tế, thường đặt trong sự cộng sinh phê bình và sáng tác, trong “hoàn cảnh hậu hiện đại”, trong thế mở và động của tư duy lý luận văn học. Hoàng Đăng Khoa thực sự “song hành và đối thoại” với đọc và viết, đối thoại với thời gian và đối thoại với chính mình. Duy lý, duy mĩ và duy cảm, ba trong một. Với bản lĩnh tư duy độc lập, anh không sa vào đám đông, tránh được lối phê bình xu phụ, diễn - bình - tán… Tâm thế nhập cuộc, trên đường xa vừa đi vừa nhìn lại. Không áp đặt, diễn ngôn mở. Dị ứng với quan phương, với phê bình nửa vời, nhìn thấy mà chưa thấu. Anh thẳng thắn chỉ ra và phản biện, nói như Lê Đạt là “đối thoại chứ không đối thụi, tranh luận mà vẫn sang trọng”. Với 7 tập phê bình, tiểu luận, từ Gặp đến Ngắn dần đều, đã hiện lên rõ nét, đầy đặn gương mặt, phong cách và cá tính phê bình văn học Hoàng Đăng Khoa.

Suy cho cùng, câu chuyện của văn chương là câu chuyện của cái nhìn và biểu đạt. Không phải ngẫu nhiên, Nghệ thuật của cái nhìn mở đầu cho cuốn sách. Đây là tiểu luận có dung lượng dài nhất trong Ngắn dần đều. Có thể nói, tiểu luận này thể hiện khá rõ tạng phê bình, cách nhìn và diễn ngôn của Hoàng Đăng Khoa. Nghệ thuật của cái nhìn như một lời cảnh báo về sự vô cảm, cực đoan, về hiện trạng văn bản tác phẩm ra đời bởi “cặp mắt lạnh tanh, nhìn gần, của thứ máu lạnh”.

Từ thực tiễn tiếp nhận thơ Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Hoàng Hưng nói riêng, thực tiễn tiếp nhận thơ cách tân nói chung, Hoàng Đăng Khoa phân tích luận bàn về tính khả dụng và giới hạn của lý thuyết tiếp nhận. Trên cơ sở đối chiếu/ tham chiếu giữa các hệ hình thơ, giữa truyền thống và hiện đại/ đương đại, bài viết nhấn mạnh sự khác biệt và đổi mới trong tiếp nhận là ở mối quan hệ: văn bản - người đọc. Chúng ta dễ dàng nhận ra độ trễ trong cách đọc, cách nhìn, kể cả sự lúng túng, chóng mặt, thậm chí quay lưng của không ít người đọc trước tròng trành và đứt gãy từ cái nhìn trong tư tưởng hệ hình, trong “hoàn cảnh hậu hiện đại”. Trong khi đó, với những ca khó như Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Hoàng Hưng, bên cạnh sự nỗ lực cách tân cần được ghi nhận, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận “thơ của họ cách tân không đồng bộ (nghĩa không theo kịp chữ, hình thức không đi liền với nội dung, hoặc ngược lại…), và không đồng đều (mức độ thành công ở mỗi bài/ câu không giống nhau)” dẫn tới sự tiếp nhận, đánh giá nhiều khi trái ngược, thậm chí đẩy về đầu mút của hai thái cực. Trong bối cảnh ấy, vai trò, trách nhiệm “song hành và đối thoại” của người làm phê bình văn học rất quan trọng. Trước thực tế “không có lý thuyết nào là toàn bích, độc tôn”, Hoàng Đăng Khoa gợi mở giải pháp: “cách hành xử khôn ngoan là tỉnh táo gạn đục khơi trong, đa dạng hóa lý thuyết tiếp nhận”. Thẳng thắn và chân thành, anh mở rộng đối thoại, gợi ra những kinh nghiệm, bài học cho nhiều phía: “Đối với tiếp nhận - phê bình, từ đây người ta có ý thức hơn trong việc nâng tầm đón nhận khi gặp thơ khó, thiết tạo cách đọc mới khi gặp thơ lạ, ứng xử với thơ bằng tâm thế không định kiến, bằng thái độ không phủ nhận sạch trơn… Đối với sáng tác, từ đây người ta táo bạo hơn trong cách tân, dũng cảm hơn trong thể nghiệm… Đối với lý luận thơ, từ đây người ta không đóng khung lý thuyết, không đông cứng thể loại, coi trọng vai trò hướng đạo của lý luận đối với sáng tác, tiếp nhận - phê bình”.

Các phương diện của hai tiểu luận trên đây, đã được tác giả luận sâu hơn trong các tiểu luận khác của tập sách: Hướng đến một tư duy lý luận văn học động và mở, Về phê bình văn học hôm nay, Văn chương và câu chuyện đi tìm nhân dạng… Sự liên kết ấy hình thành mạch diễn ngôn cộng hưởng, logic và cũng là một liên văn bản tạo nên Ngắn dần đều.

Mỗi thế hệ người cầm bút có vẻ đẹp riêng, ưu thế và cả hạn chế riêng. Đổi mới là tất yếu. Gần nửa thế kỷ qua, hiện đại hóa là một quá trình đã được khẳng định trong văn học dân tộc. “Đứng về phe cái khác”, cởi mở, dân chủ và trách nhiệm, Hoàng Đăng Khoa luôn có cái nhìn biện chứng, ý thức trước trang giấy trắng, để tạo ra “những tờ sạch”. Cổ vũ cho cái mới, cái khác…, nhưng anh không quá khích. Anh cũng cảnh báo chớ nên xét nét, vô tình tạo ra sự đối đầu giữa truyền thống với hiện đại. Người viết trẻ có đáng bị bắt bẻ, tên một tiểu luận, là một câu hỏi mở, trực diện, chia sẻ và đầy cảm thông. Đây là một đoạn trong bài viết ấy: “Mỗi thế hệ cầm bút thuộc về một môi sinh riêng, kiến tạo và sở hữu phông nền riêng, đường bay riêng, hệ giá trị riêng. Thế giới vạn trạng, văn chương muôn hình. Văn chương không có lối đi chung cho hai người. Nếu cứ cao đàm khoát luận để can gián bắt bẻ người viết trẻ, áp đặt chân lý lên họ, thì sẽ không tạo sinh được ‘một cuộc gặp gỡ’ nào cả, ngược lại, chỉ làm gia tăng sự xung đột đứt gãy thế hệ mà thôi”.

Trong thời chộn rộn, trong “thế giới phẳng”, khi văn học chuyển động giữa nhiều đường biên mong manh, đan chéo nhau, rất cần cái nhìn trách nhiệm, có lý có tình, khoa học và thực tiễn, liên tài và dự báo. Hơn nữa, “tất cả những người lớn đều từng là trẻ con, nhưng rất ít người trong số đó nhớ về điều đó”. Hoàng Đăng Khoa nhấn mạnh, “mấu chốt vẫn là câu chuyện tài năng”, những người viết trẻ “phải đương đầu và vượt qua các trở ngại khi tìm cách diễn đạt bản thân”. Với kiến văn sâu rộng, với cái nhìn cởi mở, kết hợp giữa lý luận văn học hiện đại/ đương đại và “cây đời xanh tươi” của thực tiễn văn chương, các tiểu luận của anh thường hướng về phía ánh sáng, chữ nghĩa tạo sinh trong thế của tay ga, trên hành trình “tự vẽ đường bay”, “vẫy vào vô tận”.

Cách đặt tên cho các bài viết, cũng như giọng văn tiểu luận thể hiện nội lực ngôn từ đa dạng, hàm súc và giàu chất thơ của tác giả cuốn sách. Mở đầu mỗi tiểu luận là một đề từ. Nếu tập hợp lại sẽ có nhiều câu thơ tự do giàu cảm niệm, vừa khơi gợi vừa dẫn dụ, ví như: người tình như bài thơ/ đọc một đời không hết, ý nghĩ như đại ngàn/ ngựa tung vó đi hoang/ rừng thăm thẳm chân trời tít tắp/ đường tự do có là đường cũ bao giờ, trong màn sống hư ảo/ không gì thực bằng giấc mơ… Văn tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa có phong vị tùy bút, nhưng không tứ tán lan man, mà mạch lạc sáng rõ, chắc đặc kiệm lời. Có cái gì tự nhiên như hơi thở. Tự nhiên trong lặng lẽ. 

Người chết ngang và đóa buồn nở dọc, tên một tiểu luận như khiêu khích sự tiếp nhận. Bài viết mang đến vẻ đẹp của nỗi buồn, giúp người đọc hiểu thêm lý do của thơ. Bởi vì, “điều đáng sợ không phải là buồn đau, mà là hoặc trơ lì ráo hoảnh, hoặc buồn đau không tận độ. Và những trang sách khiến người đọc khóc được là những trang sách đạt đạo trót đời”. Luận về nỗi buồn mà thấm thía bởi sự chân thành. Nhiều khi luận về nước mắt và yêu thương, tri thức bỗng trở thành yếu đuối. Đó là minh triết của trái tim, của chữ nghĩa thành thật. Có nhiều kiểu sống chết, vấn đề là “làm sao để cái sinh có thể lộng lẫy như đóa hoa mùa hạ, theo đó cái tử có thể lặng lẽ và đẹp đẽ như chiếc lá mùa thu, như cách nói mà nhà thơ Rabindranath Tagore từng xác quyết”.

Nghiêm cẩn trong học thuật, tâm cảm nghệ sĩ và lịch lãm trong văn hóa, văn chương, thông tuệ và khoáng hoạt, Hoàng Đăng Khoa thực sự mang đến những tiểu luận “động và mở”, có sức truyền cảm hứng tới cả người đọc và người viết.

Thì ra, tên sách Ngắn dần đều được Hoàng Đăng Khoa đặt chơi, liên quan đến việc các tiểu luận trong tập sắp xếp theo thứ tự dung lượng chữ từ dài đến ngắn. Đọc Ngắn dần đều, tôi lại thấy cuốn sách mở dần ra chân trời hy vọng vào một thế hệ phê bình văn học mới, trong đó có Hoàng Đăng Khoa.

Đêm đã chìm vào sâu lắng, tôi cứ hình dung phía ngôi nhà văn chương số 4 Lý Nam Đế, hoa đại cứ đổ bóng vào trang viết. Nói như nhà thơ Thổ Nhĩ Kỳ Can Yucel là, “hoa vẫn lặng thầm nuôi lớn nỗi cô đơn”.

L.A.P
(TCSH55SDB/12-2024)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Tin nổi bật
  • ĐINH NAM KHƯƠNG(Thơ Tuyết Nga - NXB Hội Nhà văn 2002)

  • NGUYỄN VĂN HOA1. Cuối thế kỷ 20, tôi làm cuốn sách “Tuyển tập thơ văn xuôi Việt Nam và thế giới” cùng tiến sỹ Nguyễn Ngọc Thiện (Viện Văn học Việt Nam), trong tập sách này gồm phần học thuật và phần tuyển thơ Việt Nam và Thế giới. Phần thơ Việt có nhiều tác giả sinh sống ở Huế, ngẫu nhiên-tình cờ có hai nhà thơ có thơ trong tập này, đó là Hải Bằng và Hải Trung.

  • NGA LINH NGA1. Xuất bản mười hai tập thơ, mười hai tập văn xuôi, một tập nhạc; viết mười hai kịch bản phim chân dung, hai mươi lời bình cho các phim khác, biên soạn hai mươi tập nhạc... điều thật khó tin ở một người nổi tiếng rong chơi, thích cao đàm khái luận, thường không mấy khi vắng mặt nơi những cuộc rượu của đám văn nghệ Hà Thành như Nguyễn Thụy Kha.

  • L.T.S: Trong vài năm lại đây, ở Huế, chưa có tập sách nào ra đời lại gây được “hiệu ứng ngạc nhiên” cho bạn đọc như một hiện tượng ngoài tập Thơ Trà My của Nguyễn Xuân Hoa ấn hành vào dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng Huế và Đà Nẵng vừa qua. Ngoài các bài viết giới thiệu, phê bình in trên nhiều tờ báo trung ương và địa phương, Sông Hương vẫn tiếp tục nhận được thêm các ý kiến cảm thụ về tập thơ này.Xin trân trọng giới thiệu cùng quý bạn đọc

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG           (Đọc tập thơ Trà My của Nguyễn Xuân Hoa)

  • YÊN CHÂU          (Đọc Thơ Trà My của Nguyễn Xuân Hoa)Giống như những cây xanh bói muộn bất ngờ cho một mùa hoa trái, thơ Nguyễn Xuân Hoa xuất hiện đột ngột như vậy. Anh không cho in rải rác đâu đó, cũng không đọc thơ ở những cuộc gặp gỡ bạn bè. Im lặng, đùng một cái cho ra hẳn một tập thơ. Thơ Trà My của nguyễn Xuân Hoa đã đến với bạn bè như vậy.

  • BÙI ĐỨC VINH            (Nhân đọc tập thơ “Cho người tôi thương nhớ”-NXB Hội Nhà văn 2004)Có một chàng thi sĩ phong tình đi lang thang vô định trên nẻo đường mưa bay gió tạt, chợt lơ đãng nhận ra mình là kẻ bị tình yêu truy nã trong bài thơ “Nhận diện” anh đã tự thú với trái tim thổn thức của mình.

  • INRASARA           (Đọc Mang, tập thơ của Phan Trung Thành, Nxb, Trẻ TP.Hồ Chí Minh, 2004.)Dòng Seine và cầu Mirabeau, cuộc tình với người tình. Sông đi và cầu ở lại, cuộc tình tan nhưng người tình thì ở lại. Mãi mãi ở lại, cùng nỗi buồn ở lại.                Con sông nào đã xa nguồn                Thì con sông đó sẽ buồn với tôi                                                (Thơ Hoài Khanh)

  • THANH THIỆNBốn mùa yêu là tập thơ tình mang ý nghĩa "vật chứng" cho một biệt lập tâm hồn có tên là Lưu Ly. Người thơ này dường như luôn đắm mình trong giai điệu tình yêu muôn thuở giữa ba ngôi Trao - Nhận - Trả và đã chọn cách trả sòng phẳng nhất cho sự nhận của mình là trả vào thơ.

  • NGUYỄN VĂN HOA(Nhân đọc Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường)Tôi đã đọc nhiều tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường và tôi cũng đã gặp ông trực tiếp đôi ba lần ở Huế và Hà Nội. Nhưng ấn tượng nhất là buổi hội ngộ của gia đình tôi với ông ở nhà nhà thơ Ngô Minh ở dốc Bến Ngự Huế.

  • HOÀNG VŨ THUẬT         (Thơ Chất trụ của Nguyễn Hữu Hồng Minh- Nxb Thuận Hoá 2002)Nguyễn Hữu Hồng Minh không làm cái phép phù thuỷ đưa độc giả tới một không gian rắc rối. Quan niệm về thơ của anh được trình bày rất nghiêm túc qua bài “Chất trụ”, lấy tên cho tập thơ. Tôi rất đồng tình quan niệm này, không mới, nhưng không dễ làm người ta chấp nhận.

  • HOÀNG NGỌC HIẾN(Đọc Dòng sông Mía của Đào Thắng)

  • TRẦN THIÊN ĐẠOCứ suy theo nhan đề, thì chúng ta có thể xếp các trang Viết về bè bạn - Tập chân dung văn nghệ sĩ (NXB Hải Phòng, 2003) của Bùi Ngọc Tấn cùng một loại với mấy tập sách đã ra mắt bạn đọc vài ba năm nay.

  • NGÔ MINHDi chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh do BCH TW Đảng công bố  trong ngày tang lễ Bác tại Quảng trường Ba Đình ngày 3-9-1969 (năm Kỷ Dậu) là một tác phẩm văn hóa lớn, thể hiện tình yêu Tổ Quốc, yêu nhân dân và nhân cách vĩ đại của Bác Hồ.

  • HÀ VĂN THỊNHTrong lịch sử của loài người, những vĩ nhân có tầm vóc và sự nghiệp phi thường chỉ có khoảng vài chục phần tỷ. Nhưng có lẽ rất chắc chắn rằng sự bí ẩn của những nhân cách tuyệt vời ấy gấp nhiều lần hơn tất cả những con người đang sống trên trái đất này. Tôi đã rất nhiều lần đọc Hồ Chí Minh Toàn tập, nhưng mỗi lần đều trăn trở bởi những suy tư không thể hiểu hết về Người.

  • HOÀNG NGỌC VĨNHHồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lãnh tụ xuất sắc của phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, Chủ tịch Đảng Cộng sản Việt Nam, là người Việt Nam đầu tiên soạn thảo và ban bố các sắc lệnh tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Việt Nam.

  • BÙI ĐỨC VINH(Nhân đọc tập thơ “Đá vàng” của Đinh Khương - NXB Hội Nhà văn 2004)

  • NGÔ XUÂN HỘITính tình phóng khoáng, Trần Chấn Uy chắc không mặn mà lắm với những cuộc chơi mà luật chơi được giới hạn bởi những quy định nghiêm ngặt! Ý nghĩ trên của tôi chợt thay đổi khi mở tập thơ Chân trời khát của anh, ngẫu nhiên bắt gặp câu lục bát: “Dòng sông buồn bã trôi xuôi/ Đàn trâu xưa đã về trời ăn mây”...

  • TRẦN THUỲ MAI( “Thơ Trà My” của Nguyễn Xuân Hoa - NXB Thuận Hoá, 2005)

  • HỒ THẾ HÀ(Đọc tập thơ Lửa và Đất của Trần Việt Kỉnh - Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hoà, 2003)