Năm nay đã 90 tuổi, gần 70 năm lao động nghệ thuật, họa sĩ Huỳnh Phương Đông đã vẽ 20.000 bức tranh, ký họa.
Ông tâm sự: “Trong 70 năm lao động miệt mài, hết 30 năm đã diễn ra trong khói lửa chiến tranh, ngót 40 năm trong hòa bình xây dựng đất nước. Nhưng số tác phẩm về chiến tranh cách mạng vẫn nhiều hơn tranh về hòa bình. Đó là một thực tại không thể phủ nhận và cũng là… khuyết điểm của tôi. Đây là tấm lòng, tình cảm của tôi với nhiều nỗi băn khoăn đối với cuộc chiến đấu của dân tộc, quá lớn lao, quá cao đẹp, quá nhiều anh hùng, chiến sĩ, liệt sĩ. Tôi chưa thể ghi được, vẽ được hết sự ác liệt của chiến tranh, nỗi gian nan, nét anh hùng của nhân dân ta, dân tộc ta với nhiều gương sáng tuyệt vời”.
Sợ hết cơ hội
Tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc với tư cách là họa sĩ - chiến sĩ, mỗi bức tranh về cuộc chiến bảo vệ đất nước mà ông đã vẽ đều thấm máu của đồng đội.
Vẽ bất cứ khi nào có thể là nhu cầu của Huỳnh Phương Đông. Ngày ở chiến trường, ông luôn mang theo bên mình bút vẽ, hộp màu và mẩu than chì đựng trong một thùng đạn méo mó của Mỹ. Chất liệu vẽ rất hiếm hoi nên ông luôn tùy cơ ứng biến, sử dụng bất cứ loại giấy nào mình có: những mẩu carton, giấy vụn, bìa lịch, truyền đơn… Ông phải dùng bút vẽ tự tạo bằng những cành cây. Khi thiếu chất pha sơn, ông phải dùng màu nguyên bơm ra từ tuýp màu. Bất chấp điều kiện thiếu thốn trăm bề ấy, ông liên tục phác thảo và ký họa khung cảnh chiến trường, các đơn vị chiến đấu, cuộc sống hàng ngày trong khu căn cứ, chân dung người đồng chí, chân dung cán bộ lãnh đạo và chiến sĩ, chân dung một người tù binh Mỹ. Có lần đoàn đi tải gạo, đến đoạn Cần Xe - Trảng Bom gặp máy bay địch bắn phá. Khi vừa tan cuộc, khói lửa chung quanh còn bốc lên ngùn ngụt đã thấy ông Ba Đông lấy giấy bút ra, đứng giữa đồng không ghi ghi chép chép. “Có gì đảm bảo máy bay địch không quay trở lại quần đảo như bao lần trước, trong khi đó họa sĩ này coi như không”, họa sĩ Lê Thanh Trừ nhớ lại. Khi đi vẽ tranh ở chiến trường Đồng Tháp Mười những năm ác liệt 1972 - 1973, có những trận kẻ thù chỉ ở cách ông... 50 phân! Kẻ trên bờ, người dưới nước! Có trận 25 chiếc trực thăng đã chụp xuống đơn vị ông... ở nhà anh em đã mặc niệm (!).
Sau giờ chiến đấu, từ những bức phác thảo, ông triển khai thành tranh màu nước hoặc sơn dầu. Những tác phẩm lớn như: Trận Ấp Bắc, Trận Bình Giã, Trận cầu Chữ Y, Trận Junction city… ra đời như thế, phản ánh sự căng thẳng, khốc liệt của trận đánh và cảm giác hồi hộp, bức bối. Người xem dường như bị hút vào trận đánh với những cận cảnh sinh động chỉ có được khi họa sĩ trực tiếp có mặt tại đó. Nhiều cảnh được vẽ bằng những mảng màu đỏ dữ dội, ma quái, cho thấy sự khốc liệt của chiến trường. Ông nhớ lại: “Tôi vẽ ngay sau mỗi trận đánh bởi tôi sợ mình có thể hy sinh và không còn cơ hội được vẽ”.
Ông vẽ rất nhiều chân dung và nhiều người đã hy sinh ngay sau khi ông vẽ. Những bức chân dung thường được ông vẽ rất nhanh, ngay tại chỗ, rất chân thực và sống động, gây ấn tượng đậm nét cho người xem. Bà Johanna Branson, tiến sĩ lịch sử mỹ thuật, người Mỹ, nhận xét: “Ông luôn chú tâm quan sát, ghi lại hình ảnh những người xung quanh mình. Nhưng ông không đơn giản chỉ vẽ họ, mà còn chia sẻ những trải nghiệm của mình với họ, ông trở thành một phần trong đời sống của các nhân vật. Chính điều này đã tạo nên nét độc đáo, tiêu biểu, đặc trưng trong tác phẩm của Huỳnh Phương Đông, độc đáo đến mức kỳ lạ”.
Còn với họa sĩ Vũ Giáng Hương: “Huỳnh Phương Đông có bút pháp phóng khoáng, tranh của ông mang màu sắc trong sáng, trong cảnh tàn phá vẫn có những mảng trời xanh thân yêu của đất nước - màu của niềm tin và hy vọng. Tình cảm với quê hương, lòng quyết tâm chiến đấu, khả năng diễn đạt của ông đã tạo nên những tác phẩm hội họa có giá trị nghệ thuật”.
![]() |
| Gặp bất cứ ai, họa sĩ Huỳnh Phương Đông cũng giở đồ nghề ra ký họa. |
Ký họa là tài liệu quý
Trước đây có người cho rằng ký họa không phải là tác phẩm. Họa sĩ Huỳnh Phương Đông suy nghĩ nhiều mà không nói ra và cứ lao động miệt mài vượt lên tạo tác phẩm từ kho tư liệu quý giá đó. “Tôi đã theo con đường đứng lên cầm súng khi đất nước lâm nguy. Và tôi đã chọn con đường hiện thực trong nghề nghiệp để phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp cách mạng”, ông tâm niệm.
Quan sát tinh tế và liên tục sáng tạo là nhu cầu của Huỳnh Phương Đông. Những năm 1940, ở tuổi 15, khi theo học trường Mỹ thuật thực hành, ông đã nảy ra ý định chế tạo bút vẽ vì hồi đó rất khó kiếm một cây cọ tốt ở Sài Gòn. Quan sát những chiếc bàn chải bán tại khu người Hoa trong Chợ Lớn, ông phát hiện chúng được làm từ lông heo. Xin được lông heo từ mấy nhà buôn, ông ngồi nhà mày mò làm bút vẽ. Thử nghiệm nhiều kiểu dáng khác nhau, cuối cùng ông chế tạo được loại bút vẽ dùng nhiều lần mà vẫn không bị tòe. Ông cùng người bạn đồng môn Hồ Tấn Thuận sản xuất bút vẽ đem bán, nguyên liệu là lông heo, vỏ hộp sữa dùng làm đế bút. Mài giũa và đánh bóng một chút, những cây cọ hoàn chỉnh được bày bán tại một cửa hàng của người Pháp có tên là Albert Portail, đối diện khách sạn Continental. Đây chính là nguồn thu nhập thường xuyên của chàng sinh viên mỹ thuật có đầu óc kinh doanh.
Ông không chỉ vẽ khá nhanh các chân dung mà còn thể hiện được tính cách của người mẫu, chỉ cần phác qua vài nét đã rõ người trong tranh là ai. Và Huỳnh Phương Đông luôn say mê ký họa chân dung bất cứ khi nào có dịp. Họa sĩ Lê Thanh Trừ kể: “Có lần đi dự một liên hoan cuối năm, khi bàn tiệc đã dọn ra, ông vẫn mê mải ký họa cho đồng nghiệp bức chân dung kỷ niệm. Nhiều người vây quanh trầm trồ. Ba Đông chợt nhận ra một người bạn cũ.
- À, anh Sáu hả? Đợi chút nhen. Tôi sẽ kỷ niệm anh một bức…
Chân dung người bạn cũ vừa vẽ xong chưa kịp ký tên đã có người khác ngồi thay chỗ.
- Đợi đấy, đợi đấy.
Rồi lại người nữa, người nữa… Huỳnh Phương Đông vẽ tặng không biết mệt. Khi xong bức cuối cùng mới hay những người dự tiệc đã dần dần đứng lên bắt tay nhau từ giã”.
Lần gần nhất ông chuyển nhà phải chở 11 chuyến xe tải mới hết tranh, tượng! Riêng chân dung đã 3.500 bức... Căn nhà ông gần 250m2 diện tích sử dụng nhưng dường như quá nhỏ bé, chật hẹp khi phải chứa đựng một khối lượng tranh đồ sộ. Con gái ông là Huỳnh Phương Lan, người cũng được cha truyền tình yêu hội họa và trở thành họa sĩ, tâm sự: “Tôi rất khâm phục tinh thần lạc quan và sức làm việc mạnh mẽ, liên tục của ông. Ký ức qua hai cuộc chiến tranh không làm tâm hồn của ba tôi bị khô khan. Cuộc sống trong hòa bình vẫn đang từng ngày thay đổi và ba tôi vẽ mọi người trong gia đình, vẽ bè bạn trong các cuộc họp mặt, vẽ hoa lá, vẽ phong cảnh… Ai một lần đến thăm ba tôi tại nhà riêng đều ra về trong luyến tiếc vì không có đủ thời gian để xem hết kho tàng tranh của ba tôi”.
“Tôi chưa vẽ hết những thành tựu mới về xây dựng đất nước, thành phố ta đã đàng hoàng hơn, to đẹp hơn rất nhiều. Quá sức tưởng tượng của tôi. Tôi còn mong sẽ trực tiếp vẽ được cảnh đồng bào, chiến sĩ ngày đêm canh giữ biển trời, biên cương của Tổ quốc”. Và để “chuộc lỗi”, ngày nào ông cũng vẽ đến nửa đêm.
|
Nguồn: ĐỖ QUANG TUẤN HOÀNG - SGGP
Tải mã QRCode
NGUYỄN HÀNG TÌNH
Cho dù không đến Tây Nguyên ta cũng thấy hoặc “cảm” về miền Thượng phương nam sống động nhiều rồi qua báo chí, truyền hình, văn chương. Nhạc về xứ này cũng thế, qua Y Phôn, Y Moan, Nguyễn Cường. Với nhiếp ảnh, thì càng bạt ngàn hơn tác phẩm và tác giả, không chỉ người đang sinh sống tại xứ này. Thế còn hội họa? Cần một sự tĩnh lặng của hội họa để nhìn thấu vào bên trong miền đất ấy, bởi đây vốn không phải vùng đất của sự ồn ào, lắm lời. Cây cọ nào đầy đủ nội lực cùng sự yêu thương chân thành cho một vùng đất để kể câu chuyện của nó qua sắc màu?
ĐINH CƯỜNG
Còn nhớ, một buổi sáng thật tình cờ, Bạch Thái Quốc, người bạn thời còn làm trưởng ban Việt ngữ đài R.F.I tại Paris gọi qua Virginia hẹn phỏng vấn. Nói là nhân vừa xem triển lãm tranh Modigliani (Triển lãm mang tên Modigliani, L’Ange au visage grave tại Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Luxembourg từ 23-10-2002 đến 2-3-2003) nhớ đến những tranh thiếu nữ của tôi vẽ ngày trước, cũng hai bàn tay dài, chiếc cổ dài, đôi mắt sương khói.
Họa sĩ Duy Ninh, sinh năm 1952, tại Phú Hòa, TP Huế. Hội viên Hội mỹ thuật Việt Nam. Triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1980, 1985, 1990, 1995, 2000 và 2010 tại Hà Nội. Triển lãm cá nhân tại Đà Nẵng (1989), tại TP Hồ Chí Minh (1991). Triển lãm nhóm họa sĩ Việt Nam tại Đan Mạch năm 1995. Có tranh trong Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam. Giải thưởng tranh triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1996…
ĐINH CƯỜNG
Thảng như con ngựa già vô dụng
Chủ bỏ ngoài trăng đứng một mình
(Tô Thùy Yên)
HỒ ĐĂNG THANH NGỌC
Tôi có một vài kỷ niệm nhỏ với họa sĩ Nguyễn Đại Giang.
Năm 2009, trong những ngày làm mới thơ mình một cách đầy hứng thú, tôi viết bài thơ “Lộn ngược” ngồ ngộ:
LÊ HUỲNH LÂM
Chúng ta đều biết rằng nước vốn vô hình vô ảnh, tùy nhân duyên để biến hiện. Nước có quyền năng dung hòa mọi sự vật và quyền năng hóa thân biến hiện theo sự vật. Trong ý nghĩa đó, thủy mặc là loại mực mà người cầm bút phải có nội lực mới hóa thân vào ngòi bút để truyền cảm xúc tan chảy theo vết loang của mực.
HUỆ VIÊN
Đạo Đức Kinh là tác phẩm do Lão Tử, khai tổ của Đạo giáo, viết ra khoảng thế kỷ VI trước CN, là một kinh điển trong triết học phương Đông, có ảnh hưởng rất lớn đến lịch sử, văn hóa, xã hội, lối sống, nghệ thuật... ở những nước Á Đông.
VIỄN PHƯƠNG
Vào ngày 13 tháng 3 năm 2013, đã có một không khí lạ xuất hiện trong không gian hội họa xứ Huế. Sự gặp gỡ của 55 nghệ sỹ trẻ đến từ 17 tỉnh thành cả nước trong cuộc triển lãm mang tên Năng lượng cố đô đã báo hiệu cho một sự đột phá thực sự trong tư duy sáng tạo của lớp họa sỹ trẻ hiện nay.
Họa sĩ Phan Ngọc Minh, hiện đang sống và làm việc tại Đà Nẵng, đã có gần mười cuộc triển lãm cá nhân trong và ngoài nước như Pháp, Ireland...
TRỊNH HOÀNG TÂN
Đến với các tác phẩm mỹ thuật khu vực IV năm 2012 được trưng bày tại thành phố Hà Tĩnh, thấy gì qua những tìm tòi khác nhau, trở lại những khuynh hướng đã qua hay xuất phát từ những điểm mới?
MỘT DANNA
Những ý tưởng về hội họa dưới đây của tôi được khơi gợi từ sự nghiên cứu về Thiền và triết học Hủy cấu trúc (deconstruction).
VI KÝ
Vào đời nhà Tống ở Trung Hoa có danh họa Ngọc Phủ nổi tiếng là người vẽ tranh giỏi, khắp Trung Nguyên, ai ai cũng đều biết tiếng.
UYÊN HUY
Họa sĩ, Nhà giáo Nhân dân;
Chủ tịch Hội Mỹ Thuật TP Hồ Chí Minh
Từ ngày 28/6 đến ngày 05/7/2012, tại số 09 Phạm Hồng Thái - Huế, Chương trình Phát triển Không gian Văn hóa và Chương trình Tình Sông Hương của Tạp chí Sông Hương sẽ tổ chức triển lãm tranh của các họa sĩ khuyết tật mang tên KHÁT VỌNG.
ĐINH CƯỜNG
(Nhân 100 năm ngày sinh Nguyễn Đỗ Cung 1912-2012)
BỬU CHỈ (Xê-nhét 17/5 - 26/6/1985)
LGT: Foujita tên đầy đủ là Tsuguharu Foujita, thời gian sau thêm tên Thánh Léonard Tsuguharu Foujita. Sinh ngày 27 tháng 11 năm 1886 tại Tokyo, trong một thành phố nhỏ tên Omagari, cạnh bờ sông Edogawa. Cha là Tsuguakira Foujita, sĩ quan cấp tướng thuộc quân đội Hoàng Gia Nhật. Mẹ là Masa, mất năm 1891 lúc Foujita mới 5 tuổi. Foujita là con trai út, còn hai người chị và người anh trai.
ĐIỀN THANH(sưu tầm và giới thiệu theo bài viết nhan đề “Agony and Ecstasy” đăng trên tạp chí The Nation, Hoa Kỳ, ngày 1. 12. 2008 của Barry Schwabsky)
PHAN THANH BÌNH - ĐÌNH KHÁNHTriển lãm Điêu khắc Thừa Thiên Huế Lần thứ nhất đến nay đã kết thúc, những gì mà các tác giả trưng bày, thể hiện trước công chúng chắc sẽ còn đọng lại lâu dài trong tình cảm người xem, với những ấn tượng, cảm nhận toàn cảnh hoạt động sáng tạo điêu khắc của tỉnh nhà qua gần 60 tác phẩm của 29 tác giả, bao gồm tượng tròn phù điêu trang trí, tượng chân dung, phác thảo tượng đài... với các chất liệu đá, ciment, gỗ, thạch cao, đồng, chất liệu tổng hợp...
ĐẶNG TRƯỜNG LƯUTrong giới văn hóa - văn nghệ cả nước; cũng như làng văn nghệ sĩ của riêng Hà Nội; người ta biết nhiều đến họa sĩ, nghệ sĩ Nhân dân Lê Huy Quang qua hội họa, qua thiết kế trang trí sân khấu, qua minh họa hay bìa sách; phần lớn là bạn hữu, qua thơ ca và các bài báo trong suốt mấy chục năm qua.