NGUYỄN THỊ ẤM
Người ta vẫn tưởng sắc đẹp của đàn bà là vô tội. Đúng là vô tội. Nhưng đẹp quá thì phải xét lại.
Minh họa: Trần Thanh Bình
Giai nhân của thế gian bởi quá đẹp, người họ toát ra một hương thơm ngát buồn. Đàn ông ở nhân gian thường hư hỏng và cô đơn. Chả may họ gặp phải những người đẹp này, dễ để lại trong tim của những kẻ vô tội nỗi đau không nhỏ.
Mấy năm về trước có một người đàn ông góa vợ trạc năm mươi tuổi. Ông làm nghề trồng hoa ở ven ngoại thành phố. Ông có một cô con gái mười bảy tuổi. Cô đẹp tuyệt, nước da cô trắng xanh, tóc đen, mắt đen tối sâu thẳm như đêm ba mươi. Cô là học sinh trường múa.
Chiều hai mươi chín Tết, người cha thấy trong vườn nhà mình còn sót lại vài bông cúc trắng. Ông sai con gái đem vào thành phố bán. Cô gái vâng lời cha. Nhưng cô đi mãi không về.
Ông già mất con, nhưng tôi cũng buồn. Bởi tôi là chàng trai chưa vợ ở cùng ngõ. Đôi lúc tôi muốn tỏ tình với cô mà không biết nói sao. Nàng thường đi về trong giấc ngủ của tôi. Tôi là người biết rõ nguyên nhân sự biến mất của nàng. Bởi hồn tôi vẫn theo nàng như cái bóng. Nàng đi mất vào trong vòng tay của một chàng trai lạ.
* * *
Chiều hai mươi chín Tết năm đó, trời lạnh buốt. Đã vậy, lại còn mưa lắc rắc. Ướt và lạnh, khiến con người không ai muốn ra khỏi nhà. Có một chàng họa sĩ từ Huế ra Hà Nội bán tranh. Chàng ở nhờ nhà một người bạn. Sắp Tết, anh bạn về quê. Chàng ở một mình trong căn phòng. Cô đơn và buồn trong cái lạnh của đất Bắc, chàng đóng cửa xuống đường đi lang thang.
Chàng đi mãi trong thành phố lạ. Mưa gọi mưa, gió gọi gió. Gió phương Bắc lạnh buốt thổi làm tai chàng tím tái. Trời tối dần, bóng người thưa thớt đi như chạy. Ở một góc đường, chàng bỗng thấy, một cô gái ôm mấy bông hoa màu trắng. Hoa gì đẹp vậy. Cánh hoa trắng rũ rượi và u buồn gội mưa. Nhưng cô gái còn đẹp hơn. Nước da trắng xanh của cô nổi bật giữa bầu trời xám xịt. Đôi mắt cô to tròn đen sẫm như hai viên ngọc đen. Mưa lạnh, cô cắn cặp môi. Cô giống như một nàng tiên hiện lên trong hoàng hôn mưa.
Quê chàng, mảnh đất miền Trung nắng và gió Lào. Những cô gái ở đấy nước da màu đồng hun, mắt lươn, nói như chim hót. Đào đâu ra sắc đẹp kiều diễm u buồn, lạnh buốt như vậy. Chàng họa sĩ đi chầm chậm qua, nhưng hồn chàng đọng lại. Cô gái nhìn chàng vô tình. Chàng quay lại, cô gái nhoẻn cười mời chào mua hoa.
- Hoa này là hoa gì? - Chàng khẽ hỏi cô.
- Hoa cúc trà mi anh ạ. - Cô khẽ cười.
- Sao loại hoa này trông buồn thế hả em?
- Vâng... Các cụ ngày xưa nói: nét buồn như cúc, điệu gầy như mai.
Cô gái nhìn chàng. Sao anh chàng này dễ thương thế. Khuôn mặt thanh tú như con gái. Đôi mắt lơ lãng như mắt thầy chùa.
- Bao nhiêu tiền mấy bông hoa này - Chàng hỏi.
- Dạ... em xin anh một nghìn đồng.
Chàng họa sĩ móc tiền. Túi chàng còn tám trăm. Chàng nhìn cô tần ngần nói:
- Anh chỉ còn tám trăm thôi.
- Vâng... tám trăm cũng được. - Cô gái khẽ trả lời.
Cô gái đưa hoa cho chàng trai. Chàng cầm bó hoa. Mặc dù là sự mua bán, nhưng mấy bông hoa cũng thì thầm một mối giao duyên nhè nhẹ.
- Bây giờ em về đâu? - Chàng họa sĩ nói.
- Em về nhà. Nhà em ở ngoại thành. Tí nữa em sẽ đi ô tô buýt.
- Anh đưa em về nhé. - Chàng họa sĩ ướm lời.
Cô gái đỏ mặt. Anh chàng này lạ thật. Người đâu, mới gặp nhau một tí mà đã sỗ sàng. Trong thâm tâm cô đã hơi phải lòng cái giọng Huế âm ấm của anh. Một nhà tâm lý học Mỹ nói: "Họ phải lòng nhau ngay từ những cái nhìn đầu tiên". Hai con người ở giữa thành phố mưa và gió lạnh, dễ phải lòng nhau.
- Em về đây... - Cô gái nói giọng dứt khoát và cả quyết.
- Anh đưa em về nhé...
Cô gái không nói gì. Cô lặng lẽ bước đi. Chàng họa sĩ cầm hoa đi theo. Hai người bước đi trên mặt đường đen bóng nước mưa.
Bến ô tô thành phố gần đó. Đường vắng. Nhưng những chuyến ô tô ngày giáp Tết lại cực đông. Ô tô chật cứng. Người bám vào xe tràn đầy ra các cửa. Cô gái khẽ nhìn trộm chàng họa sĩ lo lắng. Chàng nhìn cô và nói:
- Về nhà anh đi. Anh lấy xe đạp đèo về.
Cô gái không nói gì. Nửa tiếng sau, chuyến ô tô thứ hai lại đến. Chuyến này lại còn đông hơn chuyến trước. Có người ngồi trên cả nóc xe. Cô gái thì thào:
- Đây là chuyến cuối cùng.
- Về nhà anh đi. Anh sẽ lấy xe đèo em về. - Chàng họa sĩ nhắc lại. t
Cô gái ngẩng lên nhìn chàng. Chàng họa sĩ bước đi. Bất giác cô gái bước theo. Trời sầm sập tối. Cô gái nhìn chàng. Mặt chàng trong ánh sáng xanh của đèn thủy ngân cao áp trông thật dễ chịu. Cô vừa nghĩ vừa buồn cười. Ra thành phố, tự nhiên lại đi theo một anh chàng. Đành vậy, trời tối mất rồi.
Chàng và cô đi về một phố vắng. Lúc này trời đã tạnh mưa. Thỉnh thoảng lại bắt gặp hai người nhìn trộm nhau. Nó giống như hai con mèo hoang tình cờ vừa gặp nhau trên một mái nhà. Mới đầu chúng cứ gừ gừ, rồi giương cặp mắt xanh lè nhìn nhau. Sau đó, chúng giơ mũi ngửi hơi nhau. Nếu hai con mèo không cùng giống đực hoặc cái, thì chẳng bao giờ cắn chết nhau. Một khi không cắn nhau thì tình ái sẽ đến. Con người cũng vậy. Chúa cũng đã cố ý sinh ra như thế mà lỵ.
Chàng họa sĩ đưa cô gái về nhà. Đó là một căn nhà rộng, trong một ngõ vắng. Chàng mở cửa, trong nhà sực nức mùi sơn dầu. Cô gái chần chừ. Chàng mời cô. Cô đưa tay vuốt tóc rồi bước vào. Chàng bất giác nhìn bàn tay cô. Bàn tay nhỏ và trắng phau như những chiếc bút vẽ. Chàng nghĩ thầm. Tại sao cô gái bán hoa lại có bàn tay đẹp như vậy. Mảnh đất Bắc thật kì dị. Cái nghề bán hoa vớ vẩn lại có những nàng tiên.
Chàng lấy cái xe đạp ở góc nhà định đèo cô về. Khốn khổ, cái xe đạp đã không lâu dùng đến, hai lốp xịt bép. Chàng nhìn cô chàng nói:
- Em ngồi đây chờ nhé. Anh dắt xe ra đầu đường để vá. Anh quay lại ngay.
Cô gái không nói gì. Chàng dắt xe ra cửa. Cô ngồi mình trong căn phòng. Trong phòng, không có tí gì hương vị của ngày Tết. Trên tường, đầy tranh. Những bức tranh dang dở vì cô. Bỗng chốc tự nhiên cô thấy buồn. Nỗi buồn và sự khát khao của những bức tranh thấm vào cô.
Lát sau, chàng họa sĩ về. Chàng cắp theo hai ổ bánh mì kẹp batê. Chàng đưa cô một ổ. Chàng nói:
- Nửa tiếng nữa xe sẽ vá xong. Em ăn đi, anh đèo em về.
Cô gái cầm ổ bánh mì im lặng. Chàng họa sĩ người gầy, nhưng miệng chàng to thật. Chàng ngoạm một tiếng, đi đứt mất một phần ba chiếc. Chàng mời cô lần nữa. Cô nhỏ nhẻ cắn tí một. Năm phút sau, cả ổ bánh mì của chàng hết veo. Cô bật cười, vì tính háu ăn của chàng. Phần nhiều, nụ cười đi trước rồi mới đến ái tình. Chàng cũng cười. Hai nụ cười và hai ánh mắt bắt gặp nhau. Cô bất giác gặp ánh mắt giao duyên của chàng. Cô cúi mặt lúng túng. Chàng quay mặt ra chỗ khác châm thuốc hút.
Họ không nói với nhau điều gì nữa. Trời lại mưa. Bóng tối, tiếng mưa rơi tí tách bên cửa. Cô gái đã ăn xong ổ bánh mì. Chàng rót mời cô một cốc nước lọc. Cô uống, rồi giục chàng lấy xe đèo cô về. Chàng nói.
- Chờ anh năm phút, anh có cái này tặng em.
Chàng lật cái miếng vải phủ giá vẽ. Một bức tranh hiện lên với một cô gái đứng tựa cửa sổ, trong ánh trăng thu. Đằng sau cô là cả một bầu trời đầy sao chi chít. Cô gái mặc áo xanh da trắng, nhưng toàn bộ phần nét mặt bỏ trống.
Chàng luống cuống lại góc nhà, lấy bảng màu. Chàng nhìn cô. Tay chàng đưa bút. Chốc lát, cô gái trong tranh hiện lên. Cô đẹp tuyệt trần với nụ cười e ấp. Cô nhìn cô gái trong tranh. Chưa bao giờ cô thấy mình đẹp vậy.
Chàng lấy một con dao nhỏ. Loáng một cái, bức tranh đã được cắt rời khỏi giá vẽ. Chàng cuộn tròn bức tranh trong một tờ giấy, buộc lại và đưa cho cô. Cô gái cầm lấy. Cô cảm động không nói được gì nữa.
Hai người bước ra cửa. Chàng họa sĩ đóng cửa. Ở đầu phố có một ông già ngồi thu lu bên hòm chữa xe đạp. Cạnh đó là chiếc xe đạp của chàng được dựng vào sát tường. Thấy chàng đi đến, ông già chữa xe đạp nói:
- Xe của anh không vá được đâu. Săm lâu ngày không dùng nát quá. Mai mua cái khác tôi lắp vào cho.
Cô gái nhìn chàng. Chàng nhìn cô gái. Lát sau, họ dắt xe quay trở lại ngôi nhà.
Đêm đấy. Cô gái ngủ trên giường. Còn chàng họa sĩ trải mấy tờ nhật báo ngủ dưới đất. Cô không ngủ được. Bởi cô lo cho chàng nằm dưới đất sẽ bị cảm lạnh. Chàng cũng không ngủ được. Bởi nàng tiên của chàng, ở gần đâu đó.
Nửa đêm, trong bóng tối ấm lạnh của mùa xuân. Cô gái khẽ bước xuống đến bên chàng họa sĩ. Cô khẽ nói:
- Anh lên giường nằm đi... Nằm ở đây lạnh chết...
Chàng họa sĩ không nói gì, chàng quờ tay ôm lấy đầu cô gái. Họ hôn nhau. Mắt cô gái tự nhiên đầy nước. Dòng nước mắt phản chiếu ánh điện hắt qua cửa sổ, sáng lóng lánh.
Trong bóng tối của mùa xuân lạnh thế, nhưng người họ nóng như hai hòn than. Một tiếng sau, hai người ngã xuống chiếc giường duy nhất trong phòng. Ở đấy, họ quấn vào nhau chặt hơn. Họ không nói năng gì cả. Chỉ có chiếc giường than thở những tiếng kẽo kẹt.
Năm giờ sáng. Một thứ ánh sáng màu chì chiếu qua cửa sổ. Cô gái tỉnh dậy trước. Cô ngồi khóc. Giọt nước mắt của cô trong vắt như giọt sương mai. Chàng họa sĩ tỉnh dậy. Chàng ngồi rầu rĩ bên cô. Cạnh chỗ hai người là những bông cúc trắng bị đè nát. Tuy vậy, những bông hoa vẫn dìu dịu tỏa hương thơm u buồn. Không biết họ nói chuyện gì với nhau. Chỉ biết rằng lát sau, hai người ra đi. Chàng họa sĩ gửi trả chìa khóa phòng cho một người hàng xóm.
Vài ngày sau, người cha không thấy con gái về. Ông bổ đi tìm. Nhưng tìm đâu cũng không thấy. Ông nhớ con, những luống hoa cúc trong vườn bị bỏ hoang cho cỏ dại mọc. Chiều chiều, tôi cứ thấy ông uống rượu, ngồi nhìn những bông cúc dại mà khóc.
Hai năm sau, đúng một chiều hai mươi chín Tết nàng tự nhiên trở về. Nàng không về một mình, theo nàng có một đứa con trai một tuổi đương lẫm chẫm tập đi. Và chàng họa sĩ đứng trước ông bố vợ lúng túng cúi đầu. Trông họ, tôi biết ngay là những người sang giàu trong cuộc đời.
Các mối tình kiểu này, phần nhiều là kết cục không đẹp. Nhưng đây lại đẹp tuyệt. Có lẽ bởi nó mọc mầm trong mùa xuân. Những cô gái đẹp đi lấy chồng, thường bỏ lại vài chàng thất tình. Cô gái này lấy chồng, bỏ lại tôi, anh chàng hàng xóm. Tết đến, tôi sang chơi nhà cô. Cô tặng tôi mấy bông cúc dại màu trắng mọc ở góc vườn. Cô vẫn vô tâm như ngày xưa...
Hà Nội, tháng mười hai 1991
N.T.A
(TCSH50/07&8-1992)
Tải mã QRCode
NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.
VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…
TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.
ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.
ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.
VŨ NAM TRỰC Truyện ngắn
TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.
XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.
NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.
PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.
NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.
CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.
NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.
LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.
NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.
MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.
MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.