Hoa cỏ

10:00 29/03/2010
NGUYỄN NHÃ TIÊNChiếc ba lô xọp xẹp đeo trên lưng một cách lỏng lẻo trông chẳng ra ký lô nào, ấy vậy mà cứ đi một quãng, Quỳnh lại dừng lại xóc xóc cái ba lô cho ngay ngắn trên lưng rồi lại bước đi tiếp. Động tác này có vẻ như một thói quen đã thành cố tật hơn là vì phải mang nặng nên tìm cách thư giãn nghỉ ngơi chốc lát.

Minh họa: Ngô Lan Hương

Tiết tháng mười, cả vùng đất cát ven sông mùa này chẳng gieo vãi được gì nên vẳng vẻ người qua lại. Quỳnh theo lối ven cồn cát bên sông, nhắm hướng những qủa đồi lúp xúp phía thượng nguồn cắm cúi bước. Thỉnh thoảng, vài đám mây xám xịt từ phía biển ùn ùn bay sà xuống dọc theo sông như hù dọa một cơn mưa đổ ập xuống vô chừng. Trời cuối thu se lạnh mà Quỳnh thì nghe nóng ran cả người. Đáng lẽ ra, khi vừa xuống bến xe, là Quỳnh có thể đón xe ôm theo con đường đất đỏ băng qua cầu Mới về đến làng sớm hơn. Nhưng anh không muốn thế. Đã hơn hai mươi năm rồi, Quỳnh chưa bao giờ đi lại lối đi ven sông này. Con sông Rù Rì vào mùa hạ, lội băng qua, nước không quá gối, nhưng mùa này thì phải qua lại bằng đò ngang. Làng Bồng Lai nằm phía tả ngạn dòng sông tiếp giáp với những quả đồi, chân của dãy Trường Sơn.

Quỳnh không thể nào hình dung ra từng bến sông ngày xưa anh thường đi qua. Cả vùng tả ngạn cát trắng mênh mông, giờ lại bồi thêm lớp lớp cát trắng trông cứ như một sa mạc. Những bến Si, bến Đợi, bến Tình đã chìm sâu dưới những gò cát. Người làng Bồng Lai xem cát trắng như một tặng vật ối thừa của thiên nhiên chẳng làm nên công ích gì. Đã từ xa xưa, họ gọi cát trắng bằng cái tên khá là điệu đàng: “ Bạch sa hoang phế”. Hoang phế là bởi, suốt bao đời nay người làng Bồng Lai chẳng ai biết đến xây dựng nhà cửa là gì. Lá và lá tất, lợp và che nhà cửa toàn những lá: tranh, cói, rơm rạ... Đứng trên đồi núi xa xa nhìn xuống làng Bồng Lai, những mái nhà thấp lè tè sát mặt đất, trông giống như những tổ chim. Cái làng nghèo cơ cực ít nơi đâu sánh kịp, lại càng không thể sánh kịp bằng những cái tên gọi mê ly, khá mâu thuẫn với những cuộc đời xiêu vẹo nắng mưa. Bồng Lai gì mà một bên cảnh tình toàn cát trắng, lội bộ rạc cả chân. Một bên làng là những ô ruộng bậc thang nhảy cóc đến chân đồi, phèn vàng xỉn từng lớp, Quanh năm cây lúa èo uột chỉ toàn rơm rạ đốt gởi khói cho trời nhiều hơn là thóc. Con cái của làng phía ven sông, sinh sống nhờ vào con tôm con tép, phía ven đồi núi thì nhờ vào sim, hạt dèo, chà là. Hết mùa trái rừng, quay qua than, củi... Đất như thế mà lại là đất Bồng Lai, làng như thế mà sông suối nhởn nhơ Rù Rì. Những cuộc đời tất bật lam lũ thế kia thời giờ đâu mà bến Tình, bến Đợi, bến Si kia chứ. Những vị tiền hiền khai khẩn xứ này là những nhà nghệ sĩ đầy ắp mộng mơ lãng mạn, hay cái đẹp gì khuất tất dưới đất đai cằn cỗi này, được con người khám phá nuôi dưỡng gởi khát vọng vào đất như một lời hẹn ước vĩnh hằng. Quỳnh cắm cúi bước, những suy nghĩ của bất cứ ai lần đầu tiên đến làng Bồng Lai này cũng đều như thế cả. Chính anh cũng đã từng cười cợt chế nhạo khi vừa đặt chân đến đây. Nhưng rồi Quỳnh có một làng Bồng Lai riêng cho mình. Thậm chí, đất này còn là quê nhà của anh, là máu thịt của anh dù đã bao năm anh phải xa làng.

Đoạn sông càng đến gần phía những quả đồi nước càng xiết. Đi trên bờ sông nghe rõ tiếng nước như trò chuyện với người, lúc thầm thì, lúc reo lên hối hả. Bến Đợi chìm đâu dưới cát trắng cồn bãi này. Ngày xưa cũng vào độ thời tiết này, mỗi lần Quỳnh về thăm làng, nhất là lỡ những chuyến xe phải về tối. Đứng trên bến Đợi này dù sớm hay khuya khoắt, chỉ cần nghe tiếng anh cất lên gọi đò là lập tức bên kia sông có tiếng trả lời, rồi tiếng con thuyền rẽ nước chèo qua đón anh. Đò bến Đợi không giống như những con đò trên các bến sông khác. Tất cả dân làng ven sông đều là những người thay phiên nhau chèo đò. Không người lớn thì trẻ nhỏ, nhà nào cũng có những chiếc thuyền lá vừa dùng đánh bắt cá tôm vừa đưa khách sang sông. Ăn ở với nhau thân thiết đến độ làng thuộc lòng giọng nói, hơi thở. Nói không ngoa chút nào, có khi nghe cả mùi vị mồ hôi còn nhận ra nhau như vợ nhận ra chồng, em nhận ra anh, mẹ nhận ra con... Gắn bó tình yêu như thế mà đãi bôi nhau, họa có thú. Bỗng dưng, Quỳnh mong cho trời chóng tối, bỗng dưng anh thèm thuồng một ánh trăng. Những đêm trăng đẹp đẽ trong veo bầu trời mùa hạ, làng Bồng Lai trở thành một non tiên rơi xuống cuộc đời này. Con gái Bồng Lai thường có thói quen tắm sông đêm. Vào những mùa trăng, cả dòng sông rải đầy dát vàng dát bạc. Từ những chớp sáng sấp ngửa lấp lánh bồng bềnh ấy, phát ra giòn tan tiếng cười con gái. Những nàng lọ lem, phút chốc nhờ dòng nước nhiệm màu, khoe những làn da trắng trong như tuyết. Làm như ánh sáng không phải từ trăng mà từ những đôi mắt thủy tinh chơm chớp, từ những làn tóc óng ánh bồng bềnh, được dòng nước vuốt ve một cách đa tình. Chính những lúc như thế, tên gọi làng Bồng Lai không hề phí phạm một ngữ nghĩa nào cả.

Nếu như có những tình cờ mang đến cho con người một sự may mắn nào đó, thì cũng có những tình cờ mang đến cho con người sự rủi ro. May mắn và rủi ro, khổ đau và hạnh phúc, giải phóng và tù ngục... Tất cả những thứ ấy cứ xoắn vào nhau chẳng biết đâu mà lường. Cho mãi đến bây giờ, Quỳnh vẫn khó mà lý giải sự tình cờ của hơn hai mươi năm trước đối với anh trên cái làng Bồng Lai này nó thuộc về phía nào, may mắn hay rủi ro. Chỉ có điều, chính sự tình cờ này đã kéo Quỳnh vào một cuộc đời khác, một thế giới khác. Thế giới mà từ những ô ruộng bậc thang vàng xỉn chua phèn, ụt ẹo cây lúa, đã biết gởi khói bay lên chật cứng bầu trời nuôi dưỡng giấc mơ cho con người. Thế giới mà đất đai không cho con người hạt, trái, để no nê từng bữa cơm, lại tốt tươi hoa dại hoang đường cả một vùng đồi núi.

Quỳnh là đứa con côi cút trong một làng mồ côi. Từ những ngày còn học tiểu học, rồi trung học Quỳnh đã quen thuộc với nghề vẽ bong bóng đi bán dạo. Cái nghiệp vẽ vời đeo bám anh như một lời nguyền của số phận. Xong trung học, Quỳnh vào học được vài năm mỹ thuật thì chiến tranh kết thúc. Sau ngày giải phóng, nghề họa sĩ lỡ dở như Quỳnh thường xuyên thất nghiệp. Lâu lâu có lễ lạt nào đó, cơ quan không tin phường mới nhờ đến bàn tay anh trưng bày khẩu hiệu, áp phích. Không thân thích, không họ hàng, một lý lịch lờ mờ như thế anh không dễ xin việc ở bất cứ một cơ quan nào. Giữa lúc thất nghiệp lang thang đến phát chán, Quỳnh đang dự định đi lên vùng kinh tế mới Tây Nguyên, thì một tình cờ xảy ra. Tự, bạn Quỳnh, cũng có quê chung mồ côi, mồ cút như anh, chỉ khác một điều, Tự là đứa con lai cha Tây mẹ Việt. Không rõ lý do nào, Tự trở thành kép hát cho một đoàn cải lương của tỉnh. Sau chiến tranh, có quá nhiều những đổi thay. Có những bất ngờ đến độ chỉ còn biết há mồm kinh ngạc. Nghe Quỳnh kể về dự tính sẽ rời thị xã lên khu kinh tế mới. Tự khuyên anh về đầu quân một đoàn cải lương đang cần họa sĩ: “ Cậu có nghề vẽ, nói cho oai hơn, là một họa sĩ, mà ông trưởng đoàn hát này rất cần một tay thiết kế trình bày sân khấu”. Nghe theo lời Tự, anh xin vào đoàn hát qua sự giới thiệu của Tự với ông trưởng đoàn Bùi Cường. Một buổi thử tay nghề, không quá khó khăn đối với một tay thợ vẽ hơn mười năm lang thang, ném những giấc mơ vào những chiếc bong bóng bay. Một tiệc rượư gạo đình đám nhờ số tiền chi viện tốt bụng của Tự, là biên giới cho một cuộc đổi đời, cũng khá bất ngờ như bao bất ngờ khác.

Ngược xuôi với đoàn hát qua bao nhiêu làng quê thôn xóm. Tiền lương thu nhập ít ỏi đủ lất lây qua ngày. Cái được nhất với Quỳnh là được đi đây đi đó. Thế giới nào quyến rũ lọt vào đôi mắt của Quỳnh, lập tức ùa vào cái bể tiềm thức bao la của anh, chôn chặt vào đó như khảm khắc vào đá. Tranh vẽ của Quỳnh chất đầy ba lô, túi xách, thùng, rương. Có lần, trưởng đoàn hát Bùi Cường đã tức tối răn đe Quỳnh:

- Đoàn cải lương chứ có phải xưởng vẻ của cậu đâu, lại toàn là ma quỷ trần truồng, đồi trụy không chịu được, Quan điểm lập trường của cậu sặc mùi tiểu tư sản. Văn nghệ của ta là phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân cậu hiểu chứ?

Quỳnh hiều thì hiểu, mà tranh vẽ của anh vẫn là mớ đề tài săn lùng từ những mông má hầm hập, khuôn ngực cháy lửa thanh xuân. Anh nói với trưởng đoàn Bùi Cường:

- Vẫn chưa thấy bức nào ăn ý anh ạ, em muốn cất vào thùng cả đấy. Mong có một bức nào đẹp để gối đầu ăn ở nhưng chưa ra hồn. Hay là sức vóc của em đến đây là chấm hết.

Trưởng đoàn Bùi Cường trừng mắt nhìn anh như đầy vẻ hăm dọa: “ Rồi cậu sẽ có nơi mà gối đầu ăn ở, nếu cứ tiếp tục trò chơi dại dột của mình”. Đa bao nhiêu lần Quỳnh muốn vứt cọ vẽ quên đi hiểm họa đó. Khốn nỗi, anh là họa sĩ trang trí cho sân khấu. Thế nên, nghề kéo luôn theo cái nghiệp đê mê. Và rủi may số phận như chờ sẵn, đã đốn ngã anh trên cái làng Bồng Lai định mệnh này.

Mỗi dịp có đoàn dân ca này, gánh hát kia về trình diễn là kể như làng Bồng Lai hội hè suốt cả ngày đêm. Người ta dễ dàng quên hết mọi khốn khó kể cả sự hù dọa của mùa màng thất bát. Vào mỗi chiều, khi chiếc máy điện của đoàn hát nổ lên, rồi tất cả hàng chục cái bóng đèn trăm oát treo trên sân bãi sáng rực ngời ngời. Sớm nhất, vẫn là lũ trẻ nhỏ, chúng kéo đến sân bãi hò reo tưng bừng. Nhà nhà, những bữa cơm tối sớm hơn thường lệ. Những đồng bạc tích góp từ gánh củi, gánh than, từ con tôm con tép được trút ra đến đồng cuối cùng. Cán bộ, diễn viên của đoàn hát, được chính quyền địa phương bố trí cho ở ngay nhà thông tin của ủy ban xã. Họ trở thành những sứ giả mang phép màu ở một hành tinh nào đó đến cái ốc đảo heo hút này, toa rập với hoa cỏ đồi hoang, với khói bay lãng đãng trời chiều, gieo cấy cho đất Bồng Lai thêm mỡ màu mộng mị hoang đường.

Quỳnh đã phát hiện ra đất Bồng Lai hào phóng không nơi nào sánh kịp. Hoa dại sim, mua tím biếc chật chiều. Và nhất là đúng mùa trăng, ngồi bên dòng Rù Rì nhìn những nàng tiên hò reo vẫy vùng trên sông nước thì không đâu bì kịp. Nó vừa thực vừa hư, cứ tựa như một cõi đào nguyên nào đó không bén mùi trần thế. Nhưng phải đến một buổi chiều, Quỳnh mới thực sự ngã gục trước làng Bồng Lai nhan sắc.


Quỳnh đang loay hoay trước bức tranh còn dang dở. Trên đồi sim, một góc trời tím ngắt mơ hồ, hàng hàng lớp lớp đôi môi thiếu nữ trổ ra từ những đóa sim... “ Một bức tranh thì có khác gì một bài thơ màu sắc”. Quỳnh lảm nhảm như kẻ mộng du lạc đường. Bất ngờ, tiếng cười con gái trong trẻo từ phía sau lưng anh cất lên. Quỳnh giật mình quay lại.

- Anh là họa sĩ của đoàn hát à? Cô gái như từ giấc mơ bước ra nhìn đăm đăm vào bức tranh vừa hỏi anh.

- Vâng, thưa cô... Quỳnh chẳng nói thêm được lời nào nữa. Ngôn ngữ chết điếng trước một sắc đẹp. Biết nói thế nào nhỉ, đôi mắt hiền từ như mắt Đức Mẹ, dáng đi thanh thoát, tóc xõa mượt mà như bóng dáng thiên thần, bộ áo quần lụa tím thẳm hơi buồn một chút như bóng của tình nhân... Cô gái bước tới sát bên giá vẽ rồi nhìn Quỳnh nói bông đùa:

- Hàng trăm đôi môi thơm này có đôi môi nào của em trong tranh không anh?

Quỳnh lóng cóng, trả lời như một phản xạ:

- Giá như vẽ được đôi môi đẹp của cô, có chết cũng yên lòng để đời một tác phẩm.

Cô gái lại cất tiếng cười trong veo. Dòng thanh âm từ đôi môi cơ hồ như không thực, hoang đường đến từng tế bào da thịt. Quỳnh cố giữ vẻ bình tĩnh, nhìn vào cô gái một cách nghiêm túc hơn. Tiếng cười này anh đã nghe quen lắm, gần gũi lắm. Hình như là nó đã gieo vào anh nỗi đê mê từ dòng sông Rù Rì kia, hay là một nơi nào đó từng làm anh dạt dào cảm xúc khi cầm trên tay cọ vẽ.

Những ngày sau đó Quỳnh và Huệ, tên cô gái, trở thành thân thiết với nhau. Nhà Huệ ở giữa một khu vườn dưới chân đồi sim. Khắp vườn, chỉ trồng một thứ hoa trùng tên với chủ nhân của nó. Huệ đang là bí thư xã đoàn. Trong chiến tranh cô được đưa ra miền Bắc học, cha mẹ Huệ đều hy sinh. Đáng lẽ ra, với trình độ xong trung học và lý lịch của mình, Huệ có thể xin một việc nào đó ở các cơ quan huyện hoặc tỉnh khi vừa từ miền Bắc trở về. Nhưng Huệ nhứt quyết về làng Bồng Lai công tác ở đoàn xã. Quỳnh đã hỏi thử lý do, nhưng Huệ trả lời một cách mơ hồ.

- Dường như người làng em, xa làng là việc khó nhất trên đời. Ai xa mấy trong chiến tranh rồi cũng trở về. Chết thì nằm trên đồi với rừng sim ấy. Làng nghèo nhất nước, xa thì không ai chịu xa, còn hỏi vì sao thì em chẳng thể nào giải thích.

- Có lẽ là đất Bồng Lai thiêng thật. Tôi đến đây rồi cũng muốn ở luôn đây, nói gì em, nói gì người trong làng. Quỳnh nói vu vơ, không hề có ý định tán tỉnh bông phèng. Đất quả lạ lùng, chỉ thích mọc toàn những hoa. Cứ nhìn ra cái vườn huệ hồng kỳ diệu ngát hương kia đã hiểu người xưa đã có lý khi đặt tên cho làng.

Trưởng đoàn Bùi Cường đã nhiều lần cảnh cáo Quỳnh về chuyện bê bối trong công tác của anh, nhất là mấy đêm gần đây Quỳnh đi chơi suốt không về. Tất cả rồi cũng qua đi sau khi Quỳnh ngồi viết bài kiểm điểm. Nhưng lần này thì không thể, dứt khoát không thể.

Trong lúc cả đoàn đang tất bật lo cho những đêm diễn cuối cùng ở làng Bồng Lai. Một buổi trưa, nhìn vào nhà thông tin thấy cửa khép kín. Bùi Cường nghi ngờ Quỳnh bỏ đi chơi lăng nhăng, ông đến nhìn qua khe hở cánh cửa. Một chuyện động trời xảy ra trước mắt ông mà có lẽ, đến suốt đời cầm chịch ca xướng này sẽ không bao giờ ông gặp lại. Giữa đồ đạc lỉnh kỉnh phông màn thùng rương, nơi dành cho họa sĩ vẽ và thiết kế sân khấu. Một bức tranh thiếu nữ khỏa thân bay lên từ một rừng hoa huệ hồng thắm. Người thiếu nữ trong tranh chính là cô Huệ bí thư đoàn Bồng Lai, còn Quỳnh thì ôm bức tranh ngủ ngon lành. Ngủ say đến độ Bùi Cường mở cửa, dậm những bước chân giận dữ thình thịch xuống nền nhà, miệng liên tục la hét nguyền rủa. Quỳnh vẫn ngủ như chết, anh quên mất cuộc đời đang xảy ra chung quanh. Nhưng trưởng đoàn Bùi Cường đã kéo Quỳnh đứng dậy, tát vào mặt anh hai cái tát nẩy lửa trước mặt đông đảo diễn viên và cán bộ xã đang đứng chật trong phòng. Tất cả sững sờ nhìn anh như nhìn một sinh vật lạc lõng từ một hành tinh xa lạ rơi xuống nơi này. Nhưng Quỳnh quên khuấy hết, anh chạy theo tiếng khóc thét của Huệ từ đám đông lao ra sân bãi về đến tận nhà. Trước mắt anh, một chiếc bóng thiên thần lõa xõa giữa bạt ngàn hoa. Anh bay theo, bay theo chấp chới như rơi vào một vực thẳm không đáy.

Cuộc họp chớp nhoáng của đoàn hát sau đó đã quyết định sa thải Quỳnh, họa sĩ của đoàn. Tệ hại hơn nữa, anh còn bị công an xã mời lên cảnh cáo. Thế rồi. một bất ngờ khác lại tiếp tục xảy ra. Cô bí thư xã đoàn can đảm đứng ra bảo vệ cho Quỳnh. Lại thêm một cái giá đắt phải trả, Huệ bị cách chức vì đồng lõa với hành vi gieo rắc văn hóa đồi trụy.

Đám cưới Quỳnh- Huệ được tổ chức lặng lẽ sau khi đoàn hát rời làng Bồng Lai được mươi hôm. Đất Bồng Lai lãng mạn cưu mang thêm một đứa con hoang đàng hư hỏng hơn bất cứ đứa nào. Từ đó trên đồi sim tím biếc, người ta lại thấy một đôi trai gái sớm hôm đi về. Chiều chiều, bên ly rượu khề khà với hoàng hôn, những người già làng Bồng Lai thường mở đầu bằng câu chuyện của Quỳnh và Huệ, mà theo họ, chẳng khác gì Tiên Dung và Chử Đồng Tử. Xét về mặt luân lý, thì tình yêu họ Chử còn đồi trụy hư hỏng hơn nhiều, bởi họ dám trần truồng giữa thanh thiên nhật nguyệt.

Nhưng thượng đế luôn chơi trò trêu người trước tài hoa và nhan sắc. Hơn một năm sau ngày cưới. Khi Huệ vừa sinh bé Nhàn, đứa con đầu lòng còn đỏ hỏn trong nôi, thì một cơn bệnh quái ác vô phương chạy chữa đã cướp mất sinh mạng của Huệ. Ôm con vào lòng, Quỳnh tưởng không thể nào sống nổi, nhưng tiếng khóc bé Nhàn rát bỏng ngực anh, vực anh đứng dậy. Quỳnh mai táng vợ giữa vườn huệ hồng tươi thắm. Anh lên đồi sim gánh đá về xây tròn mộ vợ, trồng huệ lên che kín nơi Huệ nằm. Ngày ngày ẳm con trên tay, anh chạy khắp làng Bồng Lai xin sữa cho con. Đời sống cha con Quỳnh mỗi ngày bế tắc hơn, anh bế con đứng trước mộ vợ khấn thầm: “ Phải tạm xa em thôi Huệ ơi! Anh phải đưa bé Nhàn về phố, vẽ vời tạm bợ sống qua ngày. Chừng nào con trưởng thành xong anh sẽ về với em”. Lời Quỳnh vọng đến nơi đâu mà gió đồi sim thổi lùa qua vườn hoa huệ sắt se phơ phất, như âm vang một lời hẹn ước từ đâu xa thẳm vọng về. Sau khi gửi phần mộ của Huệ cho bà con họ hàng chăm sóc, cha con Quỳnh lặng lẽ rời làng Bồng Lai vào một sớm mai mà anh không còn nhớ rõ ngày nào.

Hai mươi năm lang thang khắp phố người. Đã bao lần nguy kịch áo cơm, bức tranh “ Nàng Huệ” Quỳnh mang theo, đã nhiều khách lịch lãm am tường trả với cái giá hàng trăm triệu đồng. Nhưng Quỳnh nhất quyết không bán. Quỳnh cuốn tròn bỏ vào trong tủ để tránh bớt những cám dỗ của đói no. Mỗi lần nhớ Huệ, anh mở tranh ra xem rồi lại cất vào chỗ cũ.

Đám cưới cho Nhàn xong, Quỳnh vui hơn lúc nào hết. Quyết định về làng Bồng Lai, anh đã báo từ lâu với con gái nên không có gì trở ngại. Nhàn biết tính của ba mình, đã từng nghe ba kể về tình yêu với me, nên chuyện ba về làng Bồng Lai chỉ là vấn đề thời gian. Một sớm mai, vợ chồng Nhàn tiễn anh ra bến xe khách, nghe con nhắc về bức tranh, Quỳnh mỉm cười trả lời:

- Ba về làng Bồng Lai là phải đi với mẹ con, đi một mình ba chịu sao nổi. Các con đều là thầy cô giáo cả rồi, ba yên lòng và chắc mẹ các con cũng vui thôi. Hè hoặc tết các con nhớ về thăm ba mẹ là quí lắm rồi.

Từ biệt vợ chồng Nhàn, Quỳnh bước lên xe khách. Chuyến xe rời bến khá sớm thế mà cứ hỏng hóc dọc đường, đến quá trưa mới về đến thị trấn. Quỳnh mang ba lô cuốc bộ ra bờ sông. Anh đi như trẻ thơ được về nhà với mẹ. Cái thể trạng lúc nào cũng thắc thỏm bần thần. Hai mươi năm rồi, mọi bến bờ bồi lấp như thế này chưa chắc vườn huệ nhà anh vẫn còn. Nhưng không hề hấn gì, rồi anh sẽ trồng lại. Mộ Huệ chắc là hoang tàn lắm, được cái nằm ở chân đồi thì biển dâu khó mà bồi lở, hư hỏng. Quỳnh bước theo ven sông Rù Rì, tiếng nước trôi róc rách bên tai thoáng mơ hồ như tiếng cười trong veo con gái. Anh lại mong cho trời chóng tối, thèm có được một ánh trăng. Nhưng mùa này, trời u ám thế kia thì mong nỗi gì.

- Này chú, đi đâu mà lấp gấp thế, lên núi hay qua làng Bồng Lai?

Quỳnh giật mình ngẩn mặt rồi quay lại nhìn lui. Thì ra anh đã đến đò bến Đợi mà không hề hay biết, nếu không nghe tiếng người chèo đò nhắc nhở có khi anh lên luôn núi thật. Quỳnh bước lên chiếc thuyền lá, nhìn người chèo đò rất quen thuộc, anh cố nhớ ra tên gọi.

- Trời đất, chú là Quỳnh họa sĩ phải không. Tôi là công an xã ngày xưa có lần bắt chú đây mà.

- Là anh đấy ư, bây giờ anh chèo đò kia à. Giờ thì tôi nhớ ra rồi.

- Dâu bể mà chú ơi, sao chú lại về một mình, cháu Nhàn ở đâu, chắc là nó lớn lắm rồi... Nhớ chuyện xưa tôi áy náy hoài.

- Thôi quên đi anh ạ, hồi đó nó phải thế. Nghệ sĩ như ông Bùi Cường trưởng đoàn tôi, còn gấp mười lần anh. Tôi đã lo chồng con cho cháu Nhàn rồi, các cháu đều đi dạy cả. Lần này tôi về ở luôn, không biết vườn huệ nhà tôi đã thành rừng chưa?

- Rừng sao được mà rừng. Họ hàng vẫn đến chăm sóc luôn. Tết hay ngày lễ, hoa huệ vườn anh chưng khắp nhà làng Bồng Lai này. Bà con ở đây chẳng ai đi đâu hết, mà ai có đi xa rồi cũng trở về, như chú đây cũng thế. Đất nghèo mà thiêng thật.

Câu nói này ngày xưa Huệ đã nói với anh không biết bao lần. Thuyền ra đến giữa dòng sông, mùa tháng mười sông rộng khiếp. Chỉ tiếc là trời u ám quá. Nếu không, một ít nắng chiều cũng làm dòng sông ánh lên vô số mảnh ngọc khoáng. Từ những mảnh ngọc kia, Quỳnh sẽ nhìn thấy đôi mắt Đức Mẹ của Huệ, sẽ nhìn thấy mái tóc thiên thần lõa xõa trên sông nước. Nhưng lo gì, Quỳnh đang về làng Bồng Lai chứ có đi đâu xa xôi nữa đâu.

Đà Nẵng 30/10/1999
N.N.T
(134/04-00)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.

  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.