NGÔ THẢO
(Từ kỷ niệm của một nhà văn)
Trong đời mỗi người, thường vẫn có một nhà văn, mà ta thường tìm tới đọc lại vào những lúc cuộc sống chung hoặc riêng gặp những chuyện cần suy nghĩ.
Nhà văn Nguyễn Thi - Ảnh: vannghequandoi
Với riêng tôi, đó là nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn tức Nguyễn Thi. Đã hẳn, anh không phải là một nhà văn lớn. Nghe nhiều người nói, khi còn sống, trong quan hệ với những người xung quanh, anh không thuộc loại người khôn khéo. Sự thẳng thắn của anh từng làm nhiều người mất lòng. Nghĩa là quen biết anh cũng không dễ chịu chút nào. Những trang sách đã in của anh, có một thời tôi đã đọc rất ham thích, nhưng nay đọc lại, hương xưa cũng bay đi khá nhiều, bởi đó chưa phải là những tác phẩm mà cái giếng sâu tư tưởng không bị vơi cạn dần theo thời gian.
Lúc tôi từ mặt trận Trị Thiên trở về làm báo ở tờ Tạp chí anh đã từng sống, thì anh đã trở lại chiến trường và đã hy sinh. Tin ấy, tôi biết được, do một người bạn học tình cờ gặp trên một chặng đường giao liên qua phía động Cô Tiên gần Dốc Con Mèo trong một ngày mưa của năm 1969 nhiều gian khổ ở phía Tây Thừa Thiên.
Anh hy sinh ở một nơi nào đó, vào một ngày nào đó, đã có bao bạn văn và đồng đội viết hồi ức, mà đến nay vẫn chưa ai xác định rõ. Điều duy nhất biết chắc là sau lần tham gia tổng tấn công Sài Gòn đợt hai vào mùa hè năm Mậu Thân không thể quên, anh đã không trở về. Cả điều đó nữa, cuộc đời anh cũng giống bao nhiêu đồng đội một thời, sinh Bắc, tử Nam. Anh không có mặt trong ngày chiến thắng đầu hè 1975, nhưng có một người mẹ, những người con vẫn đợi anh về. Lần trở lại tiểu sử, tôi biết, anh có một người bố hai đời vợ, một người mẹ hai đời chồng. Đến lượt anh cũng có hai đời vợ và mỗi người vợ anh không dưới hai đời chồng. Quê ở Hà Nam Ninh, anh hy sinh ở cửa ngõ phía Tây thành phố mang tên Bác, nơi anh đã có mặt từ tuổi thanh niên, từng tham gia chiến đấu trước ngày đi tập kết. Anh vào thành phố, ngoài nhiệm vụ chiến đấu, còn có một nguyện vọng riêng, tìm gặp người con gái sinh ngày anh lên tàu tập kết, ngoài mọi tình thương cha con bình thường còn có nhiều xót xa ân hận là mình có lỗi với con.
![]() |
| Một trang ghi chép của nhà văn Nguyễn Thi - Ảnh: qdnd.vn |
Nói cho cùng, cả cuộc đời ngổn ngang chắp vá ấy cũng là khá phổ biến ở đất nước mình mấy chục năm chiến tranh. Tôi chỉ bắt đầu chú ý đến anh, nói cho đúng ra, anh chỉ bắt đầu lôi cuốn và ám ảnh tôi là từ ngày tôi lần lại những trang sổ tay ghi chép của anh. Phần lớn, đó là những cuốn vở học trò, anh ghi chép trong lần trở lại Nam Bộ thứ hai, do một bạn văn gửi về miền Bắc sau khi anh hy sinh. Hơn 15 năm qua, mực phai, giấy úa, nhiều trang thấm nước sắp tự hủy theo thời gian. Nét chữ li ti rất khó đọc. Nhưng càng đọc, tôi càng bị lôi cuốn bởi sự thực của đời sống chiến tranh ở một vùng mình chưa hề tới. Cuốn Năm tháng chưa xa - gồm một phần ghi chép của anh, giá mà không gặp bao nhiêu trắc trở đầy bí ẩn, thì đã có thể ra đời, giúp bạn đọc biết thêm một phần con người nhà văn.
Từ đó, lần trở lại, tôi bàng hoàng trước những trang ghi chép về Hiền Lương, đôi bờ con sông tuyến, mảnh đất đã mang lại cho anh những xúc động lớn, buộc anh cầm bút và trở thành nhà văn. Dạo đó, có biết bao nhà văn nhà thơ cả nước và thế giới đã tìm tới mảnh đất này. Những trang ghi chép chi tiết vụn vặt, lần lượt làm sống lại trong tôi những tình cảm thiết tha, bỏng cháy một thời. Có những chị phụ nữ, đăm đăm nhìn sang bờ Bắc, tìm trong những người công an giới tuyến, xem có bóng chồng mình không. Khi nhận ra người mà chị đinh ninh là chồng, ngày ngày chị như bám chân tại chỗ để ngắm. Cái nón trên tay, trong nắng hè người ta quạt từ trên xuống. Muốn làm dấu cho người ngỡ là chồng, chị quạt ngược từ dưới lên.
Để nhìn người thân trên bờ bắc, che mắt giặc, có chị đem hết mọi thứ có trong nhà ra sông giặt. Cơm trưa mà ra vo gạo từ nửa buổi. Có lần, ở một đoạn sông, nhìn sang bên kia, nhà văn lấy làm lạ, có một vườn chuối nhà ai lá rách tan tác như riêng nó bị bão. Quan sát kỹ, anh mới nhận ra, nơi đó có một người con gái, nhớ ai, đợi ai, nhìn ai trên bờ Bắc, nấp dưới tàu lá chuối, đôi bàn tay bối rối không tự điều khiển được cứ xé nát những ngọn lá chuối trong vườn nhà... Và còn biết bao chi tiết, câu chuyện, hình ảnh cảm động ghi lại nguyện ước thiết tha, một thời: hòa bình thống nhất cho quê hương.
Tròn hai mươi năm sau những ngày Nguyễn Ngọc Tấn về Vĩnh Linh, đi dọc bờ sông Hiền Lương từ biển lên nguồn và cần mẫn ghi chép những điều mắt thấy tai nghe ấy, nước nhà mới thống nhất! Ngày ấy, ở miền Tây anh đến núi rừng Trường Sơn còn bạt ngàn kín đáo. Ngày thắng lợi anh không còn có thể trở về để nhìn lại đôi bờ sông tuyến. Để cho đôi bờ thuộc về một dòng sông bình yên, nơi đầu nguồn xưa, giờ có một vùng đồi phong quang, là nơi yên nghỉ của hai vạn chiến sĩ quê ở mọi miền đất nước. Nghĩa trang Trường Sơn nằm đó như một lời nhắc nhủ thiết tha và nghiêm khắc với mọi người còn sống ý thức về nghĩa vụ sống của mình. Đó là một tượng đài hùng vĩ và thiêng liêng nhắc nhủ nhiều thế hệ cái giá phải trả cho độc lập thông nhất hòa bình.
Nguyễn Ngọc Tấn không có một trong số đó. Anh đã ra đi và hình như vẫn tiếp tục cuộc hành trình về phía trước. Lần trong sổ tay anh có mấy lần thấy anh ghi nội dung các cuộc họp cơ quan của anh hồi còn ở miền Bắc. Nơi đây có một ông phụ trách tốt bụng nhưng ôm đồm và đại khái! Có người hoàn toàn vô trách nhiệm với việc cơ quan với đồng đội. Có người băn khoăn vì bất tài và không thể viết lên tay. Có người luôn tìm mọi cơ hội, mưu kế đánh lừa cơ quan hữu trách để đưa bà vợ và gia đình ở quê ra Hà Nội... Tất cả họ, ít nhiều những năm qua đều có đi mặt trận. Nhưng tất cả vẫn còn sống. Giờ có người đã là cán bộ có uy tín, có người là nhà văn lớn của nước nhà. Riêng chủ nhân những cuốn sổ tay là không trở về. Anh để lại cho chúng ta nguyện ước thiêng liêng về một nền hòa bình thống nhất đất nước. Anh đã đem niềm vui, nỗi buồn của cuộc đời mình cùng hàng triệu người dân yêu nước trả giá cho nguyện ước đó thành hiện thực.
N.T.
(SH20/8-86)
Tải mã QRCode
PHAN VĂN CÁCTuy Lí Vương Nguyễn Miên Trinh (1820- 1897) là con thứ 11 vua Minh Mệnh triều Nguyễn, tự là Khôn Chương, lại có tự là Quý Trọng, hiệu là Tĩnh Phố (tên ngôi vườn ông ở) lại có hiệu là Vi Dã. Tuy Lí Vương là tước phong cuối cùng của ông (trước đó từng có tước Tuy Quốc công năm 19 tuổi).
HOÀNG CẦM(Lời Bạt cho tập thơ ĐÓA TẦM XUÂN của Trịnh Thanh Sơn - Nhà Xuất bản Văn học 1999)
NGUYỄN KHẮC PHÊTác phẩm đầu tay của tôi - tập ký sự “Vì sự sống con đường” (NXB Thanh Niên, Hà Nội, 1968) viết về những đồng đội của tôi trong cuộc chiến đấu anh hùng bảo vệ tuyến đường 12A lên đèo Mụ Dạ, một đoạn đường trọng yếu trong hệ thống đường Hồ Chí Minh giai đoạn 1965-1966, được xuất bản năm 1968, nhưng bài viết đầu tiên của tôi được in trên báo chí khi tôi vừa tròn 20 tuổi và đang học tại Hà Nội.
Thanh Hải tên thật là Phạm Bá Ngoãn. Anh sinh ngày 4 tháng 11 năm 1930, quê ở xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nhà thơ mất ngày 15 tháng 12 năm 1980, tại thành phố Huế.
LÊ VĂN DƯƠNG1. Quý II năm 2005, Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh phát hành, nói đúng ra là tái bản lần thứ nhất cuốn Tản mạn nhớ và quên của Nguyên Ngọc. Cuốn sách dày 560 trang, tập hợp 15 bài viết của tác giả ở những thời điểm khác nhau nhưng đa phần là vào những năm 90 của thế kỷ XX và một vài năm mở đầu thế kỷ XXI.
PHAN CHÍNSau khi làm tròn vai một nhà chính trị, không giống như nhiều người khác, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm rời Thủ đô Hà Nội về Huế sinh sống.
NGUYỄN THỊ KIM THANH(Nhân đọc Tập thơ Ngày đầu tiên của Trần Hữu Lục - NXB Hội Nhà Văn, 01-2010)
HOÀNG NHƯ MAI - NGUYỄN VĂN HẤN Cùng với những tập quán cổ truyền ngày Tết dân tộc, từ cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, nhân dân ta đã có thêm một tập quán quý báu nữa: đọc thơ chúc Tết của Bác Hồ.
NGÔ MINHTôi đọc và để ý đến thơ Đông Hà khi chị còn là sinh viên khoa văn Trường Đại học Sư phạm Huế. Thế hệ này có rất nhiều nữ sinh làm thơ gây được sự chú ý của bạn đọc ở Huế và miền Trung như Lê Thị Mỹ Ý, Nguyễn Thanh Thảo, Huỳnh Diễm Diễm.v.v... Trong đó có ấn tượng đối với tôi hơn cả là thơ Đông Hà.
NGUYỄN ANH TUẤNKhông gian trữ tình không là một địa danh cụ thể. Mặc dù có một “thôn Vĩ” luôn hiện hữu hết sức thơ mộng trên toàn đồ trực diện thẩm mỹ của bài thơ, với những màu sắc, hình ảnh, đường nét:…
KHÁNH PHƯƠNGNhân cách văn hóa của nhà văn có thể được biểu hiện bằng những hành động, thái độ trong đời sống, nhưng quan trọng hơn, nó chi phối nhân cách sáng tạo của nhà văn.
HỒNG DIỆUTrương Mỹ Dung đời Đường (Trung Quốc) có một bài thơ tình yêu không đề, được nhiều nhà thơ Việt Nam chú ý.
NGUYỄN KHOA BỘI LANMột hôm chú Văn tôi (Hải Triều Nguyễn Khoa Văn) đọc cho cả nhà nghe một bài thơ mà không nói của ai.
NGUYỄN QUANG HÀTôi nhớ sau thời gian luyện tập miệt mài, chuẩn bị lên đường chi viện cho miền Nam, trong lúc đang nơm nớp đoán già đoán non, không biết mình sẽ vào Tây Nguyên hay đi Nam Bộ thì đại đội trưởng đi họp về báo tin vui rằng chúng tôi được tăng viện cho chiến trường Bác Đô.
LÊ HUỲNH LÂM(Đọc tập truyện ngắn “Thõng tay vào chợ” của Bạch Lê Quang, NXB Thuận Hóa, 11/2009)
LÊ VŨ(Đọc tập thơ Nháp của Ngọc Tuyết - NXB Thanh niên 2009)
NGÔ MINHÐọc lại Chiếu Dời đô, tôi bỗng giật mình trước sự vĩ đại của một quyết sách. Từng câu từng chữ trong áng văn chương bất hủ này đều thể hiện thái độ vừa quyết đoán dứt khoát với một lý lẽ vững chắc, vừa là một lời kêu gọi sự đồng thuận của triều thần với lời lẽ rất khoan hòa, mềm mỏng.
LÊ HUỲNH LÂMThơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.
KHÁNH PHƯƠNGNgay từ thuở cùng Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương viết tuyên ngôn Tượng trưng, Trần Dần đã mặc nhiên khảng khái công bố quan niệm, thơ bỏ qua những biểu hiện đơn nghĩa của sự vật, sự kiện, đời sống, mà muốn dung hợp tất cả biểu hiện hiện thực trong cõi tương hợp của cảm giác, biến nó thành không gian rộng lớn tiếp biến kỳ ảo của những biểu tượng tiềm thức. Như vậy cũng có nghĩa, nhà thơ không được quyền sao chép ngay cả những cảm xúc dễ dãi của bản thân.
NGUYỄN CƯƠNGSư Bà Thích Nữ Diệu Không (tục danh Hồ Thị Hạnh) sinh năm 1905 viên tịch năm 1997 hưởng thọ 93 tuổi. Lúc sinh thời Sư Bà trụ trì tại Chùa Hồng Ân, một ngôi chùa nữ tu nổi tiếng ở TP Huế, đã một thời là trung tâm Phật giáo ở miền Nam.