NGUYỄN VĂN HÙNG
Chuột là loài vật luôn hiện hữu trong cuộc sống con người, bao gồm cả đời sống vật chất lẫn đời sống văn hóa tinh thần.
Từ Đông sang Tây, từ Cổ chí Kim, chuột đã trở thành biểu tượng liên/xuyên văn hóa mang sức mạnh biểu trưng cho ý niệm đa chiều về vũ trụ, nhân sinh, tâm linh, nhân tính. Danh xưng “chuột” đã đi vào ngôn ngữ đời sống qua lời ăn, tiếng nói hằng ngày, qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao, truyện cổ và trở thành hình tượng nghệ thuật trong các sáng tác văn chương.
Chuột - biểu tượng văn hóa nước đôi
Với đặc tính loài, chuột sinh sôi nảy nở rất nhanh, và là một trong những loài có khả năng thích nghi cao với mọi môi trường sống. Chúng có mặt khắp nơi và con người không ít lần “chạm trán” với chúng. Câu chuyện của người và chuột trong cuộc đấu tranh sinh tồn diễn ra trong suốt hành trình lịch sử nhân loại. Chuột đục khoét nhà cửa, phá hoại mùa màng, gặm nhấm lương thực, và gieo rắc mầm bệnh kinh hoàng cho con người. Chúng nghiễm nhiên trở thành kẻ thù nhỏ bé, đông đúc và nguy hiểm của loài người. Con người sợ hãi, ghét bỏ và tìm mọi cách tiêu diệt chúng. Song theo quy luật sinh thái tự nhiên và tinh thần, con người vẫn gắn bó với chuột, thậm chí quý chuột và thờ chuột. Đây chính là tính nước đôi trong văn hóa ứng xử của nhân loại không chỉ riêng với loài chuột.
Trong văn hóa phương Tây, chuột thường được liên tưởng với những ý niệm tiêu cực, xấu xa: kẻ phá hoại, kẻ chiếm chỗ, kẻ ăn cắp, kẻ gieo rắc tai họa - bệnh tật. Từ thời cổ xưa, chuột là “một biểu tượng âm ty, đóng vai trò quan trọng trong văn minh Địa trung hải từ thời tiền Hy Lạp”(1). Tín ngưỡng thờ chuột được cho là ra đời ở Hy Lạp từ thế kỉ XV trước Công nguyên. Trong bộ sử thi Hy Lạp vĩ đại Iliad, Homer đã kể câu chuyện về một con chuột bạch linh thiêng sống dưới bàn thờ thần Apollon trên đảo Tenedos. Cũng trong bộ sử thi này, thần Apollon được nhắc đến dưới cái tên Smintheus - phối sinh từ một từ có nghĩa là “chuột”. Ngay từ cái tên đã thể hiện tính nước đôi của biểu tượng: con chuột truyền dịch hạch là biểu tượng của Apollon - thần gieo bệnh dịch hạch; nhưng mặt khác, Apollon lại che chở loài người chống lại các loài chuột - vị thần của mùa màng. Và cũng từ đây, chuột thần có tên là Apollon Smintheus được nhiều cộng đồng tôn thờ. Qua các câu chuyện lưu truyền dưới thời Hy Lạp Cổ đại, chúng ta được biết nhiều bộ lạc đã coi chuột là vật tổ (totem), dùng tên chuột để đặt tên thành thị và tên thị tộc, lấy hình ảnh chuột làm biểu tượng cho cộng đồng hoặc in trên đồng tiền. Song dần dà, những nguy hại khủng khiếp của loài chuột gây cho người châu Âu, nhất là các cơn đại dịch cướp đi mạng sống của nhiều người, khiến chúng mất dần địa vị và sự tôn thờ trong văn hóa phương Tây.
Thế nhưng, trong văn hóa đại chúng, chuột lại trở thành biểu tượng có sức lan tỏa lớn, nhất là với thế giới trẻ thơ. Chuột Mickey và cô bạn gái Minnie đáng yêu, nhân vật hoạt hình - biểu tượng của hãng phim Walt Disney, xuất hiện lần đầu năm 1928 chuyển tải thông điệp sâu sắc về “một anh bạn nhỏ cố gắng hết sức những gì anh ta có thể”, “tất cả sự thành công lớn bắt đầu từ một chú chuột bé nhỏ” (Walt Disney). Cựu Tổng thống Mỹ Jim Carter từng nói: “Chuột Mickey là một đại sứ thiện chí, một nhà kiến tạo hòa bình, có thể vượt qua mọi rào cản ngôn ngữ”. Hay hình ảnh chú chuột màu nâu thông minh, lém lĩnh, láu cá - Jerry trong chuỗi phim hoạt hình Tom và Jerry được sáng tạo năm 1945 bởi William Hanna và Joseph Barbera của tập đoàn truyền thông Mỹ Metro-Goldwyn-Mayer, đã vượt qua mối quan hệ giữa kẻ đi săn và con mồi thường thấy. Thay vì là “nạn nhân” trong sự sắp đặt của tạo hóa, Jerry đã không ít lần đánh bại và hành hạ mèo Tom. Với câu chuyện mèo và chuột, các tác giả đã chứng minh, không có gì là tuyệt đối, ngay cả quy luật của tự nhiên, con người có thể tác động để thay đổi một phần nào đó; và quan trọng hơn, mối quan hệ loài phải được khởi sinh từ sự tôn trọng lẫn nhau.
So với phương Tây, phương Đông, nhất là những khu vực gắn với nền văn minh nông nghiệp lúa nước, dấu ấn của loài chuột in đậm trong đời sống lao động, sinh hoạt, và đặc biệt trong văn hóa tinh thần con người đậm nét. Loài chuột trong văn hóa phương Đông cũng mang biểu tượng có tính chất nước đôi rõ rệt(3). Trong thần thoại của một số dân tộc Đông Nam Á, chuột là “ân nhân” khi gắn với nạn đại hồng thủy và sự tái sinh của loài người. Dân tộc Kammu miền Bắc Thái Lan vẫn lưu truyền câu chuyện về chuột trúc đã báo hiệu cho hai anh em (một trai và một gái) về cơn đại hồng thủy sắp sửa diễn ra. Nhờ đó, hai anh em thoát nạn, sau tự kết hôn để tái sinh nhân loại. Cũng với motiv đại nạn - tái sinh, trong các câu chuyện cổ Indonesia và nhiều tộc người Đông Nam Á còn nhắc đến việc chuột dự báo mùa nước lũ dâng cao có thể nhấn chìm làng mạc, và để tránh nguy cơ bị hủy diệt, con người đã đóng tàu thuyền, chuẩn bị lương thực vượt biển tìm vùng đất trú ngụ mới. Trong hành trình đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên, chuột cũng trở thành thực phẩm cứu đói con người.
Văn hóa Trung Hoa mang đặc tính của hầu hết vùng văn hóa nhân loại. Bất kể loại hình chăn nuôi hay trồng trọt, từ khắp mọi miền, chuột hiện hữu như một phần của cuộc sống. Chúng chiếm vị trí đầu tiên trong 12 con giáp, và được xem là biểu tượng của sự trung thực, lòng vị tha, chí cầu tiến, tính hào phóng. Sự tồn sinh của cư dân nơi đây dựa nhiều vào thành quả trồng trọt, vì vậy, người Trung Hoa luôn ám ảnh về sức phá hoại khủng khiếp của loài chuột. Ở một khía cạnh khác, khả năng dự báo thiên tai của chúng đã giúp con người tránh được các nguy cơ, rủi ro do thiên nhiên trong lao động và cuộc sống. Do đó, trong tín ngưỡng của người Trung Hoa tồn tại tục thờ chuột, nhiều vùng còn dựng miếu, tổ chức cúng bái, dâng lễ để cầu mong mùa màng bội thu, đời sống bình yên. Tính biểu trưng hai mặt này của loài chuột cũng xuất hiện trong các nền văn hóa Nhật Bản, Triều Tiên, Ấn Độ và nhiều vùng văn hóa lân cận.
Chuột trong văn hóa và văn học dân gian Việt
Văn hóa Việt gắn liền với nền văn minh lúa nước, cố nhiên, loài chuột cũng dự phần không nhỏ vào đời sống vật chất và tinh thần của chúng ta từ ngàn xưa. Do những phiền toái và nguy cơ mà loài chuột gây ra, người Việt luôn tìm cách chế ngự và tiêu diệt chúng. Hình ảnh chuột thường được liên tưởng bằng những ý niệm tiêu cực: phá hoại, dơ bẩn, tai họa; đồng thời được vay mượn nhằm ám chỉ về thành phần “gặm nhấm”, gian lận của cải. Tuy vậy, người Việt cổ vẫn dành cho chúng một vị trí nhất định trong văn hóa tinh thần của mình.
Trong 12 con giáp, chuột được xếp đứng đầu, trên cả loài vật linh thiêng và uy mãnh như Rồng, Hổ, đã thế năm Tý còn là năm đầu của một kỷ - chu kì 60 năm. Điều này có thể được lí giải một phần bởi đặc tính sinh sôi nảy nở của chúng phù hợp với ước vọng mùa màng bội thu của cư dân vùng trồng trọt. Không những vậy, lương thực là nguồn sống đặc biệt quan trọng, nó quyết định đến sự tồn vong của con người; mà trong thời sơ khai, không loài nào hủy diệt mùa màng bằng chuột. Mối đe dọa mất mùa, chết đói bởi loài chuột luôn thường trực trong tâm thức người Việt. Vì vậy, ở một phương diện nào đó, chuột còn đáng sợ và khủng khiếp hơn Cọp (đây cũng là hai con vật duy nhất trong 12 con giáp được người Việt tôn xưng “ông”: ông Cọp, ông Tý). Về sau, khi nền nông nghiệp phát triển, cái đói không còn là nỗi ám ảnh, cùng với việc con người tìm ra nhiều phương cách tiêu diệt chúng, sự sùng bái với loài chuột càng giảm dần. Người Việt gán cho chúng những biểu trưng xấu xa: lười lao động, thích thụ hưởng, chuyên đục khoét, giỏi moi móc của cải chung. Có thể nói, với những đặc tính loài, chuột vừa khiến con người sợ hãi, ghét bỏ, vừa được con người tôn quý, thờ phụng. Từ biểu tượng văn hóa, hình ảnh chuột đã dịch chuyển, khúc xạ vào đời sống con người. Nó chuyên chở nhiều biểu trưng độc đáo, thú vị trong ngôn ngữ và văn hóa.
Hình ảnh con chuột cũng trở nên gần gũi, thân thuộc trong tâm thức và lời ăn tiếng nói của mỗi người dân Việt. Chuột và những đặc tính của nó đã đi vào lời ăn tiếng nói dân gian, nơi đúc kết những kinh nghiệm ứng xử với thiên nhiên, xã hội, con người; nơi gìn giữ những triết lý sống, ứng xử. Dựa vào các bộ phận của chuột, người Việt đã sáng tạo kho từ vựng phong phú liên quan trong đời sống: dưa chuột (loại quả thon dài có hình dáng con chuột), rễ chuột (chiếc rễ cái của cây giống chiếc đuôi chuột đâm sâu xuống đất), trò chơi bắt chuột (dùng ngón cái và ngón trỏ bấm vào bắp thịt cánh tay, nơi đó sẽ nổi lên một cục giống hình con chuột nhỏ). Hay chúng được dùng trong thuật ngữ y học - chuột rút, chỉ tình trạng cơ bị co rút khi hoạt động nhiều. Có khi dân gian còn dùng để chỉ mối quan hệ nam nữ bất chính, lén lút, không đàng hoàng: chim chuột.
Trong kho tàng văn học dân gian, người Việt thường khai thác những đặc tính không mấy tốt đẹp của loài chuột để liên tưởng, ví von, ám chỉ về con người. Hình ảnh chuột ví von cho tình trạng khốn đốn, khổ sở, thất bại của con người: Ướt như chuột lột, Chuột chạy cùng sào, Chuột sa cũi mèo, Lôi thôi như mèo sẩy chuột, Ném chuột vỡ lu... Đặc biệt nhiều nhất, chúng được dùng ám chỉ về những thói hư tật xấu của con người: vong ơn bội nghĩa, làm ơn mắc oán (Chuột cắn dây buộc mèo), hợm hĩnh, tự cao tự đại, đài các rởm, đua đòi không phải lối, trở nên lố bịch (Chuột chê xó bếp chẳng ăn/ Chó chê nhà dột sang nằm bụi tre; Chuột chù đeo đạc; Chim chích mà đậu cành sồi/ Chuột chù trong cống đòi soi gương tàu; Voi đú, chó đú, chuột chù cũng nhảy cẫng; Mèo khen mèo dài đuôi/ Chuột khen chuột nhỏ dễ chui, dễ trèo), khoe khoang, khoác lác, phô trương, vô tích sự (Chuột chù lại có xạ hương; Đầu voi đuôi chuột), không biết mình biết ta (Chuột chù chê khỉ rằng hôi/ Khỉ mới trả lời: cả họ mày thơm), ngu dốt còn ra vẻ ta đây (Chuột chù nếm giấm), vô kỉ luật, lợi dụng làm bậy (Mèo ra cửa, chuột xướng ca), giả tạo, che đậy bản chất thật, cuối cùng cũng bị lộ tẩy (Chuột đội vỏ trứng; Mèo già khóc chuột; Cháy nhà ra mặt chuột; Chuột chạy hở đuôi), liều lĩnh, dại dột, phiêu lưu vô lối (Chuột gặm chân mèo; Mèo nhỏ bắt chuột to), cơ hội, phất lên nhờ vận may chứ không phải bằng thực lực hay cố gắng (Chuột sa chĩnh gạo; Chuột sa bồ nếp), chậm chạp, lù đù (Lù đù như chuột chù phải khói), gian xảo, lấm lép, chực chờ hại người (Mắt dơi mày chuột; Len lét như chuột ngày), lười biếng, trốn tránh trách nhiệm (Lủi như chuột), mập mờ, gian dối, lai căng (Nói dơi nói chuột; Nửa dơi nửa chuột)…
Có thể nói đa phần hình ảnh chuột trong tâm thức người Việt đều mang cảm hứng phê phán, chế giễu, gièm pha, đả kích về thói hư tật xấu của con người. Một kho tàng phong phú thành ngữ, tục ngữ, ca dao… cho thấy khả năng quan sát tinh tế cũng như sự thâm thúy sâu cay của dân gian. Và đó cũng là cách người xưa gửi gắm những bài học về lối sống, cách ứng xử của con người trong cộng đồng.
Chuột - hình tượng ngụ ngôn văn học
Chuột không chỉ xuất hiện trong văn hóa, văn học dân gian, mà còn trở thành nguồn cảm hứng trong các sáng tác văn học viết. Những ý niệm nước đôi về chuột cũng được khúc xạ qua văn học, khiến hình tượng chuột trở nên đa sắc màu. Qua sáng tác của các nhà văn, thế giới loài chuột hiện lên sinh động, chân thực, sắc nét, phảng phất bóng dáng của cuộc sống, tính cách loài người. Các tác giả đã liên tưởng, ẩn dụ, ngụ ngôn, kết nối để chuyển tải nhiều thông điệp sâu sắc và thú vị về vũ trụ, nhân sinh, nhân tính, nhận vị của con người.
Trinh thử (Con chuột trinh tiết) là truyện thơ Nôm dài 850 câu lục bát và 2 bài thất ngôn Đường luật, hiện có nhiều ý kiến khác nhau về tác giả và thời điểm ra đời. Theo Dương Quảng Hàm trong Việt Nam thi văn hợp tuyển (1968), tác phẩm là của Trần triều xử sĩ Hồ Huyền Quy, sống vào cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV. Nhưng hiện nay, theo Triêu Dương trong Từ điển văn học (bộ mới), có thể bước đầu xác định truyện Trinh thử phiên bản Nôm thoát thai từ một tác phẩm văn xuôi chữ Hán nhan đề Đông thành trinh thử truyện (Truyện con chuột trinh tiết ở tường thành phía Đông), ra đời vào nửa sau thế kỉ XIX. Cũng theo nhà nghiên cứu, tác giả của Trinh thử Nôm có thể là một nho sĩ sống vào thời đó(2). Câu chuyện kể về con Chuột Bạch đang đi kiếm ăn bỗng nghe thấy tiếng chó sủa, sợ hãi chạy nấp vào hang Chuột Đực. Chuột Đực bèn tìm mọi cách gạ gẫm, dụ dỗ, nhưng Chuột Bạch kiên quyết từ chối, kháng cự. Biết không thể lay chuyển, Chuột Đực đành chữa thẹn và để cho Chuột Bạch ra về. Nhưng vừa ra đến cửa, nó gặp Chuột Cái về hang. Chuột Cái nổi máu ghen chạy đến nhà Chuột Bạch xỉ vả, nhục mạ. Mèo ở đâu xuất hiện, Chuột Bạch chạy thoát, còn Chuột Cái sa xuống ao. May lúc đó có Hồ sinh cứu giúp, đuổi Mèo đi và vớt Chuột Cái lên, sau đó minh oan cho Chuột Bạch, đồng thời khuyên nhủ Chuột Cái cần biết cách khuyên dỗ chồng. Có thể thấy, Trinh thử mượn câu chuyện loài vật để ca ngợi hình ảnh người phụ nữ góa chồng chung thủy, đả kích bọn dâm dật giở trò ong bướm và phê phán người đàn bà ghen tuông mù quáng. Một số sự kiện còn ẩn ý hướng về tình hình chính sự triều Trần, chĩa mùi nhọn vào bọn quyền thần luồn cúi, bán rẻ lương tâm, đổi lấy danh vọng, địa vị. Luân lý đạo đức có phần hợp với quan niệm của nhân dân lao động, song vẫn nặng tinh thần lễ giáo phong kiến chính thống khi yêu cầu người đàn bà phải chịu đựng, nhường nhịn, với một kẻ như Chuột Đực, tuy có phê phán, song tác giả lại ngầm ủng hộ “làm trai ba bảy mới xinh”.
Văn học Trung đại còn xuất hiện một tác phẩm rất đáng chú ý viết vào khoảng cuối thế kỉ XIX của Nguyễn Đình Chiểu lấy hình ảnh chuột làm chất liệu sáng tác - Thảo thử hịch (Hịch đánh chuột). Tác giả đã mượn hình ảnh họ nhà chuột xấu xa, hèn mạt, tham lam, bỉ ổi để ám chỉ thực dân Pháp, qua đó vạch trần tội ác bạo tàn, cướp nước hại dân của chúng: Cớ sao lại đem lòng quỷ quái?/ Cớ sao còn làm thói gian tham?/ Túi đông pha thường bữa tha gừng;/ Ruộng nam quách ghe phen cắn lúa./ Nếp gạo của trời nuôi mạng, ăn phá rồi còn kéo xuống hang;/ Nệm mềm của chúng che thân, cắn nát lại tha về tổ.
Đến văn học hiện đại, hình ảnh chuột tuy xuất hiện không nhiều, song cũng thể hiện chất ngụ ngôn, giễu nhại, tiêu biểu như O Chuột, Truyện gã chuột bạch (1942, Tô Hoài) và SBC là săn bắt chuột (2011, Hồ Anh Thái). Viết về loài chuột, Tô Hoài đã không theo định kiến thông thường - ghét bỏ, coi khinh, mà với một quan niệm mới mẻ, ít nhiều có thiện cảm. Câu chuyện về thế giới loài chuột phảng phất hình ảnh của con người với những tập tục sinh hoạt, những cảnh buồn vui, những tính cách phức tạp. Với khả năng quan sát tinh tường và sự nhập vai biến hóa, tác giả đã lồng vào những phận người với biết bao nỗi đời bé mọn, cơ cực, tù túng trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Còn trong SBC là săn bắt chuột, với bút pháp hiện thực huyền ảo cùng lối viết giễu nhại, trào lộng sâu cay, Hồ Anh Thái đã phác họa một thế giới chuột và cuộc chiến với con người. Hình tượng chuột trong tác phẩm của Hồ Anh Thái mang bóng dáng của tranh Đông Hồ Đám cưới chuột, những chú chuột nổi tiếng của văn hóa đại chúng phương Tây và cả những chú chuột quang máy tính hiện đại.
Trên thế giới, so với các loài vật khác, mặc dù chuột ít khi được lựa chọn làm nhân vật trung tâm trong văn học, song không vì thế mà hình tượng này trở nên ít đặc sắc. Ngay từ các câu chuyện ngụ ngôn của La Fontaine đã mượn chuột làm hình ảnh để ẩn dụ về kiểu họp phù phiếm, phát biểu vu vơ rồi giải tán, không mang lại kết quả gì: …Té ra cuộc luận bàn thật hão/ Có lạ gì bàn láo xưa nay/ Chẳng là việc chuột thế này/ Việc dân việc nước cũng hay bàn xằng (Hội đồng chuột - Nguyễn Văn Vĩnh dịch).
Chuột luôn xuất hiện trong hành trình lịch sử nhân loại, chúng trở thành chứng nhân và tác nhân ám ảnh con người. Tiểu thuyết nổi tiếng Dịch hạch (1947) của Albert Camus đã tái hiện về thảm họa do loài chuột gây ra, cướp đi sinh mạng biết bao nhiêu con người. Những cái chết phi lí để lại trong nhân loại nỗi hoang mang, lo âu, sợ hãi về những điều bất trắc có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong cuộc sống. Câu chuyện về nạn dịch hạch còn mang những dự cảm bất an về bất kì hình thức bạo lực hoặc phi bạo lực nào cũng trở thành mối đe dọa cuộc sống loài người, có thể đè nặng lên nhân loại trong tương lai. Trong tiểu thuyết Của chuột và người (1961), John Steinbeck qua hình ảnh của chuột đã ẩn dụ về số phận lang bạt, trôi nổi vô định, hoang mang lạc lối của những kẻ làm thuê trong thời kì Đại Khủng hoảng. Trong cuộc đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên và chính bản thể, kẻ yếu thế buộc phải sống cay nghiệt, cô độc, bất chấp mọi điều kể cả sự tha hóa, biến chất; cuối cùng, con người cũng như loài chuột, “những dự tính hoàn hảo của chuột và người thường không thực hiện được”.
Trong số những tác phẩm viết về thế giới loài chuột, có lẽ tiểu thuyết Gió qua rặng liễu (1908) của Kenneth Grahame mang màu sắc tươi sáng hơn cả. Tác phẩm kinh điển của văn học thiếu nhi Anh này được mệnh danh là “Cuốn Sách Của Mọi Nhà, một cuốn sách mà mọi người trong gia đình yêu mến, và trích dẫn liên tục, một cuốn sách được đọc to cho mọi người khách mới nghe và được xem là tiêu chuẩn để xác định giá trị của người đó” (Lời giới thiệu của Alan Alexander Milne (1882 - 1956). Bốn người bạn Chuột Nước, Chuột Chũi, bác Lửng cùng Ngài Cóc trái khoáy với những cuộc phiêu lưu kỳ cục trên và bên sông, và cả trong tòa lâu đài hoành tráng của Ngài Cóc đã vẽ nên một thế giới thiên nhiên kì thú. Đằng sau câu chuyện của chuột và những người bạn, tác phẩm đã truyền đi thông điệp sâu sắc về tình bạn, lòng vị tha, cao thượng, về tình yêu thương, cộng sinh, cho đến hôm nay vẫn khiến biết bao thế hệ độc giả say mê.
Từ một biểu tượng liên văn hóa, chuột đã in “dấu chân” trong tín ngưỡng, phong tục, văn hóa nhân loại nói chung và người Việt nói riêng từ thuở xa xưa. Quá trình dịch chuyển, thẩm thấu từ biểu tượng ấy đã thể hiện đặc trưng văn hóa, dân tộc trong cách nghĩ, lối nói của mỗi tộc người. Khám phá về biểu tượng chuột trong văn hóa nhân loại, đặc biệt trong ngôn ngữ và đời sống người Việt cũng là cách để chúng ta tiếp cận, khám phá và luận giải những biểu hiện đa diện, nhiều chiều, phức tạp của văn hóa, tâm thức, dân tộc tính. Bằng điểm nhìn văn hóa, tinh thần nhân bản, biểu tượng chuột đã nối kết những kí ức văn hóa nhân loại với cuộc sống hiện đại, từ tộc người này đến tộc người khác về các vấn đề vũ trụ, tự nhiên, tồn sinh, đấu tranh của mỗi cá nhân, dân tộc với thiên nhiên và trong bản thể mỗi người.
N.V.H
(TCSH372/02-2020)
......................................................
(1) Chevalier Jean, Gheerbrant Alain (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, (Phạm Vĩnh Cư và… dịch), Nxb. Đà Nẵng, tr.192.
(2) Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (chủ biên, 2004), Từ điển văn học (bộ mới), Nxb. Thế giới, Hà Nội, tr.1820.
(3) Xem thêm, Nguyễn Ngọc Thơ (2008), “Chuột trong văn hóa thế giới”, báo Tuổi trẻ Xuân Mậu Tý (ngày 16/01/2008).
Tải mã QRCode
TRẦN THANH HÀTrong giới học thuật, Trương Đăng Dung được biết đến như một người làm lý luận thuần tuý. Bằng lao động âm thầm, cần mẫn Trương Đăng Dung đã đóng góp cho nền lý luận văn học hiện đại Việt đổi mới và bắt kịp nền lý luận văn học trên thế giới.
PHẠM XUÂN PHỤNG Chu Dịch có 64 quẻ, mỗi quẻ có 6 hào. Riêng hai quẻ Bát Thuần Càn và Bát Thuần Khôn, mỗi quẻ có thêm một hào.
NGÔ ĐỨC TIẾNPhan Đăng Dư, thân phụ nhà cách mạng Phan Đăng Lưu là người họ Mạc, gốc Hải Dương. Đời Mạc Mậu Giang, con vua Mạc Phúc Nguyên lánh nạn vào Tràng Thành (nay là Hoa Thành, Yên Thành, Nghệ An) sinh cơ lập nghiệp ở đó, Phan Đăng Dư là hậu duệ đời thứ 14.
HỒ THẾ HÀLTS: Văn học Việt về đề tài chiến tranh là chủ đề của cuộc Toạ đàm văn học do Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế tổ chức ngày 20 tháng 12 năm 2005. Tuy tự giới hạn ở tính chất và phạm vi hẹp, nhưng Toạ đàm đã thu hút đông đảo giới văn nghệ sĩ, nhà giáo, trí thức ở Huế tham gia, đặc biệt là những nhà văn từng mặc áo lính ở chiến trường. Gần 20 tham luận gửi đến và hơn 10 ý kiến thảo luận, phát biểu trực tiếp ở Toạ đàm đã làm cho không khí học thuật và những vấn đề thực tiễn của sáng tạo văn học về đề tài chiến tranh trở nên cấp thiết và có ý nghĩa. Sông Hương trân trọng giới thiệu bài Tổng lược và 02 bài Tham luận đã trình bày ở cuộc Toạ đàm.
TRẦN HUYỀN SÂM1. Tại diễn đàn Nobel năm 2005, Harold Pinter đã dành gần trọn bài viết của mình cho vấn đề chiến tranh. Ông cho rằng, nghĩa vụ hàng đầu của một nghệ sĩ chân chính là góp phần làm rõ sự thật về chiến tranh: “Cái nghĩa vụ công dân cốt yếu nhất mà tất cả chúng ta đều phải thi hành là... quyết tâm dũng mãnh để xác định cho được sự thật thực tại...
NGUYỄN HỒNG DŨNG"HỘI CHỨNG VIỆT NAM"Trong lịch sử chiến tranh Mỹ, thì chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh mà người Mỹ bị sa lầy lâu nhất (1954-1975), và đã để lại những hậu quả nặng nề cho nước Mỹ. Hậu quả đó không chỉ là sự thất bại trong cuộc chiến, mà còn ở những di chứng kéo dài làm ảnh hưởng trầm trọng đến đời sống Mỹ, mà người Mỹ gọi đó là "Hội chứng Việt Nam".
BÍCH THUNăm 2005, GS. Phong Lê vinh dự nhận giải thưởng Nhà nước về Khoa học với cụm công trình: Văn học Việt Nam hiện đại - những chân dung tiêu biểu (Nxb ĐHQG, H, 2001, 540 trang); Một số gương mặt văn chương - học thuật Việt hiện đại (Nxb GD, H, 2001, 450 trang); Văn học Việt hiện đại - lịch sử và lý luận (Nxb KHXH. H, 2003, 780 trang). Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu khoa học say mê, tâm huyết và cũng đầy khổ công, vất vả của một người sống tận tụy với nghề.
THÁI DOÃN HIỂU Trong hôn nhân, đàn bà lấy chồng là để vào đời, còn đàn ông cưới vợ là để thoát ra khỏi cuộc đời. Hôn nhân tốt đẹp tạo nên hạnh phúc thiên đường, còn hôn nhân trắc trở, đổ vỡ, gia đình thành bãi chiến trường. Tình yêu chân chính thanh hóa những tâm hồn hư hỏng và tình yêu xấu làm hư hỏng những linh hồn trinh trắng.
NGUYỄN THỊ MỸ LỘCLà người biết yêu và có chút văn hóa không ai không biết Romeo and Juliet của Shakespeare, vở kịch được sáng tác cách ngày nay vừa tròn 410 năm (1595 - 2005). Ngót bốn thế kỷ nay Romeo and Juliet được coi là biểu tượng của tình yêu. Ý nghĩa xã hội của tác phẩm đã được thừa nhận, giá trị thẩm mĩ đã được khám phá, hiệu ứng bi kịch đã được nghiền ngẫm... Liệu còn có gì để khám phá?
NGUYỄN VĂN HẠNH1. Từ nhiều năm nay, và bây giờ cũng vậy, chúng ta chủ trương xây dựng một nền văn nghệ mới ngang tầm thời đại, xứng đáng với tài năng của dân tộc, của đất nước.
HỒ THẾ HÀ(Tham luận đọc tại Hội thảo Tạp chí văn nghệ 6 tỉnh Bắc miền Trung)
LÊ GIA NINHNgày 10 tháng 10 năm 1955, Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bừng lên niềm vui, ngập trong cờ, hoa và nắng thu. Những chàng trai ngày “ra đi đầu không ngoảnh lại”, trải qua cuộc trường chinh ba ngàn ngày trở về trong niềm vui hân hoan và những dòng “nước mắt dành khi gặp mặt” (Nam Hà).
THANH TÙNGChống tham nhũng, đục khoét dân lành không chỉ là công việc của nhà chức trách mà còn ở tất cả mọi người dù ở chế độ xã hội nào. Các thi sĩ không chỉ làm thơ ca ngợi cuộc sống tình yêu, đất nước con người mà còn dùng ngọn bút thông qua nước thi phẩm của mình để lên án, vạch mặt bọn quan tham này.
NGÔ ĐỨC TIẾNTrong lịch sử các nhà khoa bảng ở Việt , ít có gia đình nào cả ba ông cháu, cha con đều đỗ Trạng nguyên. Đó là gia đình Trạng nguyên Hồ Tông Thốc ở Kẻ Cuồi, Tam Công, Thọ Thành, Yên Thành, Nghệ An.
PHẠM XUÂN NGUYÊN1. Trước hết ta phải bàn với nhau về chữ hay, tức thế nào là một tác phẩm hay. Bởi cái hay không bất biến trong không gian và thời gian, nó vận động và biến đổi tùy theo hoàn cảnh, với những tiêu chí cụ thể khác nhau.
TRẦN HUYỀN SÂMRuồng bỏ - Disgrace (1) là một cuốn tiểu thuyết mang phong cách giản dị. Nhưng đó là sự giản dị của một bậc thầy về thể loại roman. Giới lý luận văn học và các chính trị gia phương Tây (2) đã đặt ra những câu hỏi có tính hoài nghi. Điều gì ở cuốn sách có độ trang khiêm tốn này đã mang lại giải Nobel cho Coetzee: Vấn đề kỹ thuật tiểu thuyết, nỗi điếm nhục về nhân cách con người, hay là bi kịch lịch sử hậu Apartheid?
NGUYỄN THÀNHLịch sử phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX đánh dấu bởi nhiều khuynh hướng phê bình hiện đại: phê bình ấn tượng, phê bình phân tâm học, phê bình xã hội học, phê bình mác xít, phê bình thi pháp học...
TRẦN LỘC HÙNG“NỒI HƠI NGUYÊN TỬ” NGĂN NGỪA THẾ CHIẾN THỨ BAChuyện kể rằng sau cuộc thử nghiệm thành công của trái bom nguyên tử đầu tiên vào năm 1949, cha đẻ của nó - Igor Vaxilevich Kurchatov - đã khóc nức nở.
HÀ VĂN THỊNHSố 7 là một con số huyền thoại. Nếu như tính xuất xứ xa nhất, công đầu về việc “tìm ra” số 7, thuộc về người Ai Cập, cách nay ít nhất 5.000 năm. Khi hiểu được rõ ràng việc con sông Nil chia làm 7 nhánh trước lúc đổ ra Địa Trung Hải, người Ai Cập vận “lý” để tin là nó nhất định phải hàm chứa nghĩa bí ẩn nào đó phản ánh cái “tư tưởng” triết lý của Đấng Tạo hóa.
TRẦN VIẾT THIỆNNăm 1987, người ta từ ngạc nhiên, ngỡ ngàng đến sững sờ trước sự trình làng của một cây bút đã vào độ tứ tuần. Tuổi bốn mươi lại là thời kỳ son sắt nhất của cây bút này, nói theo quan niệm của ông: “Đời viết văn cũng giống như đời người đàn bà”.