NGUYỄN VĂN HÙNG
Chuột là loài vật luôn hiện hữu trong cuộc sống con người, bao gồm cả đời sống vật chất lẫn đời sống văn hóa tinh thần.
Từ Đông sang Tây, từ Cổ chí Kim, chuột đã trở thành biểu tượng liên/xuyên văn hóa mang sức mạnh biểu trưng cho ý niệm đa chiều về vũ trụ, nhân sinh, tâm linh, nhân tính. Danh xưng “chuột” đã đi vào ngôn ngữ đời sống qua lời ăn, tiếng nói hằng ngày, qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao, truyện cổ và trở thành hình tượng nghệ thuật trong các sáng tác văn chương.
Chuột - biểu tượng văn hóa nước đôi
Với đặc tính loài, chuột sinh sôi nảy nở rất nhanh, và là một trong những loài có khả năng thích nghi cao với mọi môi trường sống. Chúng có mặt khắp nơi và con người không ít lần “chạm trán” với chúng. Câu chuyện của người và chuột trong cuộc đấu tranh sinh tồn diễn ra trong suốt hành trình lịch sử nhân loại. Chuột đục khoét nhà cửa, phá hoại mùa màng, gặm nhấm lương thực, và gieo rắc mầm bệnh kinh hoàng cho con người. Chúng nghiễm nhiên trở thành kẻ thù nhỏ bé, đông đúc và nguy hiểm của loài người. Con người sợ hãi, ghét bỏ và tìm mọi cách tiêu diệt chúng. Song theo quy luật sinh thái tự nhiên và tinh thần, con người vẫn gắn bó với chuột, thậm chí quý chuột và thờ chuột. Đây chính là tính nước đôi trong văn hóa ứng xử của nhân loại không chỉ riêng với loài chuột.
Trong văn hóa phương Tây, chuột thường được liên tưởng với những ý niệm tiêu cực, xấu xa: kẻ phá hoại, kẻ chiếm chỗ, kẻ ăn cắp, kẻ gieo rắc tai họa - bệnh tật. Từ thời cổ xưa, chuột là “một biểu tượng âm ty, đóng vai trò quan trọng trong văn minh Địa trung hải từ thời tiền Hy Lạp”(1). Tín ngưỡng thờ chuột được cho là ra đời ở Hy Lạp từ thế kỉ XV trước Công nguyên. Trong bộ sử thi Hy Lạp vĩ đại Iliad, Homer đã kể câu chuyện về một con chuột bạch linh thiêng sống dưới bàn thờ thần Apollon trên đảo Tenedos. Cũng trong bộ sử thi này, thần Apollon được nhắc đến dưới cái tên Smintheus - phối sinh từ một từ có nghĩa là “chuột”. Ngay từ cái tên đã thể hiện tính nước đôi của biểu tượng: con chuột truyền dịch hạch là biểu tượng của Apollon - thần gieo bệnh dịch hạch; nhưng mặt khác, Apollon lại che chở loài người chống lại các loài chuột - vị thần của mùa màng. Và cũng từ đây, chuột thần có tên là Apollon Smintheus được nhiều cộng đồng tôn thờ. Qua các câu chuyện lưu truyền dưới thời Hy Lạp Cổ đại, chúng ta được biết nhiều bộ lạc đã coi chuột là vật tổ (totem), dùng tên chuột để đặt tên thành thị và tên thị tộc, lấy hình ảnh chuột làm biểu tượng cho cộng đồng hoặc in trên đồng tiền. Song dần dà, những nguy hại khủng khiếp của loài chuột gây cho người châu Âu, nhất là các cơn đại dịch cướp đi mạng sống của nhiều người, khiến chúng mất dần địa vị và sự tôn thờ trong văn hóa phương Tây.
Thế nhưng, trong văn hóa đại chúng, chuột lại trở thành biểu tượng có sức lan tỏa lớn, nhất là với thế giới trẻ thơ. Chuột Mickey và cô bạn gái Minnie đáng yêu, nhân vật hoạt hình - biểu tượng của hãng phim Walt Disney, xuất hiện lần đầu năm 1928 chuyển tải thông điệp sâu sắc về “một anh bạn nhỏ cố gắng hết sức những gì anh ta có thể”, “tất cả sự thành công lớn bắt đầu từ một chú chuột bé nhỏ” (Walt Disney). Cựu Tổng thống Mỹ Jim Carter từng nói: “Chuột Mickey là một đại sứ thiện chí, một nhà kiến tạo hòa bình, có thể vượt qua mọi rào cản ngôn ngữ”. Hay hình ảnh chú chuột màu nâu thông minh, lém lĩnh, láu cá - Jerry trong chuỗi phim hoạt hình Tom và Jerry được sáng tạo năm 1945 bởi William Hanna và Joseph Barbera của tập đoàn truyền thông Mỹ Metro-Goldwyn-Mayer, đã vượt qua mối quan hệ giữa kẻ đi săn và con mồi thường thấy. Thay vì là “nạn nhân” trong sự sắp đặt của tạo hóa, Jerry đã không ít lần đánh bại và hành hạ mèo Tom. Với câu chuyện mèo và chuột, các tác giả đã chứng minh, không có gì là tuyệt đối, ngay cả quy luật của tự nhiên, con người có thể tác động để thay đổi một phần nào đó; và quan trọng hơn, mối quan hệ loài phải được khởi sinh từ sự tôn trọng lẫn nhau.
So với phương Tây, phương Đông, nhất là những khu vực gắn với nền văn minh nông nghiệp lúa nước, dấu ấn của loài chuột in đậm trong đời sống lao động, sinh hoạt, và đặc biệt trong văn hóa tinh thần con người đậm nét. Loài chuột trong văn hóa phương Đông cũng mang biểu tượng có tính chất nước đôi rõ rệt(3). Trong thần thoại của một số dân tộc Đông Nam Á, chuột là “ân nhân” khi gắn với nạn đại hồng thủy và sự tái sinh của loài người. Dân tộc Kammu miền Bắc Thái Lan vẫn lưu truyền câu chuyện về chuột trúc đã báo hiệu cho hai anh em (một trai và một gái) về cơn đại hồng thủy sắp sửa diễn ra. Nhờ đó, hai anh em thoát nạn, sau tự kết hôn để tái sinh nhân loại. Cũng với motiv đại nạn - tái sinh, trong các câu chuyện cổ Indonesia và nhiều tộc người Đông Nam Á còn nhắc đến việc chuột dự báo mùa nước lũ dâng cao có thể nhấn chìm làng mạc, và để tránh nguy cơ bị hủy diệt, con người đã đóng tàu thuyền, chuẩn bị lương thực vượt biển tìm vùng đất trú ngụ mới. Trong hành trình đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên, chuột cũng trở thành thực phẩm cứu đói con người.
Văn hóa Trung Hoa mang đặc tính của hầu hết vùng văn hóa nhân loại. Bất kể loại hình chăn nuôi hay trồng trọt, từ khắp mọi miền, chuột hiện hữu như một phần của cuộc sống. Chúng chiếm vị trí đầu tiên trong 12 con giáp, và được xem là biểu tượng của sự trung thực, lòng vị tha, chí cầu tiến, tính hào phóng. Sự tồn sinh của cư dân nơi đây dựa nhiều vào thành quả trồng trọt, vì vậy, người Trung Hoa luôn ám ảnh về sức phá hoại khủng khiếp của loài chuột. Ở một khía cạnh khác, khả năng dự báo thiên tai của chúng đã giúp con người tránh được các nguy cơ, rủi ro do thiên nhiên trong lao động và cuộc sống. Do đó, trong tín ngưỡng của người Trung Hoa tồn tại tục thờ chuột, nhiều vùng còn dựng miếu, tổ chức cúng bái, dâng lễ để cầu mong mùa màng bội thu, đời sống bình yên. Tính biểu trưng hai mặt này của loài chuột cũng xuất hiện trong các nền văn hóa Nhật Bản, Triều Tiên, Ấn Độ và nhiều vùng văn hóa lân cận.
Chuột trong văn hóa và văn học dân gian Việt
Văn hóa Việt gắn liền với nền văn minh lúa nước, cố nhiên, loài chuột cũng dự phần không nhỏ vào đời sống vật chất và tinh thần của chúng ta từ ngàn xưa. Do những phiền toái và nguy cơ mà loài chuột gây ra, người Việt luôn tìm cách chế ngự và tiêu diệt chúng. Hình ảnh chuột thường được liên tưởng bằng những ý niệm tiêu cực: phá hoại, dơ bẩn, tai họa; đồng thời được vay mượn nhằm ám chỉ về thành phần “gặm nhấm”, gian lận của cải. Tuy vậy, người Việt cổ vẫn dành cho chúng một vị trí nhất định trong văn hóa tinh thần của mình.
Trong 12 con giáp, chuột được xếp đứng đầu, trên cả loài vật linh thiêng và uy mãnh như Rồng, Hổ, đã thế năm Tý còn là năm đầu của một kỷ - chu kì 60 năm. Điều này có thể được lí giải một phần bởi đặc tính sinh sôi nảy nở của chúng phù hợp với ước vọng mùa màng bội thu của cư dân vùng trồng trọt. Không những vậy, lương thực là nguồn sống đặc biệt quan trọng, nó quyết định đến sự tồn vong của con người; mà trong thời sơ khai, không loài nào hủy diệt mùa màng bằng chuột. Mối đe dọa mất mùa, chết đói bởi loài chuột luôn thường trực trong tâm thức người Việt. Vì vậy, ở một phương diện nào đó, chuột còn đáng sợ và khủng khiếp hơn Cọp (đây cũng là hai con vật duy nhất trong 12 con giáp được người Việt tôn xưng “ông”: ông Cọp, ông Tý). Về sau, khi nền nông nghiệp phát triển, cái đói không còn là nỗi ám ảnh, cùng với việc con người tìm ra nhiều phương cách tiêu diệt chúng, sự sùng bái với loài chuột càng giảm dần. Người Việt gán cho chúng những biểu trưng xấu xa: lười lao động, thích thụ hưởng, chuyên đục khoét, giỏi moi móc của cải chung. Có thể nói, với những đặc tính loài, chuột vừa khiến con người sợ hãi, ghét bỏ, vừa được con người tôn quý, thờ phụng. Từ biểu tượng văn hóa, hình ảnh chuột đã dịch chuyển, khúc xạ vào đời sống con người. Nó chuyên chở nhiều biểu trưng độc đáo, thú vị trong ngôn ngữ và văn hóa.
Hình ảnh con chuột cũng trở nên gần gũi, thân thuộc trong tâm thức và lời ăn tiếng nói của mỗi người dân Việt. Chuột và những đặc tính của nó đã đi vào lời ăn tiếng nói dân gian, nơi đúc kết những kinh nghiệm ứng xử với thiên nhiên, xã hội, con người; nơi gìn giữ những triết lý sống, ứng xử. Dựa vào các bộ phận của chuột, người Việt đã sáng tạo kho từ vựng phong phú liên quan trong đời sống: dưa chuột (loại quả thon dài có hình dáng con chuột), rễ chuột (chiếc rễ cái của cây giống chiếc đuôi chuột đâm sâu xuống đất), trò chơi bắt chuột (dùng ngón cái và ngón trỏ bấm vào bắp thịt cánh tay, nơi đó sẽ nổi lên một cục giống hình con chuột nhỏ). Hay chúng được dùng trong thuật ngữ y học - chuột rút, chỉ tình trạng cơ bị co rút khi hoạt động nhiều. Có khi dân gian còn dùng để chỉ mối quan hệ nam nữ bất chính, lén lút, không đàng hoàng: chim chuột.
Trong kho tàng văn học dân gian, người Việt thường khai thác những đặc tính không mấy tốt đẹp của loài chuột để liên tưởng, ví von, ám chỉ về con người. Hình ảnh chuột ví von cho tình trạng khốn đốn, khổ sở, thất bại của con người: Ướt như chuột lột, Chuột chạy cùng sào, Chuột sa cũi mèo, Lôi thôi như mèo sẩy chuột, Ném chuột vỡ lu... Đặc biệt nhiều nhất, chúng được dùng ám chỉ về những thói hư tật xấu của con người: vong ơn bội nghĩa, làm ơn mắc oán (Chuột cắn dây buộc mèo), hợm hĩnh, tự cao tự đại, đài các rởm, đua đòi không phải lối, trở nên lố bịch (Chuột chê xó bếp chẳng ăn/ Chó chê nhà dột sang nằm bụi tre; Chuột chù đeo đạc; Chim chích mà đậu cành sồi/ Chuột chù trong cống đòi soi gương tàu; Voi đú, chó đú, chuột chù cũng nhảy cẫng; Mèo khen mèo dài đuôi/ Chuột khen chuột nhỏ dễ chui, dễ trèo), khoe khoang, khoác lác, phô trương, vô tích sự (Chuột chù lại có xạ hương; Đầu voi đuôi chuột), không biết mình biết ta (Chuột chù chê khỉ rằng hôi/ Khỉ mới trả lời: cả họ mày thơm), ngu dốt còn ra vẻ ta đây (Chuột chù nếm giấm), vô kỉ luật, lợi dụng làm bậy (Mèo ra cửa, chuột xướng ca), giả tạo, che đậy bản chất thật, cuối cùng cũng bị lộ tẩy (Chuột đội vỏ trứng; Mèo già khóc chuột; Cháy nhà ra mặt chuột; Chuột chạy hở đuôi), liều lĩnh, dại dột, phiêu lưu vô lối (Chuột gặm chân mèo; Mèo nhỏ bắt chuột to), cơ hội, phất lên nhờ vận may chứ không phải bằng thực lực hay cố gắng (Chuột sa chĩnh gạo; Chuột sa bồ nếp), chậm chạp, lù đù (Lù đù như chuột chù phải khói), gian xảo, lấm lép, chực chờ hại người (Mắt dơi mày chuột; Len lét như chuột ngày), lười biếng, trốn tránh trách nhiệm (Lủi như chuột), mập mờ, gian dối, lai căng (Nói dơi nói chuột; Nửa dơi nửa chuột)…
Có thể nói đa phần hình ảnh chuột trong tâm thức người Việt đều mang cảm hứng phê phán, chế giễu, gièm pha, đả kích về thói hư tật xấu của con người. Một kho tàng phong phú thành ngữ, tục ngữ, ca dao… cho thấy khả năng quan sát tinh tế cũng như sự thâm thúy sâu cay của dân gian. Và đó cũng là cách người xưa gửi gắm những bài học về lối sống, cách ứng xử của con người trong cộng đồng.
Chuột - hình tượng ngụ ngôn văn học
Chuột không chỉ xuất hiện trong văn hóa, văn học dân gian, mà còn trở thành nguồn cảm hứng trong các sáng tác văn học viết. Những ý niệm nước đôi về chuột cũng được khúc xạ qua văn học, khiến hình tượng chuột trở nên đa sắc màu. Qua sáng tác của các nhà văn, thế giới loài chuột hiện lên sinh động, chân thực, sắc nét, phảng phất bóng dáng của cuộc sống, tính cách loài người. Các tác giả đã liên tưởng, ẩn dụ, ngụ ngôn, kết nối để chuyển tải nhiều thông điệp sâu sắc và thú vị về vũ trụ, nhân sinh, nhân tính, nhận vị của con người.
Trinh thử (Con chuột trinh tiết) là truyện thơ Nôm dài 850 câu lục bát và 2 bài thất ngôn Đường luật, hiện có nhiều ý kiến khác nhau về tác giả và thời điểm ra đời. Theo Dương Quảng Hàm trong Việt Nam thi văn hợp tuyển (1968), tác phẩm là của Trần triều xử sĩ Hồ Huyền Quy, sống vào cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV. Nhưng hiện nay, theo Triêu Dương trong Từ điển văn học (bộ mới), có thể bước đầu xác định truyện Trinh thử phiên bản Nôm thoát thai từ một tác phẩm văn xuôi chữ Hán nhan đề Đông thành trinh thử truyện (Truyện con chuột trinh tiết ở tường thành phía Đông), ra đời vào nửa sau thế kỉ XIX. Cũng theo nhà nghiên cứu, tác giả của Trinh thử Nôm có thể là một nho sĩ sống vào thời đó(2). Câu chuyện kể về con Chuột Bạch đang đi kiếm ăn bỗng nghe thấy tiếng chó sủa, sợ hãi chạy nấp vào hang Chuột Đực. Chuột Đực bèn tìm mọi cách gạ gẫm, dụ dỗ, nhưng Chuột Bạch kiên quyết từ chối, kháng cự. Biết không thể lay chuyển, Chuột Đực đành chữa thẹn và để cho Chuột Bạch ra về. Nhưng vừa ra đến cửa, nó gặp Chuột Cái về hang. Chuột Cái nổi máu ghen chạy đến nhà Chuột Bạch xỉ vả, nhục mạ. Mèo ở đâu xuất hiện, Chuột Bạch chạy thoát, còn Chuột Cái sa xuống ao. May lúc đó có Hồ sinh cứu giúp, đuổi Mèo đi và vớt Chuột Cái lên, sau đó minh oan cho Chuột Bạch, đồng thời khuyên nhủ Chuột Cái cần biết cách khuyên dỗ chồng. Có thể thấy, Trinh thử mượn câu chuyện loài vật để ca ngợi hình ảnh người phụ nữ góa chồng chung thủy, đả kích bọn dâm dật giở trò ong bướm và phê phán người đàn bà ghen tuông mù quáng. Một số sự kiện còn ẩn ý hướng về tình hình chính sự triều Trần, chĩa mùi nhọn vào bọn quyền thần luồn cúi, bán rẻ lương tâm, đổi lấy danh vọng, địa vị. Luân lý đạo đức có phần hợp với quan niệm của nhân dân lao động, song vẫn nặng tinh thần lễ giáo phong kiến chính thống khi yêu cầu người đàn bà phải chịu đựng, nhường nhịn, với một kẻ như Chuột Đực, tuy có phê phán, song tác giả lại ngầm ủng hộ “làm trai ba bảy mới xinh”.
Văn học Trung đại còn xuất hiện một tác phẩm rất đáng chú ý viết vào khoảng cuối thế kỉ XIX của Nguyễn Đình Chiểu lấy hình ảnh chuột làm chất liệu sáng tác - Thảo thử hịch (Hịch đánh chuột). Tác giả đã mượn hình ảnh họ nhà chuột xấu xa, hèn mạt, tham lam, bỉ ổi để ám chỉ thực dân Pháp, qua đó vạch trần tội ác bạo tàn, cướp nước hại dân của chúng: Cớ sao lại đem lòng quỷ quái?/ Cớ sao còn làm thói gian tham?/ Túi đông pha thường bữa tha gừng;/ Ruộng nam quách ghe phen cắn lúa./ Nếp gạo của trời nuôi mạng, ăn phá rồi còn kéo xuống hang;/ Nệm mềm của chúng che thân, cắn nát lại tha về tổ.
Đến văn học hiện đại, hình ảnh chuột tuy xuất hiện không nhiều, song cũng thể hiện chất ngụ ngôn, giễu nhại, tiêu biểu như O Chuột, Truyện gã chuột bạch (1942, Tô Hoài) và SBC là săn bắt chuột (2011, Hồ Anh Thái). Viết về loài chuột, Tô Hoài đã không theo định kiến thông thường - ghét bỏ, coi khinh, mà với một quan niệm mới mẻ, ít nhiều có thiện cảm. Câu chuyện về thế giới loài chuột phảng phất hình ảnh của con người với những tập tục sinh hoạt, những cảnh buồn vui, những tính cách phức tạp. Với khả năng quan sát tinh tường và sự nhập vai biến hóa, tác giả đã lồng vào những phận người với biết bao nỗi đời bé mọn, cơ cực, tù túng trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Còn trong SBC là săn bắt chuột, với bút pháp hiện thực huyền ảo cùng lối viết giễu nhại, trào lộng sâu cay, Hồ Anh Thái đã phác họa một thế giới chuột và cuộc chiến với con người. Hình tượng chuột trong tác phẩm của Hồ Anh Thái mang bóng dáng của tranh Đông Hồ Đám cưới chuột, những chú chuột nổi tiếng của văn hóa đại chúng phương Tây và cả những chú chuột quang máy tính hiện đại.
Trên thế giới, so với các loài vật khác, mặc dù chuột ít khi được lựa chọn làm nhân vật trung tâm trong văn học, song không vì thế mà hình tượng này trở nên ít đặc sắc. Ngay từ các câu chuyện ngụ ngôn của La Fontaine đã mượn chuột làm hình ảnh để ẩn dụ về kiểu họp phù phiếm, phát biểu vu vơ rồi giải tán, không mang lại kết quả gì: …Té ra cuộc luận bàn thật hão/ Có lạ gì bàn láo xưa nay/ Chẳng là việc chuột thế này/ Việc dân việc nước cũng hay bàn xằng (Hội đồng chuột - Nguyễn Văn Vĩnh dịch).
Chuột luôn xuất hiện trong hành trình lịch sử nhân loại, chúng trở thành chứng nhân và tác nhân ám ảnh con người. Tiểu thuyết nổi tiếng Dịch hạch (1947) của Albert Camus đã tái hiện về thảm họa do loài chuột gây ra, cướp đi sinh mạng biết bao nhiêu con người. Những cái chết phi lí để lại trong nhân loại nỗi hoang mang, lo âu, sợ hãi về những điều bất trắc có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong cuộc sống. Câu chuyện về nạn dịch hạch còn mang những dự cảm bất an về bất kì hình thức bạo lực hoặc phi bạo lực nào cũng trở thành mối đe dọa cuộc sống loài người, có thể đè nặng lên nhân loại trong tương lai. Trong tiểu thuyết Của chuột và người (1961), John Steinbeck qua hình ảnh của chuột đã ẩn dụ về số phận lang bạt, trôi nổi vô định, hoang mang lạc lối của những kẻ làm thuê trong thời kì Đại Khủng hoảng. Trong cuộc đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên và chính bản thể, kẻ yếu thế buộc phải sống cay nghiệt, cô độc, bất chấp mọi điều kể cả sự tha hóa, biến chất; cuối cùng, con người cũng như loài chuột, “những dự tính hoàn hảo của chuột và người thường không thực hiện được”.
Trong số những tác phẩm viết về thế giới loài chuột, có lẽ tiểu thuyết Gió qua rặng liễu (1908) của Kenneth Grahame mang màu sắc tươi sáng hơn cả. Tác phẩm kinh điển của văn học thiếu nhi Anh này được mệnh danh là “Cuốn Sách Của Mọi Nhà, một cuốn sách mà mọi người trong gia đình yêu mến, và trích dẫn liên tục, một cuốn sách được đọc to cho mọi người khách mới nghe và được xem là tiêu chuẩn để xác định giá trị của người đó” (Lời giới thiệu của Alan Alexander Milne (1882 - 1956). Bốn người bạn Chuột Nước, Chuột Chũi, bác Lửng cùng Ngài Cóc trái khoáy với những cuộc phiêu lưu kỳ cục trên và bên sông, và cả trong tòa lâu đài hoành tráng của Ngài Cóc đã vẽ nên một thế giới thiên nhiên kì thú. Đằng sau câu chuyện của chuột và những người bạn, tác phẩm đã truyền đi thông điệp sâu sắc về tình bạn, lòng vị tha, cao thượng, về tình yêu thương, cộng sinh, cho đến hôm nay vẫn khiến biết bao thế hệ độc giả say mê.
Từ một biểu tượng liên văn hóa, chuột đã in “dấu chân” trong tín ngưỡng, phong tục, văn hóa nhân loại nói chung và người Việt nói riêng từ thuở xa xưa. Quá trình dịch chuyển, thẩm thấu từ biểu tượng ấy đã thể hiện đặc trưng văn hóa, dân tộc trong cách nghĩ, lối nói của mỗi tộc người. Khám phá về biểu tượng chuột trong văn hóa nhân loại, đặc biệt trong ngôn ngữ và đời sống người Việt cũng là cách để chúng ta tiếp cận, khám phá và luận giải những biểu hiện đa diện, nhiều chiều, phức tạp của văn hóa, tâm thức, dân tộc tính. Bằng điểm nhìn văn hóa, tinh thần nhân bản, biểu tượng chuột đã nối kết những kí ức văn hóa nhân loại với cuộc sống hiện đại, từ tộc người này đến tộc người khác về các vấn đề vũ trụ, tự nhiên, tồn sinh, đấu tranh của mỗi cá nhân, dân tộc với thiên nhiên và trong bản thể mỗi người.
N.V.H
(TCSH372/02-2020)
......................................................
(1) Chevalier Jean, Gheerbrant Alain (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, (Phạm Vĩnh Cư và… dịch), Nxb. Đà Nẵng, tr.192.
(2) Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (chủ biên, 2004), Từ điển văn học (bộ mới), Nxb. Thế giới, Hà Nội, tr.1820.
(3) Xem thêm, Nguyễn Ngọc Thơ (2008), “Chuột trong văn hóa thế giới”, báo Tuổi trẻ Xuân Mậu Tý (ngày 16/01/2008).
Tải mã QRCode
ĐẶNG TIẾNMèo là thành phần của tạo vật, không hệ thuộc loài người, không phải là sở hữu địa phương. Nói Mèo Huế là chuyện vui ngày Tết. Đất Huế, người Huế, tiếng Huế có bản sắc, biết đâu mèo Huế chẳng thừa hưởng ít nhiều phẩm chất của thổ ngơi và gia chủ?
TRIỀU NGUYÊNCó nhiều cách phân loại câu đối, thường gặp là ba cách: dựa vào số tiếng và lối đặt câu, dựa vào mục đích sử dụng, và dựa vào phương thức, đặc điểm nghệ thuật. Dựa vào số tiếng và lối đặt câu, câu đối được chia làm ba loại: câu tiểu đối, câu đối thơ, và câu đối phú. Bài viết ngắn này chỉ trình bày một số câu đối thuộc loại câu tiểu đối.
KHÁNH PHƯƠNGNăm 2010 khép lại một thập kỷ văn học mang theo những kỳ vọng hơi bị… “lãng mạn”, về biến chuyển và tác phẩm lớn. Nhiều giải thưởng của nhiều cuộc thi kéo dài một vài năm đã có chủ, các giải thưởng thường niên cũng đã… thường như giải thưởng, nhà văn và bạn đọc thân thiết hồ hởi mãn nguyện tái ngộ nhau trên những đầu sách in ra đều đặn… và người thực sự quan tâm đến khía cạnh nghề nghiệp trong đời sống văn chương lại tự hỏi, những sự kiện đang được hoạt náo kia có mang theo trong nó thông tin gì đích thực về thể trạng nghề viết hay không? Nếu có, thì nó là hiện trạng gì? Nếu ngược lại, thì phải tìm và biết những thông tin căn bản ấy ở đâu?
MIÊN DIVẫn biết, định nghĩa cái đẹp cũng giống như lấy rổ rá... múc nước. Vì phải qui chiếu từ nhiều yếu tố: góc nhìn, văn hóa, thị hiếu, vùng miền, phong tục... Tiểu luận be bé này xin liều mạng đi tìm cái chung cho tất cả những góc qui chiếu đó.
INRASARA1. Điểm lại mười căn bệnh phê bình hôm nay
XUÂN NGUYÊNHơn ở đâu hết, thơ mang rất rõ dấu ấn của người làm ra nó. Dấu ấn đó có thể là do kinh nghiệm sống, do lối suy nghĩ… đưa lại. Đứng về mặt nghệ thuật mà nói, dấu ấn trong thơ có thể được tạo nên bởi lối diễn đạt, bởi mức độ vận dụng các truyền thống nghệ thuật của thơ ca.
Linda Lê, nhà văn nữ, mẹ Pháp cha Việt, sinh năm 1963 tại Đà Lạt, hiện đang sống tại Paris, viết văn, viết báo bằng tiếng Pháp. Một số tác phẩm của nhà văn đã được dịch sang tiếng Việt và xuất bản tại Việt Nam như là: Vu khống (Calomnies), Lại chơi với lửa (Autres jeux avec le feu). Chị đã có buổi nói chuyện tại Trung tâm Văn hóa Pháp tại Huế vào ngày 15.10.2010 vừa rồi. Sau khi trao đổi về bản dịch, chị đã đồng ý cho phép đăng nguyên văn bài nói chuyện này ở Tạp chí Sông Hương theo như gợi ý của dịch giả Lê Đức Quang.
KHÁNH PHƯƠNG (Tiếp theo số 261 tháng 11-2010)
LÊ TIẾN DŨNGKhi nói đến thơ một vùng đất, thường người ta vẫn chú ý nhiều đến những vấn đề như tác phẩm, thể loại, đội ngũ… nghĩa là tất cả những gì tạo nên phong trào thơ của một vùng.
LẠI NGUYÊN ÂN(Trích đăng một phần tiểu luận)
KHẾ IÊMGửi các nhà thơ Đỗ Quyên, Inrasara và Lê Vũ
TRẦN HUYỀN SÂMTrong một nghiệp bút, hình như có tính quyết định bởi những cú sốc. Hoặc là cú sốc ái tình, hoặc là cú sốc chính trị, hoặc là sự thăng hoa của một miền ký ức nào đó ở tuổi hoa niên. Tiểu thuyết gia, chính trị gia Peru: Mario Vargas Llosa - người vừa được vinh danh giải Nobel văn học, dường như đã “chịu” cả ba cú sốc nói trên.
LTS: Thơ Haiku Nhật Bản thế kỷ XVII không dùng lối nói bóng gió, không tìm kiếm những nét tương đồng giữa “thế giới bên trong” của con người và hiện thực “bên ngoài” để tạo ra cầu nối giữa con người với thế giới, con người với con người. Haiku dùng những biểu tượng hàm súc ứ đầy thông tin và cảm giác để khắc họa con người trong nhất thể với thế giới. Đường thi cũng rất ít xuất hiện trường hợp dùng lối nói ẩn dụ, mà bộc lộ trực tiếp ý tưởng và ưa thích liên tưởng mà không cần viện tới cái tương đồng.
LGT: 1. Dịch giả, nhà phê bình Trần Thiện Đạo( sinh 1933) định cư ở Pháp từ thập niên 50. Sống hơn nửa thế kỷ ở Paris, Trần Thiện Đạo đã thâm ngấm sâu sắc ngôn ngữ và văn minh Pháp. Tuy nhiên, cảm thức cội nguồn vẫn luôn tiềm tàng trong tâm thức của một người trí thức sống lưu vong. Miệt mài, đam mê đến khổ hạnh, ông đã tạo lập một vị trí đặc biệt trong dòng đối lưu văn chương Pháp -Việt.
NGUYỄN THANH TÂM1. Thơ vốn dĩ là sản phẩm của đời sống tinh thần, là sự biểu hiện một cách tinh tế những diễn biến nội tâm của chủ thể sáng tạo. Ngôn từ vẫn luôn là chất liệu với nội lực biểu hiện vô song của nó. Các nhà thơ dù ở thời đại nào, trong môi trường văn hóa, lãnh thổ nào cũng không thể thoát ra khỏi sự ràng buộc tự nhiên của cái biểu đạt ấy để hướng tới cái được biểu đạt ẩn sâu sau những “lựa chọn” và “kết hợp” có giá trị mĩ học.
MAI VĂN HOANKỷ niệm 70 năm ngày mất Hàn Mặc Tử (11/11/1940 - 11/11/2010)Hàn Mặc Tử tên thật Nguyễn Trọng Trí, sinh năm 1912, mất năm 1940. Quê Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình. Tổ tiên họ Phạm, ông cố Phạm Nhương, ông nội Phạm Bồi, vì liên can quốc sự trốn vào Thừa Thiên đổi ra họ Nguyễn. Cha là Nguyễn Văn Toản, mẹ là Nguyễn Thị Duy.
PHONG LÊHôm nay theo tôi quan niệm là một thời gian khá dài, nếu tính từ khởi động của công cuộc Đổi mới với Đại hội Đảng lần thứ VI - 1986.
THÁI DOÃN HIỂUVì sao Nguyễn Du viết Truyện Kiều? Mục đích viết Kiều để làm gì?... là những câu hỏi bức bối trong suốt thời gian tôi còn làm ông giáo đứng trên bục giảng. Tôi đã viết một chuyên luận dài 200 trang để trả lời câu tự vấn trên. Dưới đây là bản tóm tắt ghi bằng thơ để bạn đọc dễ tiếp thu và ghi nhớ.
L.T.S: Tối 27-3-1984, tại Huế, giáo sư Xi-đô-rốp, ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Liên Xô, hiệu phó học viện Gooc-ki và là nhà lý luận Văn học nổi tiếng của Liên Xô, đã đến tham dự cuộc tọa đàm về các vấn đề văn học với các hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ở Bình Trị Thiên. Sau đây là những ý kiến của giáo sư về các vấn đề đặt ra trong cuộc tọa đàm, qua lời phiên dịch của nhà thơ Bằng Việt, do Hoàng Phủ Ngọc Tường ghi lại.
MAI VĂN HOANTheo thần thoại Hy Lạp, vị thần đầu tiên xuất hiện trên thế gian là thần Ái tình. Thần Ái tình là một đứa bé có cánh với cây cung bên người, ngọn đuốc cầm tay mang tình yêu đến với những trái tim. Tình yêu - nguồn đề tài không bao giờ cạn của văn học nói chung và thơ ca nói riêng.