Hình ảnh bậc hiền triết Hồ Chí Minh qua thơ Chế Lan Viên

09:03 18/05/2012

ĐOÀN TRỌNG HUY  

Trong nhiều tư cách, lãnh tụ Hồ Chí Minh còn được vinh danh là một triết gia. Hơn thế nữa, là “triết gia vĩ đại” như đánh giá của một học giả nước ngoài qua Hội thảo Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay vào tháng 5/2010.

Ảnh tư liệu Wikipedia

Chế Lan Viên, sau ngày Bác mất đã khẳng định:

Đây cũng là nhà hiền triết hiểu chỗ đến, chỗ đi sự vật.

Hiền triết là triết gia có những hiểu biết cao sâu và được người đời tôn sùng.

Một cách chính xác, nên coi Người là triết nhân hơn là triết gia.

Triết gia là người làm triết học. Triết nhân là người có tư cách triết gia, có triết lý và sống theo quan niệm triết lý nhưng không thuyết lý triết học. Cuộc đời và sự nghiệp của Người là một pho sách quý triết học, là một tuyên ngôn cho chủ thuyết triết lý. Đó là cơ sở cốt lõi nhất để đúc rút những trước tác triết học. Triết học qua một con người là như thế.

Qua Hoa trước lăng Người và thơ viết về Bác trong Di cảo thơ, Chế Lan Viên làm chúng ta cảm nhận rõ hình ảnh nhà hiền triết lớn Hồ Chí Minh.

Hồi 1946 Bác Hồ qua Pháp, nhà cầm quyền muốn khoe thanh thế quân lực để uy hiếp, mời Người dự duyệt binh, diễu binh và tham quan quân sự. Có một bức ảnh tuyệt vời: Hồ Chí Minh xòe bàn tay che nòng súng đại bác. Đó là tuyên ngôn của Người về ý chí quyết chiến, quyết thắng cũng là tuyên ngôn của Người về hòa bình chính nghĩa, phảng phất tư tưởng và triết lý của cha ông: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo” (Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi). Chủ tịch nước không chỉ sống với tác phong giản dị, tiết kiệm, thanh bạch. An nhiên, tự tại là quan niệm sống, là lẽ sống đầy ý vị triết lý của Người.

Dinh thự vị nguyên thủ quốc gia có một không hai trên thế giới:

…Ngôi nhà sàn giữa vườn hoa mộc

…Cái nhà sàn ở lẩn trong hoa

…Ngôi nhà sàn nằm yên trong hoa mộc, hoa ngâu.


                                                (Bể và Người)

Hơn một lần nhà thơ khắc họa ngôi nhà của Bác.

Ngôi nhà sàn đã được hình tượng hóa, trừu tượng hóa và lung linh, hư ảo hóa… trong “Cõi Bác” chứa đựng triết lý sống của một vị “tiên phong đạo cốt”. Bác Hồ yêu thiên nhiên, một tình yêu mê đắm (Người tình nhân, Tri kỷ,…) với tất cả tâm hồn và nhận thức. Hòa nhập với tạo hóa. “Bác sống như trời đất của ta” (Tố Hữu). Người thể hiện triết lý của phương Đông; “Thiên - Địa - Nhân hợp nhất”. Có sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên - sự hài hòa của tiểu vũ trụ đại vũ trụ. Cốt lõi của minh triết Hồ Chí Minh là thuyết nhân hòa. Người rất coi trọng nhân hòa, đặc biệt là trong quan hệ nhân gian, nhân thế. Tức là ngoài quan hệ trong tự nhiên, còn và chủ yếu còn là quan hệ xã hội: cá nhân và cộng đồng, con người quốc gia và quốc tế. Với ý nghĩa ấy, ngôi nhà sàn không chỉ là nơi Người ở, sống và làm việc. Đó là một căn cứ của nhà triết học: Tự nơi đây, mắt Bác dõi vô cùng/ Với bốn bể của đời, không cách trở… Cái nhà sàn ở lẩn trong hoa/ Vẫn không ngớt lắng triều nghe nhịp bể”.

Toàn bộ lối sống, cuộc sống, cuộc đời trần thế của Hồ Chí Minh, từ ăn, ở, mặc, sinh hoạt đến hoạt động, hành xử… là một tuyên ngôn triết lý - một triết lý vô ngôn. Chỉ riêng một vật dụng rất bình thường thậm chí tầm thường “Cái quạt mát làm bằng lá cọ” cũng nói lên bao ý nghĩa triết lý. Ngoài thể hiện cách sống hòa hợp tự nhiên: “Áo mở cúc cho gió hè thổi mát” còn là biểu hiện của một đạo sống: “Người sống thu nhỏ lại, giấu mình đi, không làm phiền ai hết cả”. Cái quạt lá có thể tiết kiệm điện, khi có quạt máy đã đành, nhưng lại chủ động cả khi mất điện. Triết lý là ở ý nghĩa này: con người có thể tạo ra gió ở bất cứ nơi đâu, ở bất cứ chỗ nào. Hoặc khái quát hơn, như một ý thơ “Bàn tay ta làm nên tất cả” để nói về sức người, trí tuệ người. Đó là một triết lý nhân sinh đề cao con người: con người vượt lên hoàn cảnh, con người cải tạo hoàn cảnh để làm cho hoàn cảnh trở nên nhân văn hơn. Triết lý ấy mang sức mạnh kỳ diệu. Ý chí anh hùng cá nhân biến hóa thành vô địch qua con người lãnh tụ: “Và Bác đã chiến thắng tên khổng lồ điện tử/ Nhờ màu hồng ngọn cờ, sắc đỏ trái tim” (Người chẳng có gì riêng). Cả cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh là minh chứng hùng hồn, rạng rỡ mãnh liệt và thông điệp sâu sắc cho triết lý sống.

Trong lại mắt người, hồng lên chân lý
Luận điểm lại sáng ngời như lộc biếc đầu cây.


Tuy thiên về triết lý nhân sinh hành động nhưng trong những trường hợp cần thiết, Người vẫn “lập ngôn”, “lập thuyết”. Nhưng đó là cách nói cũng như cách viết nhất quán một đời của Người là kiệm ngôn. Có những lời phát biểu ngắn gọn, giản dị, dễ hiểu nhưng cô đúc súc tích ý nghĩa, có sức nén rất cao mà ta có thể gọi đó là danh ngôn. Và cao hơn thế còn là châm ngôn - tức câu nói có tác dụng hướng dẫn về đạo đức, về cách sống - hoặc cách ngôn - câu nói ngắn gọn được lưu truyền, có ý nghĩa giáo dục về đạo đức.

Kiệm ngôn là một quan niệm cực kỳ sâu sắc trong trường hợp Hồ Chí Minh. Ấy là cái đúc kết qua nghìn vạn trải nghiệm là sự cảm nhận nghiền ngẫm, suy tính đã quyết liệt, kỳ cùng: “Vầng trán nào nghĩ suy dữ dội nhất ngày nay về các bãi gieo và các bãi chiến trường?/ Trái tim nào giải đáp đúng nhất cho ta những câu hỏi chiến tranh và thời đại hỏi? Lặng lẽ, lặng lẽ từng bước, chân Bác qua đây như vạch một con đường”. Người nói ra những ý tưởng là những thông tuệ tinh túy của bậc đại trí, đại dũng: “Ấy là cái trí tuệ anh hùng, cái dũng cảm tuyệt với trí lực của nhân dân”.

KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO là lời ca chiến đấu và chiến thắng đã mang tính nhân loại. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn, Hồ Chí Minh dẫn Luận ngữ. Tăng Tử trả lời “Tất nhiên”. Chỉ một từ mà thể hiện cả nghị lực và toàn bộ kiến thức. Người lại dẫn chuyện một vị tướng của Napôlêông đệ nhất bị bao vây ở Oatéclô. Kẻ địch dụ hàng, ông đáp cộc lốc: “Cứt”. Người bình luận: “Câu nói ấy chỉ có một từ, lại là một từ tục tĩu. Nhưng trong tình thế nghiêm trọng ấy của vị tướng, nghìn lời nói khác cũng không thể nào thể hiện được lòng dũng cảm và sự khinh bỉ của ông với kẻ thù”. Với Hồ Chí Minh, ta hãy nghe một đoạn đối thoại:

- …Thưa Chủ tịch, Chủ tịch ghét gì nhất?

- Điều ác.

- Thưa Chủ tịch, Chủ tịch yêu gì nhất?

- Điều thiện.

- Thưa Chủ tịch, Chủ tịch sợ gì nhất?

- Chẳng sợ gì cả. Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì.


                        (Trả lời phỏng vấn của Báo Frères D’armes)

Hơn nữa cách nói kiệm ngôn còn mang phong cách của ngôn ngữ dân tộc.

Với dân tộc ít lời, Người ít nói
Thấy nhiều trời bể non sông, giờ phải nói chi nhiều.

                                    (Đọc văn Người)

Triết lý ấy - toát ra từ tư tưởng và đạo đức của Người. Đậm đà là triết lý nhân sinh - triết lý của Con người, triết lý vì Con người, cho Con người: cốt lõi của nó là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh hình thành trên cơ sở học thuyết Mác về con người và giải phóng con người và truyền thống nhân ái dân tộc với chủ nghĩa nhân đạo của văn minh phương Đông và phương Tây. Mục tiêu cao cả của chủ nghĩa nhân văn ấy là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Con người được quan niệm là giá trị quý nhất, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực chủ yếu của cách mạng.

Nhân loại biếc màu xanh Người để lại
Trong thế giới bạo tàn này Người là những bóng cây xanh


Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh chính là tư tưởng triết học của người. Đó là cơ sở cho triết lý nhân sinh Hồ Chí Minh - hiện thân sinh động của những tư tưởng sáng tạo về giải phóng con người, phát huy tối đa sức mạnh con người để trở nên vô địch.

Cũng có thể coi đó là triết lý tình nghĩa: minh triết Hồ Chí Minh là sự kết hợp của trí tuệ và đạo đức. Người từng viết: “Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa”. Hồ Chí Minh nói: “Rồi đây bốn bể một nhà”. Cổ điển và hiện đại nữa. Thấu triệt quan niệm “Vạn chúng nhất tâm” của Đức Phật, ý tưởng “Thế giới đại đồng” của Khổng Tử và Tự do, Bình đẳng, Bác ái của Chúa Giêsu (Jesus).

Hồ Chí Minh đã đi qua các triết thuyết tôn giáo để có thể từ đó chọn lọc yếu tố tích cực tạo dựng một triết thuyết mới của cách mạng vô sản triết thuyết nhân sinh hiện thực và hiện đại.

Tình thương của Người là bóng mát cây xanh
Tỏa đến đâu che lòng ta đến đó


Triết thuyết Hồ Chí Minh được đúc kết từ thực tiễn, là triết lý thực tiễn. Ba mươi năm bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước là một thời gian rất đáng kể trong đời để ngộ ra chân lý cách mạng.

Biện chứng đã vỡ lòng trong bão táp.

Bể và Người
là một thuyết minh cho triết gia Hồ Chí Minh, cũng tức là thể hiện cốt cách, ý tưởng, lập luận, thuyết lý của Người. Con người ấy từng “lênh đênh theo sóng bể” khắp đại dương châu lục. Qua Những đất tự do, những trời nô lệ để phát hiện Những con đường cách mạng đang tìm đi. Bể đối với Người là đa nghĩa. Là “bể cả” trùng dương mênh mông cũng là “bể loài người” là “nhân loại - bể”. Nhưng quan trọng hơn hết là “bể triết học” trong nhận thức của một thiên tài. Qua bể là bài học về duy vật biện chứng và cả duy vật lịch sử:

Bác nghe bể và tìm ra quy luật
Bể lặng im nuôi dông bão bất thần
Hưng vong thế vẫn mỗi ngày hồi phục
Bể nghìn đời mà mãi mãi thanh tân


Mang phong cách độc đáo với thủ pháp nghệ thuật đặc sắc về tư duy, Chế Lan Viên dễ dàng phát hiện phép biện chứng tâm hồn qua cách nhìn sự vật, hiện tượng “giữa hai bề đối lập” của Hồ Chí Minh.

…Đất nước thừa người làm thơ mà thiếu người viết sử

…Để cái sống đau gần như cái chết

…Giấu niềm đau trong một ngày vui

…Vào máu lửa mà giành hoa hạnh phúc


Ta như được nghe lý luận của Người về tính phổ biến của mâu thuẫn “Cái gì cũng có mâu thuẫn, vì cái gì cũng có biến âm, dương, có sinh, có tử, có quá khứ, có tương lai, có cũ, có mới. Đó là những mâu thuẫn sẵn có trong mọi sự vật”. Đúng là cách nói của nhà hiền triết phương Đông có tinh thần của Kinh Dịch, ý tưởng của giáo lý Phật.

Tuy nhiên, cao hơn hết là đặc điểm của một dạng triết lý Hồ Chí Minh: triết lý hành động.

Ở Hồ Chí Minh, triết lý và hành động gắn liền mật thiết với nhau. Đó là triết lý hướng tới hành động, hành động theo triết lý, tự nó nói lên triết lý. Như nói ở trên, triết lý đã bao hàm xu thế hành động, không có triết lý suông. Vì vậy hành động là hành động có triết lý. Tất cả quan hệ xoắn xít, mật thiết với nhau, tạo nên triết lý hành động Hồ Chí Minh.

Cũng có thể gọi đó là triết lý thực hành: nói và làm, nói là làm, làm để nói.

Mang cốt cách hiền triết Châu Á, Hồ Chí Minh để lại pho sách triết học đồ sộ cho sự khai thác vô cùng của thiên hạ. Rất coi trọng thực tiễn nhưng cũng không xem nhẹ lý luận. Lý thuyết kết hợp thực hành để trở nên nhuần nhuyễn, thuần thục qua hành động.

Nếu triết học Hồ Chí Minh là triết học thực tiễn thì biện chứng Hồ Chí Minh là biện chứng thực hành - biện chứng vận dụng “trong bão táp” đấu tranh cách mạng. Nội dung và đặc điểm của phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh có thể quy tụ vào mấy điểm chính:

- Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, giữa cái phổ biến và cái cá biệt, giữa riêng và chung.

- Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa mâu thuẫn và thống nhất của các mặt đối lập.

- Biện chứng giữa cái “bất biến” và cái “vạn biến”.

Sau ngày đất nước thống nhất, Chế Lan Viên viết Bể và Người để suy ngẫm thấm thía về tài năng tuyệt vời của Người Thủy Thủ vĩ đại: Con tàu Việt Nam qua nghìn trận phong ba/ Về đến đích ngót nửa vòng thế kỷ. Hồ Chí Minh đã học lý luận tại Đại học Phương Đông và thực tiễn trong “bão táp” cách mạng.

Cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác theo con đường Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

Có thể nói,với phong cách suy tưởng trí tuệ, Chế Lan Viên qua thơ đã thành công đặc sắc trong việc phác họa đậm nét bậc hiền triết Hồ Chí Minh.

Đ.T.H  
(SH279/5-12)



-------------
1 - Tất cả trích dẫn trong bài viết đều lấy từ Chế Lan Viên tuyển tập (tập 1) – Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1985.
2 - Tất cả nhấn mạnh trong bài là của người viết.
3 - Tất cả phát biểu, nói chuyện, diễn văn… của Chủ tịch Hồ Chí Minh là trích từ Danh ngôn Hồ Chí Minh – Thành Duy biên soạn từ Toàn tập Hồ Chí Minh do Trung tâm Nghiên cứu Quốc học - Nhà xuất bản Văn học, 2011.  









 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LÊ THÀNH NGHỊ

    Đầu năm 2002, nghĩa là sau Đổi mới khoảng mươi lăm năm, trên Tạp chí Sông Hương, có một nhà thơ nổi tiếng thế hệ các nhà thơ chống Mỹ đặt câu hỏi: Liệu Nguyễn Khoa Điềm có giai đoạn bùng nổ thứ ba của thơ mình hay không? Chắc chắn sẽ rất khó. Nhưng người đọc vẫn hy vọng*.

  • NGỌC BÁI

    (Đọc tiểu thuyết “À BIENTÔT…” của Hiệu Constant)

  • HOÀNG DIỆP LẠC

    Người ta biết đến Nguyễn Duy Tờ qua tập sách “Xứ Huế với văn nhân” xuất bản năm 2003, với bút danh Nguyễn Duy Từ, anh lặng lẽ viết với tư cách của một người làm ngành xuất bản.

  • PHẠM XUÂN NGUYÊN

    Cô Kiều của Nguyễn Du từ khi xuất hiện trong văn chương Việt Nam đã nhận bao tiếng khen lời chê, khen hết lời và chê hết mực, nhưng cô vẫn sống trong niềm yêu mến của bao lớp người Việt, từ bậc thức giả đến kẻ bình dân, xưa đã vậy mà nay cũng vậy.

  • PHAN TRỌNG HOÀNG LINH

    Bước chân vào con đường nghiên cứu văn học và hòa mình vào trào lưu lý thuyết đang trở nên thời thượng, chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism), nhưng Phan Tuấn Anh không biến nó thành cái “mác” để thời thượng hóa bản thân.

  • PHAN ĐĂNG NHẬT

    1. Sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp Phan Đăng Lưu
    Phan Đăng Lưu sinh ngày 5/5/1902, tại xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An; con cụ Phan Đăng Dư và cụ bà Trần Thị Liễu.

  • KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY MẤT CỦA NHÀ THƠ BÍCH KHÊ (1946 - 2016)    

    PHẠM PHÚ PHONG

  • HỒ THẾ HÀ

    Nguyên Quân song hành làm thơ và viết truyện ngắn. Ở thể loại nào, Nguyên Quân cũng tỏ ra sở trường và tâm huyết, nhưng thơ được mọi người yêu quý và ngưỡng mộ hơn.

  • LA MAI THI GIA

    Những ngày cuối năm, Sài Gòn bỗng dưng cũng khác, sáng sớm khi băng qua cầu Thủ Thiêm vốn đã quá quen, tôi khẽ rùng mình khi làn gió lành lạnh từ dưới sông Sài Gòn thổi lên, hơi sương nhè nhẹ tỏa ra bao bọc cả mặt sông mờ ảo, bất chợt thấy lòng ngẩn ngơ rồi lẩm bẩm một mình “Sài Gòn hôm nay khác quá!”

  • PHAN HỨA THỤY

    Thời gian gần đây ở Huế, việc tìm kiếm lăng mộ vua Quang Trung đã trở thành một vấn đề sôi động.

  • LÃ NGUYÊN

    Số phận văn chương của Nguyễn Minh Châu gắn liền với những bước đi cơ bản của nền văn học Việt Nam ở nhiều thời điểm lịch sử cụ thể.

  • Chúng ta đã được biết đến, và đây là phương diện chủ yếu, về một Nguyễn Bính thi sĩ, và không nhiều về một Nguyễn Bính nhà báo gắn với tờ tuần báo tư nhân Trăm hoa (1955-1957)1.

  • ĐẶNG TIẾN    

    Đầu đề này mượn nguyên một câu thơ Nguyễn Đình Thi, thích nghi cho một bài báo Xuân lấy hạnh phúc làm đối tượng.

  • NGUYỄN HIỆP

    Dù muốn dù không thì hình thức được lựa chọn là đối tượng của nhà văn. Vậy các nhà văn “khó đọc” của ba miền Bắc, Trung, Nam chọn hình thức nào để xác lập lối viết?

  • NGUYỄN HIỆP

    Dù muốn dù không thì hình thức được lựa chọn là đối tượng của nhà văn. Vậy các nhà văn “khó đọc” của ba miền Bắc, Trung, Nam chọn hình thức nào để xác lập lối viết?

  • LƯƠNG THÌN

    Có những cuốn sách khi đọc ta như được dẫn dắt vào một thế giới huyền bí của tâm hồn, trái tim và khơi dậy lên bao khát khao mơ ước. Làm dâu nước Pháp của nữ nhà văn Hiệu Constant (Lê Thị Hiệu, Nxb. Phụ Nữ, 2014) là một cuốn tự truyện như thế.

  • VƯƠNG TRỌNG

    Thật khó xác định chính xác thời gian Nguyễn Du ở Phú Xuân, nhưng trước khi ra làm quan dưới triều Gia Long, Nguyễn Du chỉ đến Phú Xuân một lần vào năm 1793, khi nhà thơ vào thăm người anh là Nguyễn Nễ đang coi văn thư ở Cơ mật viện, điều này chúng ta biết được từ bài thơ của Nguyễn Nễ nhan đề “Tống Tố Như đệ tự Phú Xuân kinh Bắc thành hoàn” (Tiễn em trai Tố Như từ Phú Xuân trở về Bắc).

  • NHỤY NGUYÊN  

    Con người khá trầm tĩnh Lê Huỳnh Lâm không thuộc típ quan hệ rộng. Những ai đến với anh và anh tìm đến (dẫu chỉ thông qua tác phẩm) rồi in đậm dấu ấn phần nhiều lớn tuổi; là một sự thận trọng nhất định.

  • LÊ THỊ BÍCH HỒNG

    Với ý thức đi tìm cái mới, cái đẹp, hơn 30 năm qua, Hứa Vĩnh Sước - Y Phương lặng lẽ thử nghiệm, không ngừng lao động sáng tạo, miệt mài làm “phu chữ” để ngoài một tập kịch, bảy tập thơ, ba tập tản văn, anh đã bổ sung vào văn nghiệp của mình hai trường ca đầy ấn tượng, đó là Chín tháng (1998) và Đò trăng (2009).

  • THÁI KIM LAN

    Thường khi đọc một tác phẩm, người đọc có thói quen đọc nó qua lăng kính định kiến của chính mình, như khi tôi cầm tập thơ Ký ức hoa cẩm chướng đỏ của Phan Lệ Dung và lướt qua tựa đề.