Hành khúc trở về cội nguồn

09:37 13/03/2018

NGUYỄN QUANG HÀ
                    Bút ký

Một cuộc hành trình chỉ có thời gian xê dịch. Còn con người thì cứ ở nguyên một chỗ, không đi đâu cả. Vẫn mảnh sân ấy, vẫn ngôi nhà ấy, vẫn khuôn vườn ấy.

Ảnh: internet

Ngày xuất hành trống rong cờ mở. Trên nét mặt những người lãnh đạo rạng rỡ nụ cười. Mười lăm năm sau, ngày trở về đến đích, tuyên bố, trên gương mặt từng người dân, nước mắt đầm đìa.

Từ nụ cười hy vọng đến nước mắt vui gặp lại chính mình, đó là cuộc hành trình nhập huyện để lại chia huyện. Suốt mười lăm năm mày mò, phải trả một giá cực kỳ đắt cho một cách nhìn.

Sẽ không ít người phản đối ý kiến này của tôi, cho rằng tôi đã phủ định tất cả những gì đã làm được trong 15 năm trời vừa qua. Có thể là như thế chăng? Song thử hỏi tất cả những gì đã làm được ấy có đáng giá với điều đáng kể nhất là LÒNG TIN chúng ta đã để mất mát quá nhiều hay không? Biết đến bao giờ chúng ta mới lấy lại được lòng tin của khí thế những ngày nhập huyện ấy?

Ai đã từng đi con đường liên xã từ An Lỗ về Bao Vinh. Một con đường chiến lược để khai hóa cả một vùng quê rộng lớn của Quảng Điền. Ô tô chạy vo vo. Vậy mà, bây giờ từ thủ phủ của huyện, từ Sịa xuống xã Quảng Thành, chiều dài sáu cây số, đi bộ thì được, song nếu đi xe, thì phải quay ngược chiều, ra đường số 1, qua Phong Điền, Hương Trà, Huế, rồi mới ngoặt về Quảng Thành được. Con đường lẽ ra đi mất 15 phút, phải đi vòng cả tiếng rưỡi đồng hồ, chẳng phải là một ví dụ có đủ âm sắc của cuộc hành trình đó sao?.

Chính vì hiểu như thế, biết như thế, cho nên khi huyện Phong Điền về huyện cũ, Chủ tịch nói trong diễn văn: "Người Phong Điền, đất Phong Điền bây giờ lại trở về lại Phong Điền", câu nói thật đơn giản mà dân òa khóc. Vì vậy, tôi mới dám gọi những giọt nước mắt đó là những giọt vui. Và tôi cũng không gọi việc chia huyện này bằng chữ "tách huyện" như một số người gọi cho nhẹ nhàng hơn, mà tôi bảo đây là một hành khúc trở về. Một cuộc trở về với cội nguồn.

Chẳng thế mà vừa nhận huyện mới hôm nay, ngày mai trời nổi giông bão liền, như đất trời cũng tạo ra cơ hội để khẳng định một thế mới. Trong gió bão đùng đùng, bà con xã Phong Hải thấy có mặt ngay cán bộ huyện chia sẻ gian lao với mình. Họ hỏi: "Các anh là cán bộ huyện Hương Điền à?" Trả lời: "Chúng tôi là cán bộ huyện Phong Điền". Bà con vui ngỡ ngàng: "15 năm nay bây giờ mới có cán bộ huyện về với bà con trong nước sôi lửa bỏng thế này!". Chiều sâu thăm thẳm của câu nói giản đơn ấy oán trách biết bao và cũng mừng vui biết bao.

Đi qua sáu huyện vừa chia ra, tôi đặt chung một câu hỏi:

- Chia huyện được gì, mất gì?

Tôi đã nhận được những câu trả lời rất giống nhau:

- Trước tiên hãy cho chúng tôi nói cái tồn đọng đã. Một là vốn, hai là đội ngũ cán bộ đủ sức cho tương lai. Nghĩa là trước đây, khi huyện chung đã thiếu. Nay chia ra càng thiếu trầm trọng. Còn ở phạm trù được mất, thẳng thắn mà nói, chia huyện, mất ngay thói quan liêu, và cái được cũng rõ ràng, cán bộ huyện được gần với dân của mình.

Tôi hỏi:

- Điều gì đáng được gọi là mừng nhất?

Đáp:

- Sức người mang 50 cân, đặt lên vai 100 cân, vinh quang ở đâu không biết. Song rõ ràng người mang không thể nào chịu nổi. Nay huyện nhỏ, sức quản lý của cán bộ cũng đã là nặng, nhưng cố sức thì cũng làm được.

Tôi cho rằng những ý kiến không hề hoa mỹ một chút nào này là đúng sự thật. Vừa chia huyện xong, các cán bộ huyện đã lao ngay vào phong trào. Nghe ngóng ý kiến quần chúng, từ cái thực tế ấy các huyện đều tìm ra đúng thế mạnh và những khó khăn của mình, biết mình phải tức khắc làm cái gì trước mắt.

Tôi đến huyện Phú Vang vào một ngày mưa. Trong năm dãy nhà vừa sửa sang xong, chỉ có phòng chủ tịch ủy ban và hội trường nhỏ kế tiếp ngay có đủ ánh sáng, không bị dột, và khá ấm cúng, khả dĩ làm việc được nhờ hệ thống cửa kính mới lắp xung quanh. Còn các phòng khác cứ kéo bàn xoay quanh; đóng cửa không nhìn thấy chữ viết. Mở cửa, gió thốc mưa vào khắp phòng. Nhiều phòng ban chưa có chỗ ở, đang tá túc trong các nhà dân quanh đó. Trong hoàn cảnh ấy, huyện đã quyết định việc xây cất tạm dừng lại, những chi phí chưa khẩn cấp tạm dừng lại, dốc vốn vào việc củng cố lại chín cây số đê ven bờ phá Tam Giang vừa bị bão phá nát, phải ngăn mặn lại, để đồng ruộng chuẩn bị vụ đông xuân kịp thời.

Xin kể ngay đây một chi tiết, giống như chuyện lạ có thật, Phú Vang, Hương Thủy hợp nhất thành huyện Hương Phú. Suốt 15 năm chung lưng đấu cật "làm ăn lớn" để "xây dựng huyện Hương Phú giàu về kinh tế, mạnh về an ninh quốc phòng", vậy mà khi chia tay nhau mỗi huyện chỉ được chia chín triệu tiền mặt, và gần một tỷ đồng tiền nợ nhà nước! Tính ra cuộc chia mang một số âm rợn người!

Nuôi tôm và trồng rau câu đang là tiềm năng lớn của Tam Giang. Phá Tam Giang dài bảy, tám chục cây số. Khúc phá rộng nhất có tới năm sáu cây số. Tôm nhiều, cá ngon. Cá Tam Giang phải kể tới cá hanh, cá kình. Vừa thơm hương, vừa ngọt thịt. Rau câu chỉ vàng của Tam Giang được coi là một đặc sản, thứ nguyên liệu quý làm a-ga. Tương lai Tam Giang ra sao? Phú Lộc, Phú Vang, Phong Điền, Quảng Điền đang là người chủ của Tam Giang này. Dân sẽ là mũi nhọn xung kích mở toang cánh cửa tài nguyên này ra. Các huyện triển khai, tiến quân vào phá Tam Giang, dẫu là bước đầu, và xác định Tam Giang là một thế mạnh của huyện mình. Dù sao, đó cũng là tín hiệu mừng vui.

Từ vùng đầm phá; tôi đi thẳng lên rừng. Hương Thủy tương đối ổn định về nông nghiệp. Song 17.117 héc ta rừng là một diện tích đáng kể. Trong đó 700 héc ta đang là đồi trọc. Huyện quyết định xây dựng trung tâm trồng rừng tại Tân Ba. Rồi tiến hành giao đất, giao rừng cho tập thể và cá nhân quản lý. Để đạt tới mục đích ấy, nhân tố con người được tính tới. Huyện cử người về khảo sát các xã vùng núi. Thủy Bằng trước đây là một xã do thành phố Huế quản lý. Mười lăm năm đã qua, Thủy Bằng vẫn tang thương. Toàn xã có 1780 hộ, thì 621 hộ thiếu đói, 158 hộ thật sự đói. Nhà ông Hồ Giá là hộ chính sách, có con đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bằng liệt sỹ treo trên tường bị mạng nhện chằng qua, phủ kín một lớp bụi mờ. Hình như địa phương quên đây là một gia đình chính sách, nên hầu như không có sự quan tâm. Một bữa trưa huyện vào thăm, gia đình ông đang ăn cháo bột sắn khô. Hai mốt gia đình cùng hoàn cảnh như ông Hồ Giá sẽ vượt qua những ngày giáp hạt thế nào đây? Huyện phải chỉ thị ngay cho xã: "Để một người dân đói chết, đảng ủy và ủy ban xã phải chịu trách nhiệm trước Đảng, chính quyền và nhân dân trong huyện".

Tình hình chung của Thủy Bằng thật thảm. Trạm xá xuống cấp, không thể đáp ứng được yêu cầu chữa bệnh cho nhân dân. Văn phòng ủy ban lụp xụp. Xã có một hợp tác xã, 13 đội sản xuất. Có đội chủ nhiệm hợp tác chỉ đến được một lần. Cung cách ấy làm sao chỉ đạo sản xuất được. Hương Thủy đang bàn ráo riết xem Thủy Bằng nên tồn tại theo cách nào cho hợp lý nhất. Bộ mặt của xã là trường lớp. Thì rõ ràng lớp có bàn mà không có ghế: Học sinh đến lớp phải đứng. Cháu nào muốn có chỗ ngồi thì vác ghế đi theo. Trước tình hình ấy, huyện quyết định cấp thêm cho các thầy, các cô dạy mấy xã miền núi, mỗi người, mỗi tháng thêm 10.000 đồng, để gọi là yên tâm bước đầu chăm dắt cho thế hệ tương lai nơi vùng đất khá hẻo lánh này.

Anh Hòa thường vụ huyện ủy Hương Thủy tâm sự với tôi: "Cũng may huyện nhỏ nên chúng tôi với tay tới được các hang cùng ngõ hẻm. Chứ không ai biết Thủy Bằng thế nào. Từ những thực tế đắng cay này mình mới lên được phương án hành động đích thực anh ạ".

Dẫu sao cũng gọi là một xã của thành phố đưa về, cuộc gặp gỡ tạm chấp nhận được sự ngỡ ngàng. Có lý do để đổ lẫn sự quan liêu cho nhau. Chứ xã Quảng Lợi của Hương Điền, vẫn trong một huyện với nhau cả, bây giờ chia về Quảng Điền, huyện cũ, vậy mà gặp gỡ Quảng Lợi, như gặp gỡ người đâu xa.

Trong chiến tranh, cái tên Quảng Lợi gần gụi là thế. Muốn đóng quân, về Quảng Lợi. Cần chỗ nuôi dưỡng thương binh, đưa về Quảng Lợi. Muốn qua phá Tam Giang đã có đò Quảng Lợi... Người dân Quảng Lợi nếm đủ đạn bom, tù đầy. Nghèo đi vì chiến tranh. Bệnh tật nhiều hơn vì chiến tranh. Ta thử xem Quảng Lợi 15 năm qua thế nào.

Chỉ xin đơn cử ra đây một con số tôi lấy trong sổ sách của huyện, chứ chưa phải là con số của thực tế đâu. Tính bình quân đầu người mỗi người dân Quảng Lợi mỗi tháng chỉ có 6,5 cân thóc, và cũng ngần ấy nữa sắn khoai chuyển đổi thành thóc. Nếu tính riêng ăn gạo thì Quảng Lợi chỉ có ba tháng ăn trong năm thôi. Đã đành năng suất ở đây rất thấp. Trong lúc năng suất của Quảng Thọ 9 tấn một năm, Đất Quảng Lợi chỉ cho 1,3 tấn thôi. Song, cứ phải nói thẳng ra rằng, nếu Hương Điền chú ý tới Quảng Lợi một cách tận tâm, thì chắc chắn Quảng Lợi đã khác xa rồi. Có lẽ một trong những cái sai của thời ấy là dốc vốn huyện cho những trung tâm. Lấy cái trung tâm ấy làm niềm vinh quang cho mình. Còn các nơi khác, miễn sao thu cho đủ thuế là được. Cung cách ấy có thể gọi: "làm ăn lớn" được sao?

Tôi về Quảng Điền mấy lần đều không gặp chủ tịch huyện. Ông đi xuống Quảng Lợi, để cùng nhân dân ở đây bàn bạc, tìm ra hướng đi cho mình. Quảng Điền đang tập trung suy nghĩ cho Quảng Lợi. Đường đi các anh bắt đầu từ khó khăn. Gian truân đấy, song các anh đã thật sự trở về với đất đai, trở về với nhân dân. Chắc chắn cung cách ấy sẽ được nhân dân ủng hộ.

Ở Hương Trà nhân dân rất ủng hộ chính quyền trong các vụ chống tiêu cực để ổn định lòng dân. Nhân dân đang đòi hỏi công bằng, huyện đang đáp ứng được yêu cầu đó. Vụ xâm phạm tài sản ở Hương An kéo dài cả mấy năm chưa được giải quyết. Ban chủ nhiệm hợp tác xã Hương An tổ chức dịch vụ phục vụ tại xã chiếm dụng 13 triệu đồng của hợp tác xã. Dân làm đơn tố cáo. Thanh tra thành phố về giải quyết, rồi ban thanh tra của ủy ban xã làm việc, những trả lời không thỏa đáng, làm mất lòng tin.

Mâu thuẫn cứ bùng nhùng mãi. Nay Hương Trà đưa ra một phương án giải quyết: Mỗi đội cử một người có năng lực nhất, được dân tín nhiệm nhất, lập thành ban thanh tra nhân dân. Cần hỏi những ai lấy chứng cứ, báo cho hợp tác biết để bố trí gặp mặt. Ban thanh tra nhân dân làm xong, trên cơ sở đó, thanh tra cấp trên sẽ về phúc tra lại, hai bên sẽ cùng bàn bạc để đi đến kết luận cuối cùng.

Xuất phát từ lòng tin vào dân, nên phương án được nhân dân đồng tình ngay. Dân nhất trí, thanh tra cứ thanh tra, song không vì sự thanh tra ấy bỏ bê sản xuất. Huyện đã về tận xã giúp dân bầu ngay một ban quản trị mới, và bắt tay vào kế hoạch sản xuất vụ đông xuân cho kịp thời vụ.

Niềm vui nhất ở Hương An là trước đây, dù không nói ra thành lời, song rõ ràng dân quay lưng lại chính quyền. Bây giờ dân gặp lại chính quyền tay bắt, mặt mừng cùng lo tính chuyện chung. Chẳng là một tín hiệu mới ở Hương Trà đó sao?

Điểm cuối cùng trong chuyến đi này là Phong Điền. Khi tôi đến nơi, Phong Điền vừa mua 18 triệu đồng tiền lương thực để trợ cấp cho bà con trong huyện sau bão lụt. Vừa cho bắt một chủ nhiệm hợp tác xã tham ô 17 triệu đồng. Huyện vừa khẳng định phải tiến hành mở con đường xuống các xã vùng biển, biến các ốc đảo xa vắng thành những làng quê gần gũi.

Nhưng Phong Điền chọn điểm nổ mang tính quyết định cho một khí thế mới là sự thắng lợi tuyệt đối của vụ đông xuân. Phần trời, trời cứ lo. Phần thuộc về nhân thế thì huyện lo. Thường vụ huyện ủy và thường trực ủy ban chia nhau xuống từng hợp tác xã, kiểm tra xem giống má hiện tại ra sao. Nhất là phân, phải được chuẩn bị đầy đủ. Những hợp tác xã có vốn, tự bỏ tiền ra mua. Các hợp nghèo, thiếu vốn, huyện quan hệ với ngân hàng, đứng bảo lãnh cho mua. Ngay từ lúc này đã phải trù tính kỹ càng thời gian làm mạ, thời gian cày, bừa, cấy.

Một thuận lợi của vụ đông xuân là không lo nước. Sợ nhất là những trận rét bất ngờ đổ ụp xuống khi làm mạ, khi cấy, khi lúa trổ cờ. Cả nước, có lẽ không có vùng đất đai nào chịu sự chi phối khắc nghiệt của thiên nhiên như ở miền trung này.

Ý chí quyết giành vụ đông xuân thắng lợi ăn sâu vào từng người dân. Phong Điền đã chuẩn bị đầy đủ tiến quân vào chiến dịch đông xuân đầu tiên của huyện mới đầy hào hứng, náo nức.

Phong Điền, một vùng đất rất có truyền thống cách mạng. Chi bộ Sông Bồ là chi bộ tiến thân đầu tiên phía bắc tỉnh, đi đầu phong trào cách mạng 30-45. Phong Điền mở được vùng giải phóng đầu tiên trong kháng chiến chống Mỹ. Những cái tên An-Sơn-Nguyên, Chương-Hóa-Bình mãi mãi là niềm tự hào của đất này. Với tinh thần ấy, tôi tin Phong Điền có thể đi lên được.

Từ bữa lập huyện mới đến nay, các cụ về hưu, các bậc cách mạng lão thành trong huyện, đều đến thăm, động viên chính quyền cố gắng xây dựng quê hương giàu đẹp.

Hồ Xuân Mãn, bí thư Huyện tâm sự:

- Các cụ về, đều nhắc nhở, dặn dò chúng tôi. Một là phải đoàn kết nhất trí. Hai là cần tranh thủ mọi sự ủng hộ cho huyện mình. Chúng tôi sẽ thực hiện lời tâm huyết ấy.

Còn một điều nữa không hiểu sao các cụ quên không nhắc đó là mọi việc làm phải nghĩ đến nhân dân. Phải lấy nhân dân làm mục đích cho mọi hoạt động của mình. Nếu không vì mục đích cao cả ấy, chính quyền sẽ trở thành một quái thai.

Lâu nay chúng ta đã căng lên những khẩu hiệu rất kêu: "Do dân, vì dân", "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Thực tế thấy rõ đó mới toàn là lời hoa mỹ cả. Ngay một từ rất hay: "Lấy dân làm gốc", thì trong dư luận quần chúng chỉ thay đi một từ "lấy dân làm guốc", ta đủ thấy dân chúng đã ca thán chính quyền biết nhường nào.

Chính quyền nào mới lên cũng đều chăm lo đến dân. Lấy dân làm mục đích của mình. Nhưng sau khi đã củng cố chính quyền chặt chẽ, chỗ ngồi đã yên vị, có lo là lo cái chỗ ngồi của mình. Dân không còn là mục đích nữa, mà trở thành phương tiện. Những gì đã xảy ra trong suốt 15 năm nhập huyện, để lại những di chứng đau buồn cho làng xã hôm nay, là nhân chứng của một thời đã đang lao sâu vào tha hóa.

Mong rằng cuộc hành trình trở về này sẽ không nhằm lại vết xe cũ.

Chuyến đi không dài, tôi đến các huyện mới chia. Hàng loạt việc đã làm được, rất đúng là một hành khúc trở về. Người cán bộ huyện đã thật sự trở lại với nhân dân của mình. Song đó mới chỉ là bước đầu. Không có một sự che đậy khéo léo nào lại dối trá được lịch sử.

Những gì tới đây đã có nhân dân trả lời và thời gian trả lời.

Huế 17.12. 1990
N.Q.H.
(TCSH44/01-1991)




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • TẤN HOÀIHưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhĐêm đó, Bác nghỉ lại tại Cọt Mạ - một thị trấn nhỏ của Trung Quốc, thị trấn nhỏ như một bản miền núi miền nam Trung Quốc, có một cái chợ nhỏ, cách biên giới Việt Nam khoảng trên bốn cây số. Tất nhiên, đó là một cơ sở của cách mạng Trung quốc. Hôm sau, Bác về nước cùng với những đồng chí Việt Nam đi đón Bác trong đó có Dương Đại Lâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Những người này về sau trở thành cán bộ lãnh đạo của khu tự trị Việt Bắc. Bác về đúng vào tháng 2 năm 1941. Bác đã ghi trên một phiến đá trong hang Cốc Bó, nằm trong khu vực Pác Bó. Gia tài Bác chỉ có một chiếc va li cũ đan bằng mây, bên cạnh một chiếc máy đánh chữ mà Bác luôn luôn xách bằng tay.

  • HOÀNG QUỐC HẢI                        Bút kýVì sao khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) được nước, cung điện nơi thành Hoa Lư các vua Đinh, vua Lê dựng như “điện Bách Bao thiên tuế, cột điện dát vàng, dát bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc...”, lâu đài điện các như thế, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ.

  • JEAN-CLAUDE GUILLEBAUDLà một nhà báo - nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm trong suốt cuộc đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên” được viết sau chuyến đi Việt Nam từ Nam chí Bắc của ông năm 1992. Bản Công-xéc-tô vĩnh biệt này, có thể nói, nó là nỗi ám ảnh của người pháp về Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Hiện Guillebaud đang công tác tại Nhà Xuất bản Le Seuil (Paris).

  • PHẠM THỊ ANH NGA15-12-2002Hình như trong đám đông tôi vẫn luôn là một bóng mờ. Một bóng dáng nhạt mờ, lẩn trong vô vàn những bóng dáng nhạt mờ khác, mà giữa trăm nghìn người, ai cũng có thể “nhìn” mà không “thấy”, hoặc có vô tình “thấy” cũng chẳng bận lòng, chẳng lưu giữ chút ấn tượng sâu xa nào trong tâm trí.

  • PHẠM THỊ CÚC                       KýTôi sinh ra ở một làng quê, không những không nhỏ bé, hẻo lánh mà còn được nhiều người biết đến qua câu ca dao "Ai về cầu ngói Thanh Toàn/ Cho em về với một đoàn cho vui".

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG                                        Bút kýNhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm, tôi chợt phát hiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ. Tôi không hề có ý xúc phạm, chỉ muốn lưu ý thêm về vai trò của cỏ trong quy hoạch đô thị. Thật vậy, không nơi nào trên thế giới mà những công trình kiến trúc của con người lại mọc lên giữa cỏ hoang như ở Huế. Đà Lạt cũng được xây dựng trên những ngọn đồi; nhưng ở đấy, hình tượng của cây anh đào và cây thông đã khiến người ta quên mất sự có mặt của cỏ dại.

  • THÁI VŨ        Ghi chépNhững năm đầu kháng chiến chống Pháp, từ Quảng Nam- Đà Nẵng vào Bình Thuận lên Tây Nguyên được chia ra làm 3 Quân khu thuộc Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, cụ Cố vấn Phạm Văn Đồng là đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ. Qua năm 1947, 3 Quân khu (QK 5, 6 và Tây Nguyên) hợp nhất thành Liên khu (LK) 5.

  • PHƯƠNG HÀ                     (truyện ký)Cho anh em trong phân đội trở về các vị trí giấu quân xong thì trời cũng vừa sáng. Đang giăng võng để ngủ lấy sức sau một đêm trinh sát, tôi chợt nhớ phải đến thăm Hoà vì Hoà sắp đến ngày sinh nở. Chúng tôi đang ở ngay làng của mình nhưng làng không còn nhà, dân bị giặc lùa đi hết, muốn tìm nhau thì phải tìm đến những căn hầm.

  • LÊ TRỌNG SÂMTrong cuộc đời của mỗi chúng ta, khi Bác Hồ còn sinh thời, được gặp Bác một lần đã quý. Trong cuộc sống của tôi, do có nhiều hoàn cảnh, nhiều duyên may lại được gặp Bác đến ba lần thì càng quý biết bao nhiêu. Tự đáy lòng, tôi thầm cảm ơn Đảng, cảm ơn Bác đã cho tôi ba lần vinh dự như vậy. Và những kỷ niệm đó vẫn còn tươi nguyên.

  • PHẠM THỊ CÚC                         Ký…Tôi chưa thấy ai hay ở xứ nào làm các tác phẩm mỹ thuật từ cây với dây... Nếu gọi là tranh thì là một loại tranh ngoài trời, lấy tạo hoá, thiên nhiên làm cốt, không giới hạn, dãi nắng, dầm mưa, đu đưa theo chiều gió, màu sắc cũng thay đổi từng giờ, từng phút, tuỳ theo ánh sáng mặt trời hay mặt trăng. Cho nên, tác phẩm rất linh động…

  • LÊ VĨNH THÁI                Ghi chép Sau chặng đường dài gần 20 km vượt qua các con dốc cao ngoằn ngoèo, hiểm trở, tôi đã đến “hành lang” công trình hồ Tả Trạch, nằm giữa vùng rừng núi bạt ngàn thuộc xã Dương Hoà, huyện Hương Thuỷ. Công trình hồ Tả Trạch được khởi công xây dựng ngày 26/11/2005, là công trình trọng điểm của Thừa Thiên Huế và của cả nước, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu của Chính phủ, với tổng mức đầu tư khổng lồ 2659 tỷ đồng. Đây là một trong những công trình lớn của vùng Đông Nam Á.

  • TRƯƠNG ĐÌNH MINH                                 Ký Đợt này trở lại Trường Sơn, tìm hiểu thêm các tấm bê tông xi măng vắt qua đỉnh Trường Sơn, lượn quanh các đèo U Bò, Cù Đăng, A Dớt - A Tép mưa mù phủ trắng... Có đỉnh như đỉnh Sa Mù cao trên 1400m mà đợt tháng 3/2003 vừa rồi chúng tôi đã có mặt. Song do mưa liên miên, xe vận chuyển vật liệu, vật tư đi lại co kéo quá nhiều, đường lầy lội. Các đơn vị thi công chưa hoàn thiện phần nền...

  • DƯƠNG PHƯỚC THU                              Bút kýNhiều năm rồi tôi vẫn nghe, đồng chí đồng đội, nhân dân Dương Hoà và những người từng ở hoặc đã qua lại nơi đây trước chiến tranh, khẳng định rằng: Sau khi hy sinh, thi hài liệt sĩ Ngô Hà được đơn vị tổ chức an táng tại sườn tây núi Kệ, nơi có khe suối Ngân Hàng chảy qua thuộc vùng chiến khu Dương Hoà. Trước ngày giải phóng miền Nam, mỗi lần ngang qua chỗ ông nằm mọi người lại tự ý đắp thêm một viên đá nhỏ, để cho ngôi mộ ấy sớm trở thành hòn núi như mới mọc lên từ đất, ghi dấu chỗ ông yên nghỉ ... Chờ ngày chiến thắng.

  • ĐỖ KIM CUÔNGNăm cuối cùng của bậc học phổ thông, tôi được học 2 tiết văn giới thiệu về "Dòng văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945". Cũng không có tác phẩm thơ hoặc văn xuôi được tuyển chọn để phân tích, bình giảng như bây giờ. Ngày ấy - những năm chống Mỹ cứu nước, thơ văn lãng mạn được xem là điều cấm kỵ.

  • TRƯỜNG ANChúng ta đang sống giữa những ngày rực lửa truyền thống hào hùng của Tháng Năm trong lịch sử cách mạng Việt và thế giới. Trước hết, hãy nhắc đến một sự kiện lớn của giai cấp công nhân quốc tế. Ngày 1.5.1886, do yêu cầu không được đáp ứng một cách đầy đủ, công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!”.

  • PHẠM THỊ ANH NGA       Gởi hương hồn bạn cũTôi qua đến Pháp ngày hôm trước thì hôm sau ba tôi mất. Cái tin khủng khiếp đó đối với tôi vẫn không đột ngột chút nào, bởi từ những ngày hè về thăm nhà, tôi đã biết trước ba tôi sẽ sớm ra đi.

  • TÔ VĨNH HÀEm hẹn gặp tôi ở quán cà phê Trung Nguyên. Đó là địa điểm em tự chọn. Cái tên ấy cho tôi biết rõ là giữa hai chúng tôi không có gì nhiều hơn một cuộc trao đổi bình thường. Tuy nhiên, sự mách bảo từ nơi nào đó của linh cảm và cả ước muốn, cứ làm cho tôi tin rằng đó là điểm khởi đầu. Đêm cuối xuân, Huế gần như ít buồn hơn bởi cái se lạnh của đất trời. Huế bao giờ cũng giống như một cô gái đang yêu, đẹp đến bồn chồn. Nếu được phép có một lời khuyên thì chắc hẳn tôi đã nói với tất cả những người sẽ được gần nhau rằng, họ hãy cố chờ đến một đêm như thế này để đến bên nhau. Bầu trời mà Thượng đế đã tạo ra sẽ cho mỗi con người biết cách đến gần hơn với những lứa đôi.

  • CAO SƠNChuyện xưa: Vua Hùng kén tìm phò mã cho công chúa Ngọc Hoa, đồ lễ vật phải có gà chín cựa ngựa chín hồng mao? Thôi thúc Lạc dân xưa kia, đánh thức tiềm năng người dân phải tìm hiểu, lặn lội từ đời này sang đời kia chưa thấy. May sao với thú đi để biết, anh Trần Đăng Lâu, cựu chiến binh, hiện Giám đốc vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ cho hay: Vườn quốc gia nguyên sinh anh Lâu đang quản lý, mới phát hiện giống gà lạ ấy. Con vật đặc biệt chưa có ai biết tới, chưa được phổ biến rộng rãi, thương trường chưa có cuộc trao bán...

  • NGUYỄN HỮU THÔNG                             Bút ký"Buổi mai ăn một bụng cơm cho noChạy ra bến đòMua chín cái tráchBắc quách lên lò

  • TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG                                                Bút kýTrong hồi ức của một số cán bộ lão thành cách mạng ở A Lưới kể lại rằng: “Hồi đó có một số người ở đồng bằng tản cư lên sống cùng đồng bào; qua họ, đồng bào nghe đến tên Cụ Hồ, nhưng đồng bào chỉ biết đầy đủ về Bác cũng như thấu hiểu được những điều Bác dạy qua các cán bộ người Kinh lên hoạt động ở đây vào khoảng những năm 1945-1946. Cán bộ bảo: Cụ Hồ muốn nhân dân mình học lấy cái chữ để biết bình đẳng. Muốn bình đẳng còn phải đánh Pháp. Nếu đoàn kết đánh Pháp thì ai ai cũng đánh Pháp và khi đó đồng bào ta nhất định thắng lợi” (1)