THÁI KIM LAN
Tùy bút
Cây hải đường ở vườn bà nội tôi thuở ấy đứng trước bình phong nhà Từ đường họ ở đồi Hà Khê. Không biết nó đã ở đó bao lâu, lớn khôn ra làm sao, trong rét mướt mùa đông và nắng nồng mùa hè có than vãn vật vả như con người?
Chỉ biết khi tôi bắt đầu chạy chơi lúc thúc trong vườn, hải đường hình như đã… già, gốc sâu trong lòng đất. Ít có cây hải đường nào ở Huế lại có thân to như thế, to gần bằng thân cây bưởi nơi vườn. Mỗi lần đi rình chú ve kêu ra rả buổi trưa, tôi thường mất dấu chú khi lần theo tiếng đến bên gốc hải đường vì thân ve và đôi cánh mỏng lẩn với màu thân cây, lốm đốm vết trắng mốc và xanh rêu bạc, bà nội tôi gọi màu đời xưa. Cây hải đường có gốc xưa như đến từ một nơi hoang đường nào đó, chưa được viết trong cổ tích. Trong lòng bà nội, tôi thường mơ thấy hình hài của nó, không bằng chữ mà bằng những mũi kim thêu của những cung nữ hoàng cung không tên. Những nét thêu chấm phá thần tình đến nỗi vào một giờ bất định giữa trời và đất, hải đường thành nhánh, thánh lá thành hoa, mọc rể nơi chỗ trang trọng nhất trong vườn, nó bay xuống đất đứng trước bình phong…
Bước qua cổng trước, từ xa, khách đã thấy cây hải đường thay mặt chủ nhà chào đón. Dáng thẳng, không khom còm, không oằn ẹo mà trang trọng, quý phái và diễm lệ, cành cây mang những đóa hoa đỏ thắm tươi cười, những đóa thật lớn úp cả bàn tay con nít, mỗi khi vào dịp xuân về Tết đến. Cây hải đường lạ, vì chẳng có ai trồng tỉa mà như được giáo huấn tươm tất cả cành lẫn lá. Cành cây tỏa ra đều đặn như đã hẹn nhau cân xứng quanh cây, từ gốc đến ngọn, cành đâm đều với lá, vót trên cao lá non chồi lên ở giữa, tạo đỉnh sang quý không ngờ. Cành cây từ dưới cứng cõi như những đốt xương, nhưng lên nửa chừng bỗng xanh màu lục đậm cùng với lá bảng to, có viền răng cưa, tựa lá hồng nhưng to, cứng cáp, rõ ràng, xanh thắm. Giữa hai ngọn lá đối xứng nhú lên một chúm môi hồng, căng nhựa, là hải đường đang mơ. Xếp đặt thế nào mà trông cây như được cắm trong một độc bình thật lớn, một bó hoa thiên nhiên.
Đón khách rộn ràng vào dịp Tết, khí trời ung dung mát, hải đường thảnh thơi kết lá đơm hoa. Nhưng ngày thường bốn mùa, đón gió, đón mưa, đón nắng thì nhiều, nhiều hơn bất cứ cây nào ở trong vườn. Gió sông Hương ùa vào cổng, khi dịu êm như một cái vuốt má, khi rát căm như chổi quất vào người. Nắng nung suốt cả mùa hè cháy bỏng lá cành. Gió mưa vô tình chi mấy, hải đường như đã thấm thía từ lâu, nó tập sao mà không ngã nghiêng, không bật gốc. Chống chọi với nắng cuồng, hải đường ngậm nắng, tích nắng vào lòng, trung kiên giữ nỗi đam mê nồng nàn với trời với đất. Có lẽ từ khối tình ấy mà hoa rực rỡ hơn đóa hoa nào trên thế gian chăng? Tháng 12, đông chí, hải đường se sắc lá chịu những cơn gió mùa, đẫm mình trong những chuỗi mưa lê thê, tưởng như đắm đuối não nề. Nào ai có biết, trong lúc người vật vã cây cỏ tái tê, ấy là lúc hải đường chớm những nụ đầu tiên, những nụ hoa cuộn chặt những cánh hồng đào bật lên như những đốm lửa, nghe có âm vang ấm áp ngày hè, tựa tiếng cười giữa hai bàn tay con gái đi trong mưa rào, não nùng dưới mưa mà chẳng hay! Mà như chưa thương cho kịp nét não nùng, thì đã bất ngờ “say vẻ ngọc” khi hoa lồng nắng xuân, lộng lẫy đến là “vương giả chi hoa”!
Nhưng đối với tôi, hải đường không vương giả theo kiểu dành ngôi hoa hậu, cũng không thần tiên, huyền thoại mơ hồ, mà hải đường là ở… “dưới đất”. Dưới đất có nghĩa không ở trên… trời… diệu vợi, nó nằm… trên đất. Điều đó thật, thật gần vì tôi đã từng ngắm, lượm hải đường trên đất vào những mùa hoa. Không như những loài hoa khác khi tàn, tơi tả rụng, hải đường vẫn giữ nguyên đóa khi rụng xuống nằm trên đất nâu còn sủng ánh sương long lanh. Hoa trên cành cao, không với đến được, chỉ có thể trầm trồ, hoa nằm trên đất tươi rói, rực rỡ mới là còn hơn. Mỗi buổi sáng mai, mắt chưa ráo ngủ, được ra vườn với bà, tôi thường chạy trước, bà đủng đỉnh đi sau, đến cây hải đường để xem hoa rụng bao nhiêu đóa, có nhiều hơn hôm trước không. Cảm giác như đang đi tìm… kho tàng mới mở của một ngày thức dậy. Đất nâu đơm những đóa đỏ hồng, bức tranh tuyệt đẹp làm ửng con tim, mấp máy niềm vui tiệc hoa trong ngày đang bày sẵn. Mùa hải đường là mùa… yến tiệc đối với bọn trẻ chúng tôi và của bà tôi: Mùa Đẹp từ hoa trên đất vang dội vào lòng.
Trước tiên là LÀM ĐẸP, này đưa má đây, thoa cho chút phấn lấy từ nhụy hoa. Nhụy hoa hải đường như một búp phấn của hãng Cô ti ngày xưa ấy, trên đầu mỗi sợi nhụy đều mang chấm phấn vàng, lấy nó thoa lên má… là thành người đẹp đấy. Cả lũ trẻ làm đẹp cho nhau dưới tàng cây khế và chúm chím cười suốt ngày, tưởng mình là đẹp nhất với má phấn và hoa cài trên tóc!

Tiếp sau là ĂN ĐẸP nhé, cánh hoa hải đường dày thịt chứ không mong manh như hoa hồng, hoa sen, cắn vào là nghe chất thịt chan hòa trên lưỡi, có vị ngọt ngọt chua chua, không có ngọt nào, chua nào giống nó, ăn vào mát lịm như uống sương mai. Trên những ngọn lá chuối xanh, những cánh hoa chưng bày trông ĐẸP BẮT THÈM, phải cắn vào thôi. Tiệc hoa của lũ chúng tôi, - bà còn cho một nhúm muối mè đặt trên những lá mít càng làm nổi bật màu hoa - những đưa trẻ thời ấy chưa có đồ chơi bằng nhựa, bằng cơ khí như ngày nay, - thật mỹ hảo chưa từng với những chuỗi cười trong vắt.
Trong không gian lục xanh hồng thắm bóng hoa, nắng xuân Huế mê hoặc rải phấn trên sông núi cỏ cây mênh mang tô thêm vẻ yêu kiều, linh cảm hạnh phúc gắn liền với mỹ ý, với ý đẹp như luồng vào nhịp nhảy của dòng máu trong tim.
Mỹ cảm và hạnh phúc thật gần gũi biết bao, từ trực giác trẻ thơ, nhưng cũng từ con người chuyền hơi ấm, chuyền sáng tạo thẩm mỹ. Xuân chỉ là xuân khi xuân hòa điệu trong bàn tay con người. Những ngày tháng ấy, trong sự quây quần gia đình thưởng xuân ăn Tết, sẽ nhạt nhòa biết bao nếu không có những điểm nhãn trên mâm cỗ, trên khay mứt, trên những quả bồng bánh trái. Tác giả của nó là những vị nữ nhân công dung một thời. Bà nội tôi thường cho tôi những khám phá thích thú bất ngờ khi được tham dự buổi tiệc người lớn.
Buổi sáng trước khi dọn cỗ tất niên, bà nắm tay tôi ra vườn, hương cau còn nhòe hương mộc bay trong khí xuân, đến cạnh gốc hải đường, hoa đêm trước rụng điểm xuyết trên đất hòa cùng lá khô, tôi hau háu đếm hoa, bụng tở mở với trò vui sẽ có, thấy bà cũng nhặt hoa, cẩn trọng, vuốt từng đóa trên tay, múc nước mưa lọc sạch cất trong lu, rửa những cánh hoa lấm đất. Buổi trưa, tiệc bày, bụng đói mà mắt thì càng đói hơn bỗng bất ngờ được no: thật là thẩm mỹ những sợi hoa hải đường được thái mỏng bày chung trên dĩa dưa giá trắng ngần, chen lẫn lá kiệu xanh, màu hồng hải đường làm tăng vẻ đẹp của món dưa thanh đạm, ăn với thịt heo luộc và tôm chua, món đặc biệc của ẩm thực Huế. Về sau tôi không bao giờ thấy ở đâu có một dĩa dưa giá đẹp mà ngon đến thế. Sau này sợi cà rốt cũng được pha với giá làm dưa. Nhưng bài thơ ẩm thực mà bà tôi vẽ với những cánh hoa hải đường thì duy nhất trong ký ức thị và khứu giác của đứa trẻ. Hải đường theo với giá chua vẫn theo tôi từ dạo ấy đến nay.
Cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên cần nhiều xúc cảm gần gủi, đầy tinh tế mà có lẽ những đấng nam nhi, hay các vị trưởng giả đôi khi tự cao về tài nghệ thưởng thức của mình lại phán quyết nông cạn như: ngoài điều “vương giả chi hoa” còn bồi thêm “hải đường hữu sắc vô hương”. Phân chia giai cấp phẩm chất của hoa từ nơi trà dư tửu hậu và khiếm khuyết nhạy cảm về mùi hương thật tội cho hoa. Hải đường không dậy hương ồn ào như những loài hoa khác mà mang trong mình thoáng hương của lòng đất, khí trời, sương trong, mưa nồng, gió thoáng, nắng hồng, không sàm sỡ mà kín đáo, hồn nhiên.
Hương hoa tự nhiên như mùi da thịt trẻ thơ. Không nồng nàn náo động khu vườn như hương bưởi, hương dạ lan, cũng không mê hoặc ngây ngất như hoa sứ, hoa nhài, hải đường êm ả mùi sữa đất lành, nhẹ hẩng mùi hạt sương vừa đậu trên cỏ dại. Về sau mới biết, tại sao bà tôi đã không can ngăn đám trẻ nhặt hoa hải đường cầm lên mũi hít, thè lưởi thử phấn hoa, bôi lên má và chúm môi cắn vào những cánh hoa dày thịt, như khi hít hương sen, hương bưởi. Hóa ra thoáng “vô hương” của hải đường lại là điều hay, bởi hải đường không gây một chút dị ứng nào cho đường hô hấp như một số hương hoa lừng lẫy khác, ngay cả hương sen, được xem là hương đạo, cũng có thể gây mê... Phải nhạy bén khứu giác và xúc giác mới nhận ra hương thầm lặng hồn nhiên của hải đường. Cho nên cánh và phấn hải đường đối với con mắt, xúc, khứu giác của người chăm cây biết rõ vừa đẹp vừa ngon cho các món ăn, dân dã mà sang trọng vô cùng.
Còn hơn nhà thơ chỉ dừng lại nơi sắc đẹp của hoa “hải đường mơn mởn cành tơ”, bà tôi đã đưa chất thơ của hoa nằm trong bàn tay và vẽ nên “cái đẹp” được cả đám hậu sinh tròn mắt mà nhìn, mà thưởng thức với cả ngũ quan.
Đối với tôi “hải đường dưới đất” hầu như là âm vang của một thứ hạnh phúc từ một thế giới vừa gần vừa xa, với thứ ánh sáng màu hoa ấm lòng. Sung sướng nhất khi nằm trong giường tre, trên chiếc chiếu cói vừa ấm vừa mát, quanh cây đèn dầu, cùng chung anh chị em đồng lứa, nghe tiếng nói cười của các bác các dì nội trợ làm bánh trái ở nhà sau, trong ánh sáng tù mù không soi hết gian nhà giữa, nghe bà kể chuyện cổ tích hay ngâm thơ Kiều, đến cái câu “hải đường lả ngọn đông xuân” là đã ngủ khèo… với cơn mơ những đóa hải đường ngày mai sẽ đón tôi trong sương mai.
Tín hiệu hạnh phúc đi cùng với thẩm mỹ và vẻ đẹp đất trời rõ nhất đến với tôi là ngày bà tôi mất, tháng tám âm lịch (tháng chín dương lịch) năm 1963. Trong thời gian này tôi bị giam giữ tại Ty cảnh sát Huế trong cuộc vận động của Phật giáo. Suốt hai tháng trời ngồi trong trại giam, chúng tôi có dịp nhìn lại tuổi trẻ của mình, nhận rõ hơn hoài vọng và khát khao lý tưởng thành nhân, gầy dựng một cuộc sống có ý nghĩa với trái tim thanh xuân nóng hổi tin yêu và hi vọng. Hình như nơi chân trời đàng xa, trên nẻo hoài vọng tương lai còn chưa định ấy, hửng chút hồng ánh sáng màu hoa cùng với linh cảm hạnh phúc đơn sơ thuần hậu còn lưu vị “ĐẸP” dưa giá một ngày xuân ấm.
Ngày tiễn đưa bà, tôi được cho phép (đầy thông cảm và nhân ái) về dự đám tang nhưng tiếc thay không được nhìn mặt bà lần cuối.
Cùng với bước tiễn đưa đến căn nhà vĩnh viễn của bà là những đóa hải đường thêu trên đất mà tôi đã nhặt được và cất trong hồn qua bao mùa xuân thơ dại và những cái Tết Mỹ Hạnh của tuổi thơ.
Đến nay những đóa hoa ấy, - dù cây hải đường xưa không còn trên đất cũ, - vẫn “ngày xuân càng gió, càng mưa, càng nồng” như hạnh phúc không tuổi, - giấc xuân với nhiều nếp cổ tích gia phong, - trở nên đích đến của đời người một lần chợt thấy và nhớ hoài đốm hồng thiện, mỹ…
T.K.L
(TCSH336/02-2017)
Tải mã QRCode
MINH CHUYÊN (Tiếp Sông Hương số 12-2008)
MINH CHUYÊN (Tiếp theo và hết)
LÊ HUỲNH LÂMCó thể gọi xứ Huế là thành phố của những tiếng chuông. Sự khởi đầu của một ngày, một ngày mai hun hút trong tương lai cũng như một ngày tận trong nghìn trùng quá khứ. Một ngày mà âm thanh từ đại hồng chung phát ra; vang, ngân, vọng và im bặt. Người ta gọi âm thanh đó là tiếng chuông. Vậy thì, im bặt cũng là một phần của tiếng chuông.
MINH CHUYÊNCảnh làng mới Trà Tân cuối chiều mùa đông. Con suối chảy qua nước trong veo, róc rách. Phía tây con suối cách làng chừng nửa tầm mắt là rừng Sắc Rông, đủ các loại cây tầng tầng, lớp lớp. Cánh rừng đang chìm trong sương chiều. Rừng hoang vắng, huyền bí. Người ta kể sau ngày chiến tranh chấm dứt, rừng Sắc Rông càng trở nên bí ẩn. Người chỉ có vào mà không có trở ra. Vậy mà mấy tháng gần đây lại thường xuyên xuất hiện một người đàn bà ở đó.
PHẠM NGUYÊN TƯỜNGNgày xưa nhà mẹ nghèo hung, cơm không có ăn, khố không có mặc, suốt ngày lang thang trong rừng đào củ mài củ sắn kiếm cái cho vào bụng. Có ngày không tìm được chi, bụng đói lắc lư.
NGUYỄN KHẮC PHÊTrước ngày Huế khởi nghĩa 23/8/1945, có một sự kiện khiến cả thành phố náo nức vui mừng: đó là việc lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên đỉnh cột cờ Huế ngày 21/8 thay cho cờ quẻ ly. Người chiến sĩ được đồng chí Trần Hữu Dực trực tiếp giao nhiệm vụ quan trọng ấy là chàng thanh niên 25 tuổi Đặng Văn Việt (ĐVV).
NGUYỄN QUANG HÀTạp chí văn nghệ của 6 tỉnh Bắc miền Trung gồm: Xứ Thanh, Sông Lam, Hồng Lĩnh, Nhật Lệ, Cửa Việt, Sông Hương có một cam kết thú vị, luôn luôn trong nỗi chờ mong là mỗi năm anh chị em trong tạp chí thay nhau đăng cai luân phiên, mỗi năm gặp nhau một lần, ở thời điểm thích hợp nhất do tạp chí đăng cai tự chọn.
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀOTháng bảy, nồng nàn hương lúa mới trên những ruộng lúc mới vừa mùa gặt tháng 5, mùi rơm rạ kéo tôi ra khỏi thế giới của những đường phố xênh xang, đầy bụi và chật người. Tôi leo lên một tầng gác và nhìn về hướng quê tôi, hình dung đủ thứ nhưng nhớ vẫn là khói lam chiều với dáng mẹ tôi gầy cong như đòn gánh.
VĨNH NGUYÊNPhải nói tôi có ý định dông một chuyến xe máy ra Bắc đã lâu mà chưa có dịp. Nay có điều kiện để đi song tôi vẫn băn khoăn, không hiểu chuyến đi này mình sẽ gặp những ai đây? Hay là phải thở dài dọc đường xa với những cảnh đời khốn khó? Thôi thì tôi chỉ biết đi và đi.
VÕ MẠNH LẬP Ghi chépNhân vật Mười Hương nhiều người đã biết đến qua sách báo và đặc biệt là vùng đất Nam Bộ - Sài Gòn.
DƯƠNG THÀNH VŨTrong đêm mỏng yên tĩnh dịu dàng, một mình một cõi với ly rượu trắng, cùng mùi hương của hoa rộn ràng, huy hoàng phát tiết; tôi miên man nhớ tới cõi người đến- cõi người đi nơi xa chốn gần, thời gian tuyến tính lẫn thời gian phi tuyến tính.
NHẬT HOA KHANH Mười năm những mấy ngàn ngày... (Tố Hữu: Mười năm )
TRUNG SƠNĐoàn văn nghệ sĩ Thừa Thiên - Huế (TTH) lên đường “đi thực tế” một số tỉnh phía Bắc vào lúc lễ giỗ Tổ ở đền Hùng (10 tháng 3 âm lịch) vừa kết thúc. Tiền có hạn, thời gian có hạn chưa biết sẽ tới được những đâu, nhưng ai cũng “nhất trí” là phải lên Phú Thọ thăm Đền Hùng, dù lễ hội đã qua.
ALẾCHXĂNG GRINTại Luân Đôn, mùa xuân năm 1921, có hai ngài trung niên ăn mặc sang trọng dừng chân ở góc đường, nơi phố Pakađilli giao nhau với một ngõ nhỏ. Họ vừa ở một tiệm ăn đắt tiền đi ra. Ở đó, họ đã ăn tối, uống rượu vang và cùng đám nghệ sỹ của nhà hát Đriuđilenxky đùa cợt.
PHONG LÊQuê tôi là một xã nghèo ven chân núi Mồng Gà, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Từ Hà Nội, việc về thăm quê, đối với tôi không mấy khó khăn. Hồi là sinh viên thì mỗi năm hai lần, lần nghỉ hè lần nghỉ Tết. Khi đã là cán bộ, có gia đình thì mỗi năm một lần, cả nhà dắt díu về, với hai hành trình là tàu hoả từ Hà Nội vào Vinh, rồi là xe đạp từ Vinh về nhà.
NGUYỄN TRỌNG HUẤNBạn tôi là nhà thơ. Thơ ông hay, nổi tiếng, nhiều người ái mộ. Thời buổi “nhuận bút không đùa với khách thơ”, kinh tế khó khăn, gia đình ông vẻ như cũng “rất ư hoàn cảnh”.
ĐẶNG NHẬT MINHGia đình tôi ở Huế có một cái lệ: cứ vào dịp trước Tết tất cả nhà cùng nhau lên núi Ngự Bình quét dọn, làm sạch cỏ trên những nấm mộ của nhũng người thân đã khuất. Sau đó trở về nhà thờ của dòng họ, cùng nhau ăn một bữa cơm chay. Cái lệ đó người Huế gọi là Chạp. Ngày Chạp hàng năm không cố định, có thể xê dịch nhưng nhất thiết phải trước Tết và con cháu trong gia đình dù đi đâu ở đâu cũng phải về để Chạp mộ.
DƯƠNG PHƯỚC THUMùa xuân năm Đinh Mùi, 1307, tức là chỉ sau có mấy tháng kể từ ngày Công chúa Huyền Trân xuất giá qua xứ Chàm làm dâu, thì những cư dân Đại Việt đầu tiên gồm cả quan binh gia quyến của họ, đã rời khỏi vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã theo chân Hành khiển Đoàn Nhữ Hài, vượt qua ngàn dặm rừng rậm, núi cao, biển rộng đến đây cắm cây nêu trấn yểm, xác lập chủ quyền quốc gia.
NGUYỄN XUÂN HOÀNGNhững ngọn gió heo may cuối cùng đã tắt. Nắng buổi sáng hanh vàng ngoài bến sông. Hàng cây trên phố Huế đã chừng như thay lá, lung linh một màu lá tơ non, mỏng như hơi thở của bầy con gái trường Hai Bà Trưng đang guồng xe đạp đến trường. Mùa xuân đã về bên kia sông. Đã về những cánh én nâu đen có đôi mắt lay láy màu than đá. Đã về những đóa hoa hoàng mai, vàng rưng rức như một lời chào ngày tao ngộ...
TÔ VĨNH HÀCon chó Giắc nhà tôi đẹp nhưng mà hư quá. Tôi hét nó nằm thì nó cứ giương mắt ra, rồi ngồi. Tôi không cho nó chạy vào nhà vì sợ nó làm bẩn cái nền nhà vừa lau thì nó đi vòng cửa sau, khi tôi ra cửa trước. Bực nhất là ngày lễ - nói chung là những ngày có việc, bất cứ ai vào nó cũng sủa rộn ràng. Tôi thì không muốn xóm giềng để ý. Vậy mà chó có biết cho tôi đâu...