Phòng chiếu phim tại Liễu Quán chật kín người xem
Phim chiếu ở Liễu Quán đầu tiên là Thu Vàng của đạo diễn Jan Tenhaven, kể lại câu chuyện có thật về 5 vận động viên tuổi trên cả xưa nay hiếm, từ 80 đến 100 tuổi, tham gia Thế vận hội thể thao hạng nhẹ cho người cao tuổi tại Lahti (Phần Lan). Những con người đã đi qua không biết bao nhiêu biến tấu cuộc đời, vẫn say đắm với thể thao. Một trong những vận động viên ném đĩa là ông Alfred đã 100 tuổi. Tuổi đã cao như thế, nhưng tham vọng của ông không vơi đi: “Tôi không thích giải nhì. Tôi thích giải nhất hơn”. Và ông đã ra sức luyện tập cho cuộc thi. Không chỉ riêng ông, nhiều vận động viên khác tuổi tác đã cao như thế cũng say mê tập luyện. Và câu chuyện tập thể thao của họ khiến cho người xem ngạc nhiên. Thứ nhất, lần đầu tiên công chúng Huế nhận ra rằng, 100 tuổi chưa hẳn đã là già, là không còn làm gì được. Thứ hai, người ta nhận ra rằng việc chiến thắng bản thân còn quan trọng hơn cả huy chương đem lại. Thứ ba, một nền điện ảnh có riêng hẳn một phim cho người già, với diễn viên 100 tuổi, đó là một nền điện ảnh đầy ắp chất nhân văn.
Đêm cuối cùng, công chúng Huế đến Liễu Quán để xem phim “Cá sấu ngoại ô 2”, phỏng theo một cuốn truyện thiếu nhi cùng tên khá thành công ở Đức. Những nhân vật chính là nhóm cá sấu gồm 7 thành viên thiếu niên thông minh, can đảm và rất thích phiêu lưu. Câu chuyện xoay quanh nhà máy, nơi bố mẹ Olli và Maria làm việc, sắp sửa phải đóng cửa: Không hiểu do đâu mà máy móc không hoạt động nữa và công việc đứng im tại chỗ. Giải pháp duy nhất đối phó với việc thất nghiệp đe dọa là chuyển nhà sang thành phố khác. Điều đó có nghĩa là băng nhóm của bọn trẻ phải giải tán. Chúng quyết định điều tra nguyên nhân của việc máy móc ngừng chạy: hai anh em sinh đôi nhà Boller đang làm việc trong nhà máy gần đây có những biểu hiện rất đáng nghi. Cả nhóm thống nhất với nhau sẽ theo dõi hai anh em nhà này và đã lần ra được mưu kế của họ, tuy nhiên, để có chứng cớ, các em phải dũng cảm đối mặt với những tình huống nguy hiểm. Tình tiết hấp dẫn, vui nhộn đã đưa khán giả từ tràn cười này đến tràn vỗ tay khác, đôi lúc thót tim lại vì lo cho sự an nguy của các bạn trẻ.
Bộ phim khắc họa nhân vật cậu bé Hannes và hai chị em Olli và Maria không ngại rủi ro quyết vạch trần các âm mưu thâm độc tìm cách trà trộn vào nhóm của họ cũng như việc vạch ra âm mưu của những kẻ phá hoại nhà máy nơi cha mẹ của họ đang làm việc. Cuối cùng sự dũng cảm, thông minh của nhóm cá sấu đã tìm ra sự thật, lật tẩy những kẻ phá hoại và đưa nhà máy đi vào hoạt động bình thường. Với 88 phút trình chiếu, bộ phim đã lôi cuốn đông đảo khán giả mọi lứa tuổi tại cố đô Huế mặc dù trong thể loại là Phim cho trẻ em (từ 6 tuổi), đủ biết công chúng Huế yêu thích xem phim Đức thế nào.
Đêm cuối cùng (5/10), khán giả đông đến mức ban tổ chức phải tăng cường ghế ngồi ra ngoài hành lang khán phòng, nhưng vẫn không đủ chỗ, nhiều người đã phải đứng xem. Liên hoan phim Đức khép lại ở Huế nhưng đã lưu lại những dấu ấn tốt đẹp trong lòng công chúng Huế. Các phim đã đem lại cho dân cố đô một không gian văn hóa Đức đặc trưng, trong đó sự hài hước kiểu Đức khiến công chúng Huế thấy khá gần gũi với mình. Đời sống nước Đức với những cách thức văn hóa ứng xử, văn hóa tình cảm, chất nhân văn trong các câu chuyện... đã khiến công chúng Huế hiểu thêm về nước Đức hơn. Về phương diện khán giả, trong tiết trời mưa gió do ảnh hưởng các cơn bão số 5, số 6, số 7, thế nhưng rất đông công chúng đã đội gió đội mưa đi xem. 5 đêm chiếu phim ở Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh đã thu hút trên 5000 khán giả. Trong 2 đêm ở Liễu Quán, dù số ghế rất hạn chế, chỉ 200 ghế/buổi chiếu, nhưng công chúng đã đi đông hơn số ghế mà Ban tổ chức chuẩn bị. Nếu nói về Liên hoan phim Đức tại Huế, tất cả đã có thể gói gọn trong hai chữ : THÀNH CÔNG! PV |
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.