Hà xứ xuân sinh tảo (1)

08:52 29/07/2025
Mùa xuân luôn là đề tài hấp dẫn, sẵn sàng đánh thức nguồn cảm hứng của bao thế hệ thi nhân. Đây có thể xem là một thực tế trong lịch sử văn học Việt Nam. Tuy nhiên, mỗi một nhà thơ đều có cách thể hiện theo cảm xúc của riêng mình.

Cùng trong mạch cảm hứng đó, dưới triều các vua Nguyễn có không ít những trí thức đương thời đã thổn thức vì một ý xuân qua thơ của mình. Trong hàng loạt thông điệp "báo hiệu" tiết xuân, có thể lấy những bài thơ xuân khác trên Điện Thái Hoà - Đại Nội làm một "tín hiệu". Nhân dịp xuân về, người viết bài này muốn tản mạn đôi điều về bốn bài thơ xuân có chung một câu mở đầu ở Điện Thái Hoà.

Bốn bài thơ này đều được viết trên nền pháp lam kế tiếp nhau trên cổ diềm phía sau của điện. Đến bây giờ, chúng tôi vẫn chưa xác định ai là tác giả. Một số người đưa ra giả thuyết có thể đây là những bài thơ của các quan nhà Nguyễn, nhưng vẫn chưa có cơ sở vững chắc, điều ấy vẫn còn để ngỏ...

Đáng lưu tâm hơn cả là cùng với ý đồ trang trí ngoại thất của Điện Thái Hòa, các bài thơ này còn thể hiện được những giá trị tư tưởng mà thế hệ chúng ta cần ghi nhận. Mùa xuân trong các bài thơ ấy không đơn thuần gói gọn trong dăm câu tả cảnh mà qua đó, "tác giả" còn gửi gắm những tâm sự của mình về sự phồn vinh của đất nước:

"Hà xứ xuân sinh tảo
Xuân sinh vũ lộ nghi
Kỳ lâm phù chúng vọng
Khẩn trạch hiệp nông thì"

Tạm dịch(2):

Nơi nào xuân đến sớm
Đúng độ cơn
a về
Cầu mưa làm thỏa nguyện
Mùa màng vui sơn khê.

Hay là:

“Hà xứ xuân sinh tảo
Xuân sinh chấn thì phong
Tam dương khai thái tịnh
Tứ hải lý tường đồng".

Tạm dịch:

Nơi nào xuân đến sớm
Gió đông xuân về nhanh
Vận thái bình xuân nở
Dân cùng vui điềm lành.

Từ thực tế này, rõ ràng ngay ở trong tư tưởng các vua quan nhà Nguyễn đều có tâm sự đối với sự nghiệp "kinh bang tế thế" muốn được "quốc thái, dân an".. Điều ấy chẳng có gì đáng ngờ cả. Bởi rằng, từ nếp nghĩ đến việc làm bao giờ cũng có khoảng cách nhất định. Thực ra, lịch sử đã chứng minh rằng, Triều Nguyễn chưa vượt khỏi khoảng cách đó, đây cũng là hạn chế tất yếu. Nhưng không vì vậy mà chúng ta thiếu đi sự khách quan trong khi lý giải hay đánh giá về một hiện tượng.

Như hai bài thơ trên, bài thơ sau vẫn là niềm mong mỏi tưởng chừng không nguôi ấy. Ý thức rất rõ về một nền nông nghiệp lúa nước, câu thơ còn thể hiện niềm mơ ước rất chính đáng:

"Hà xứ xuân sinh tảo
Xuân sinh thảo mộc tri
Phương viên tăng tú mậu
Thái dã trưởng sâm si”.

Tạm dịch:

Nơi nào xuân đến sớm
Nghe cây cỏ đâm chồi
Trong vườn thêm xanh tốt
Đồng ruộng trở mình tươi.

Niềm mong chờ tha thiết đáng được trân trọng ấy đã thể hiện qua những hình ảnh khá cụ thể. Đấy có lẽ như là một nhu cầu phơi trải, được nhà thơ diễn tả từ gián tiếp đến trực diện một cách ý vị. Hay xa hơn một tí, thiên nhiên được mở rộng trong những mảng màu xanh tươi, rực rỡ thể hiện một khung cảnh dạt dào sức sống:

"Hà xứ xuân sinh tảo
Xuân sinh thượng uyển tiên
Thiên đào hồng chước chước.
Nhu liễu lục miên miên"

Tạm dịch:

"Nơi nào xuân đến sớm
Thượng uyển xuân sớm hơn
Đào tiên hồng rực rỡ
Liễu rũ màu lam lam"

Bốn bài thơ như tạo thành một điệp khúc xuân vừa hoành tráng -vừa thơ mộng. Không gian rộng rãi cùng thời gian thoáng đạt, vận động chuyển tiếp như bao trùm lên tất cả mọi sự vật, hiện tượng một mùa xuân bất tận những sắc màu, lan tỏa mọi nẻo là một sắc xanh đậm đà tình người.

Đọc lại bốn bài thơ, buộc lòng chúng ta phải ngẫm nghĩ. Như ai đó từng nói: "Mơ ước cơ đồ được vẹn tròn muôn thuở, đó là lẽ tất yếu của một triều đại..." quả là không ngoa.

Thời gian lặng lẽ đi qua, mùa xuân lại đến giữa đất trời, đến với hôm nay để chiêm ngẫm những gì của hôm qua những cái mà chính thời gian không thể nào khỏa lấp. Ai mà biết được: Hà xứ xuân sinh tảo?

Đại Nội, trước thềm xuân 94
P.H
(TCSH60/02-1994)

--------------------
(1) Nơi nào xuân đến sớm (câu mở đầu chung cho bốn bài thơ ở Điện Thái Hoà).
(2) Dịch thơ từ bản dịch nghĩa của Nguyễn Tân Phong.

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Tin nổi bật
  • ĐỖ NGỌC YÊN(Nhân đọc TRONG CĂN NHÀ SÀN BÉ NHỎ)(*)

  • ĐỖ ĐỨC HIỂU Trong hành trình "Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp", tôi thấy một giọt vàng rơi vào lòng mình, giọt vàng ròng ngời sáng. Đó là truyện ngắn của anh. Anh tái tạo truyện ngắn ở Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XX này và nâng nó lên một tầm cao mới: thơ ca và triết lý, nó truyền thống và hiện đại, phương Đông và toàn nhân loại.

  • THÁI DOÃN HIỂUĐể nối hai bờ suy tưởng tâm linh và vũ trụ, nhà toán học Lê Quốc Hán (*) đã bắc một chiếc cầu thơ.

  • HÀ VĂN THÙY(Nhân đọc Văn học - phê bình, nhận diện của Trần Mạnh Hảo)

  • LÊ VIẾT THỌ(Đọc "Ngọn núi ảo ảnh" - bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường - NXB Thanh niên tháng 1-2000)

  • ĐỖ NGỌC YÊN Phế đô là một trong những cuốn tiểu thuyết đương đại của Trung Quốc,  do Tạp chí Tháng Mười xuất bản từ năm 1993. Ngay sau đó nó đã có số bản in đạt vào loại kỷ lục, trên 1. 000. 000 bản tiếng Trung Quốc.

  • VƯƠNG HỒNG HOAN

    "Trăng Thương Bạc" là tập thơ của 47 hội viên của câu lạc bộ Hương Ngự do Nhà xuất bản Thuận Hóa in kỷ niệm lần thứ 25 ngày giải phóng Huế.

  • NGUYỄN ĐĂNG MẠNHNguyễn Khải ở trong Nam, ít khi tôi được gặp. Tôi rất thích nói chuyện với anh. Đúng ra là tôi thích nghe anh nói.

  • PHẠM XUÂN HÙNG(Về cuốn Đọc văn - Tiểu luận - Phê bình của Phạm Phú Phong, NXB Thuận Hóa, 2008)

  • HÀ VĂN LƯỠNGChingiz Aitmatốp thuộc trong số các nhà văn lớn được độc giả nhiều nước trên thế giới biết đến. Tác phẩm của ông thể hiện những vấn đề đạo đức nhân sinh, nhân loại. Ngoài việc sử dụng các đặc điểm thời gian, không gian nghệ thuật, cấu trúc, giọng điệu tác phẩm... nhà văn còn đưa huyền thoại, truyền thuyết vào tác phẩm như là một thi pháp biểu hiện mang tính đặc trưng của ông.

  • TÔ NHUẬN VỸ(Nhân đọc một số bài tranh luận về cuốn THƠ ĐẾN TỪ ĐÂU)

  • NGUYỄN KHẮC PHÊBộ trường thiên tiểu thuyết “Sông Côn mùa lũ”(*) của nhà văn Nguyễn Mộng Giác, được bạn đọc chú ý trước hết vì bề dày 4 tập 2000 trang với nhân vật trung tâm là người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ; sau nữa, đây là tác phẩm văn học dày dặn nhất của một Việt kiều được xuất bản trong nước.

  • ĐỖ NGỌC YÊN…Thơ Hoàng Trần Cương là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những chất liệu, hình ảnh và ngôn ngữ của đời sống, với sự đào sâu những suy tư, khát vọng sống của con người và một vùng quê mà anh đã nặng nghĩa sinh thành...

  • THỦY THANHCơn đại hồng thủy đầu tháng 11 năm 1999 được coi như "bản tổng kết thủy tặc" đầy bi tráng của thiên nhiên trong thế kỷ 20 đối với mảnh đất Thừa Thiên Huế. Nó đã gây ra nỗi kinh hoàng, đau thương, mất mát to lớn và cũng để lại không ít những hệ lụy nặng nề cho con người ở nơi đây. Và cũng chính nó - cơn lũ chưa từng có này - đã đi vào lịch sử.

  • BẾ KIẾN QUỐCNăm ấy, vào quãng mùa hè 1982, khi đang trực Ban văn xuôi của báo Văn Nghệ, tôi nhận được một bản thảo truyện ngắn kèm theo lời nhắn: “ Cái truyện này rất quan trọng đối với tôi. Rất mong được tòa soạn đọc kỹ và cho ý kiến. Mấy hôm nữa tôi sẽ quay lại”.

  • THÁI DOÃN HIỂUNgô Văn Phú là thi sĩ của đồng quê. Anh có thể viết nhiều đề tài như xây dựng, chiến tranh, lịch sử, tình yêu..., nhưng như lá rụng về cội, ngược về nguồn, Ngô Văn Phú trở lại nơi làng quê yêu dấu với một tình yêu bẩm sinh, yêu đến tận cùng gốc rễ như Nêruđa đã viết.

  • MAI VĂN HOANTrong số bạn bè cùng lứa thì Ngô Minh bước vào làng thơ muộn màng hơn cả. Nếu Lâm Thị Mỹ Dạ được chú ý ngay khi còn ngồi trên nghế nhà trường, Hải Kỳ có thơ in trên báo Văn nghệ những năm 69,70 thì Ngô Minh vẫn chưa hề có ai hay biết.

  • HOÀNG VŨ THUẬTCó những bài thơ đọc lên và bắt gặp ngay cái đẹp trong từng câu chữ. Lại có những bài thơ đọc đi đọc lại thấy hay mà không dễ gì tìm thấy ngay được. Nó như vẻ đẹp của người con gái có duyên thằm. Cái đẹp thầm kín, ẩn náu.

  • HOÀNG VŨ THUẬTTrong một bài thơ viết trên giường bệnh, trước khi mất vài hôm Thanh Hải tâm sự:     Ta làm con chim hót     Ta làm một cành hoa                                   Ta nhập trong hòa ca                                   Một nốt trầm xao xuyến                                          (Mùa xuân nho nhỏ)

  • Tiểu thuyết "Vạn Xuân" (Dix mille Printemps) của nữ văn sĩ Pháp Yveline Féray viết về cuộc đời Nguyễn Trãi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn dày trên 1200 trang, do Nguyễn Khắc Dương và một số cộng tác viên dịch, do Nhà xuất bản Văn học in năm 1997 đã được độc giả Việt Nam đón nhận nồng nhiệt.