Cùng trong mạch cảm hứng đó, dưới triều các vua Nguyễn có không ít những trí thức đương thời đã thổn thức vì một ý xuân qua thơ của mình. Trong hàng loạt thông điệp "báo hiệu" tiết xuân, có thể lấy những bài thơ xuân khác trên Điện Thái Hoà - Đại Nội làm một "tín hiệu". Nhân dịp xuân về, người viết bài này muốn tản mạn đôi điều về bốn bài thơ xuân có chung một câu mở đầu ở Điện Thái Hoà.
Bốn bài thơ này đều được viết trên nền pháp lam kế tiếp nhau trên cổ diềm phía sau của điện. Đến bây giờ, chúng tôi vẫn chưa xác định ai là tác giả. Một số người đưa ra giả thuyết có thể đây là những bài thơ của các quan nhà Nguyễn, nhưng vẫn chưa có cơ sở vững chắc, điều ấy vẫn còn để ngỏ...
Đáng lưu tâm hơn cả là cùng với ý đồ trang trí ngoại thất của Điện Thái Hòa, các bài thơ này còn thể hiện được những giá trị tư tưởng mà thế hệ chúng ta cần ghi nhận. Mùa xuân trong các bài thơ ấy không đơn thuần gói gọn trong dăm câu tả cảnh mà qua đó, "tác giả" còn gửi gắm những tâm sự của mình về sự phồn vinh của đất nước:
"Hà xứ xuân sinh tảo
Xuân sinh vũ lộ nghi
Kỳ lâm phù chúng vọng
Khẩn trạch hiệp nông thì"
Tạm dịch(2):
Nơi nào xuân đến sớm
Đúng độ cơn mưa về
Cầu mưa làm thỏa nguyện
Mùa màng vui sơn khê.
Hay là:
“Hà xứ xuân sinh tảo
Xuân sinh chấn thì phong
Tam dương khai thái tịnh
Tứ hải lý tường đồng".
Tạm dịch:
Nơi nào xuân đến sớm
Gió đông xuân về nhanh
Vận thái bình xuân nở
Dân cùng vui điềm lành.
Từ thực tế này, rõ ràng ngay ở trong tư tưởng các vua quan nhà Nguyễn đều có tâm sự đối với sự nghiệp "kinh bang tế thế" muốn được "quốc thái, dân an".. Điều ấy chẳng có gì đáng ngờ cả. Bởi rằng, từ nếp nghĩ đến việc làm bao giờ cũng có khoảng cách nhất định. Thực ra, lịch sử đã chứng minh rằng, Triều Nguyễn chưa vượt khỏi khoảng cách đó, đây cũng là hạn chế tất yếu. Nhưng không vì vậy mà chúng ta thiếu đi sự khách quan trong khi lý giải hay đánh giá về một hiện tượng.
Như hai bài thơ trên, bài thơ sau vẫn là niềm mong mỏi tưởng chừng không nguôi ấy. Ý thức rất rõ về một nền nông nghiệp lúa nước, câu thơ còn thể hiện niềm mơ ước rất chính đáng:
"Hà xứ xuân sinh tảo
Xuân sinh thảo mộc tri
Phương viên tăng tú mậu
Thái dã trưởng sâm si”.
Tạm dịch:
Nơi nào xuân đến sớm
Nghe cây cỏ đâm chồi
Trong vườn thêm xanh tốt
Đồng ruộng trở mình tươi.
Niềm mong chờ tha thiết đáng được trân trọng ấy đã thể hiện qua những hình ảnh khá cụ thể. Đấy có lẽ như là một nhu cầu phơi trải, được nhà thơ diễn tả từ gián tiếp đến trực diện một cách ý vị. Hay xa hơn một tí, thiên nhiên được mở rộng trong những mảng màu xanh tươi, rực rỡ thể hiện một khung cảnh dạt dào sức sống:
"Hà xứ xuân sinh tảo
Xuân sinh thượng uyển tiên
Thiên đào hồng chước chước.
Nhu liễu lục miên miên"
Tạm dịch:
"Nơi nào xuân đến sớm
Thượng uyển xuân sớm hơn
Đào tiên hồng rực rỡ
Liễu rũ màu lam lam"
Bốn bài thơ như tạo thành một điệp khúc xuân vừa hoành tráng -vừa thơ mộng. Không gian rộng rãi cùng thời gian thoáng đạt, vận động chuyển tiếp như bao trùm lên tất cả mọi sự vật, hiện tượng một mùa xuân bất tận những sắc màu, lan tỏa mọi nẻo là một sắc xanh đậm đà tình người.
Đọc lại bốn bài thơ, buộc lòng chúng ta phải ngẫm nghĩ. Như ai đó từng nói: "Mơ ước cơ đồ được vẹn tròn muôn thuở, đó là lẽ tất yếu của một triều đại..." quả là không ngoa.
Thời gian lặng lẽ đi qua, mùa xuân lại đến giữa đất trời, đến với hôm nay để chiêm ngẫm những gì của hôm qua những cái mà chính thời gian không thể nào khỏa lấp. Ai mà biết được: Hà xứ xuân sinh tảo?
Đại Nội, trước thềm xuân 94
P.H
(TCSH60/02-1994)
--------------------
(1) Nơi nào xuân đến sớm (câu mở đầu chung cho bốn bài thơ ở Điện Thái Hoà).
(2) Dịch thơ từ bản dịch nghĩa của Nguyễn Tân Phong.
Tải mã QRCode
(Ý kiến của Nguyễn Văn Bổng, Xuân Cang, Nguyễn Kiên, Hà Minh Đức, Hoàng Ngọc Hiến)
Sách chuyên khảo “Sự ra đời của đế chế Nguyễn” của A.Riabinin tiến sĩ sử học Xô Viết nghiên cứu lịch sử xã hội - chính trị của Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX.
LÊ MINH PHONG
(Nhân đọc: Rừng khô, suối cạn, biển độc… và văn chương của Nguyễn Thị Tịnh Thy, Nxb. Khoa học xã hội, 2017).
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Trong sách “Nhìn lại lịch sử”, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003, tác giả Phan Duy Kha viết bài “Một bài thơ liên quan đến lăng mộ vua Quang Trung”.
BÙI KIM CHI
“Tháng Tám năm Ất Dậu (1945)… Là công dân Việt Nam nên tôi đã tham gia phong trào chống xâm lăng…”. (Truyện ngắn Mũi Tổ).
TRƯƠNG THỊ TƯỜNG THI
Thuật ngữ triết luận gắn với tính trí tuệ hay tính triết lý trong văn học nói chung và trong thơ ca nói riêng xuất hiện từ rất sớm.
NGUYỄN THẾ QUANG
Nói đến nhà văn Nguyễn Khắc Phê thì không gì bằng đọc cuốn tự tuyện của anh. Số phận không định trước(*) đưa ta đi suốt cuộc hành trình sáng tạo nghệ thuật bền bỉ quyết liệt suốt năm chục năm qua của anh.
NGUYỄN HỮU SƠN
Thiền sư Vạn Hạnh (?-1018) gốc họ Nguyễn, người hương Cổ Pháp (nay thuộc phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), thuộc thế hệ thứ mười hai dòng Thiền Nam phương Tì Ni Đa Lưu Chi.
NGUYÊN QUÂN
Một cảm nhận thật mơ hồ khi cầm trên tay tập sách, vừa tản văn vừa tiểu luận của nhà văn Triệu Từ Truyền gởi tặng. Sự mơ hồ từ một cái tựa rất mơ hồ bởi lẽ chữ là một thực thể hữu hiện và chiếc cầu tâm linh chính lại là một ảo ảnh rất dị biệt với thực thể hữu hạn của những con chữ.
TUỆ AN
Đọc “Ảo giác mù”, tập truyện ngắn của Tru Sa (Nxb. Hội Nhà văn, 2016)
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Ngô Thì Nhậm viết bài thơ Cảm hoài cách đây 223 năm, nhân đi sứ báo tang Tiên hoàng Quang Trung băng hà và cầu phong An Nam quốc vương cho vua Cảnh Thịnh.
NGUYỄN THỊ THANH LƯU
Đã từ rất lâu rồi, tôi hài lòng với việc đọc thơ trong màu xám của một nỗi tuyệt vọng - nỗi tuyệt vọng không bao giờ phân tách nổi trắng đen giữa đám sương mù xám đặc dường như chỉ có dấu hiệu đậm dần lên trong những lớp lang chữ nghĩa, trong cách ngắt nhịp, buông vần.
MAI VĂN HOAN
Lẽ ra tôi không viết bài này. Thiết nghĩ văn chương thiên biến, vạn hóa, mỗi người hiểu một cách là chuyện bình thường. Tốt nhất là nên tôn trọng cách nghĩ, cách cảm thụ của người khác.
TRIỀU NGUYÊN
1. Đặt vấn đề
Nói lái được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp thông thường, và trong văn chương (một lối giao tiếp đặc biệt). Để tiện nắm bắt vấn đề, cũng cần trình bày ở đây hai nội dung, là các hình thức nói lái ở tiếng Việt, và việc sử dụng chúng trong văn chương.
NGUYỄN KHẮC PHÊ
(Đọc tiểu thuyết “Huế ngày ấy” của Lê Khánh Căn, Nxb. Quân đội nhân dân, 2006).
HỒ ĐĂNG THANH NGỌC
(Đọc “Song Tử” của Như Quỳnh de Prelle)
VŨ TRỌNG QUANG
Trần Thiên Thị viết tắt TTT hay đọc là 3 Tê, tôi liên tưởng đến những T thơ ca:
GIÁNG VÂN
Tôi gọi chị là “ Người truyền lửa”.
LGT: Trong khi giở lại tài liệu cũ, tình cờ chuỗi thơ xuân năm Ất Dậu 2005 của Thầy Trần Văn Khê xướng họa với chị Tôn Nữ Hỷ Khương và anh Đỗ Hồng Ngọc rơi vào mắt.
Là một nhà văn có sự nghiệp cầm bút truân chuyên và rực rỡ, sau cuốn tiểu thuyết “Chuyện ngõ nghèo”, có thể coi như cuốn tự truyện của nhà văn, Nguyễn Xuân Khánh chủ trương gác bút. Bởi ông biết mỗi người đều có giới hạn của mình, đến lúc thấy “mòn”, thấy “cùn” thì cũng là lúc nên nghỉ ngơi.