"Cho đến khi tôi bị ngất xỉu, tôi mới biết mình đã làm việc quá nhiều. Nhà tôi đã đóng cửa phòng mạch hai tuần sau đó, không cho tôi làm nữa vì sợ tôi kiệt sức", giáo sư Bùi Minh Đức chia sẻ.
Giáo sư Bùi Minh Đức chụp ảnh cùng vợ - bà Trần Thị Duy Thái
Thưa ông, với ý tưởng đưa những Giáo sư hàng đầu về Tai-Mũi-Họng của Mỹ về Việt Nam, ông đã thực hiện được bao nhiêu lần ạ?
Từ 1993 đến nay, tôi đã đưa các Giáo sư Mỹ về Việt Nam rất nhiều lần, mỗi năm 1-2 chuyến. Tôi ở Oten mà tôi di chuyển nhiều đến nỗi phải mua hẳn một căn nhà ở Sài Gòn để khi về có chỗ để ở. Tôi mua nhà từ năm 1997 hay 1998 gì đó, tôi dời về từ năm 2013 là vì bấy giờ tôi 80 tuổi rồi, tôi phải sang bên Mỹ để lỡ đau ốm thì còn có bác sỹ, phương tiện mà chữa chạy.
Mỗi năm, tôi dẫn tối thiểu 1 đoàn về Việt Nam. Tuy nhiên từ năm 1997, ngoài ngành T-M-H ra thì tôi còn lo thêm cả về thẩm mỹ, giải phẫu ở mặt cho bệnh nhân Việt Nam.
Với tôi, thẩm mỹ không có nghĩa là chỉ làm cho đẹp, mà thẩm mỹ là làm sao để không xấu. Đối với những người bị bỏng, những người bị thương ở mặt mà có những cái sẹo xấu hoặc tạo dáng không hợp với con mắt của người ngoài, tôi muốn làm cho họ thoát khỏi sự mặc cảm, muốn vậy thì phải sửa mặt họ, mà muốn sửa mặt họ thì phải có kỹ thuật. Ở mặt thì cái gì tốt, xấu đều biết ngay lập tức. Vì vậy, mỗi năm tôi đưa một đoàn về dạy thẩm mỹ thêm cho họ. Mỗi đoàn thẩm mỹ tôi giao cho một bác sỹ, giáo sư ở Mỹ rồi ông ấy tự kiếm thêm người cho đủ 5-7 người cho một đoàn.
Kiêm nhiệm nhiều công việc như vậy, có khi nào ông bị “quá tải” không, thưa ông?
Nhiều khi có 2 đoàn chuyên T-M-H và chuyên thẩm mỹ cùng về, thành ra công việc rất nhiều. Vì vậy, tôi phải bỏ phòng mạch bên kia để về với họ, nên công việc của tôi ở phòng mạch phần nào đó bị ngưng trệ.

Giáo sư Bùi Minh Đức và tác phẩm của mình
Cho đến khi tôi bị ngất xỉu, tôi mới biết mình đã làm việc quá nhiều. Bởi vì ngoài khám bệnh kiếm tiền ra tôi lại còn phải nghiên cứu y khoa để viết bài trình bày, đi dự hội nghị, rồi tôi còn phải liên lạc với các đồng nghiệp trong nước, các giáo sư để phối hợp để đưa về Việt Nam, rồi lại cùng về Việt Nam với họ.
Chưa kể cùng lúc tôi còn phải làm quyển sách Từ điển tiếng Huế của tôi nữa, thành ra 4-5 chuyến cùng một lần khiến tôi kiệt sức.
Nhà tôi đã đóng cửa phòng mạch hai tuần sau đó, không cho tôi làm nữa vì sợ tôi kiệt sức. Từ đó, tôi rảnh hơn. Rảnh hơn thì tôi lại viết sách nhiều hơn và lo về vấn đề đưa giáo sư về nhiều hơn.
Nhưng sau đó tôi đã luyện cho một vài bác sỹ ở bên kia có thể tự động thay thế tôi được. Tôi chỉ cho họ cách mời giáo sư, và xây dựng chương trình theo cách mà họ cần, sau đó dần dần họ thay thế tôi được. Chính vì thế bây giờ tôi về khỏe lắm, mỗi lần về chỉ có về chơi chứ không cần làm gì hết.
Thưa bác sỹ, sau chừng ấy năm cống hiến cho nền y khoa, cho ngành T-M-H, và đóng góp cho nền T-M-H ở VN, bây giờ về hưu, một ngày của Giáo sư bắt đầu như thế nào?
Cũng tùy ở Việt Nam hay ở bên kia. Dầu sao đi nữa, sức khỏe tôi bây giờ cũng đã khá hơn. Lúc trước tôi bị xỉu, tôi chụp phim thì phát hiện ra mình có rất nhiều vấn đề về sức khỏe, trước hết là bệnh tiểu đường, nhưng do tôi chấp hành lời dặn của bác sỹ nên sức khỏe có khá hơn, trọng lượng cũng lên.
Tôi bị ung thư máu nhưng mới ở hình thức nhẹ chứ không đến nỗi nguy hiểm nhiều. Cái tin đó đúng là một tin sét đánh nên nhà tôi đã phải đóng cửa phòng mạch ngay lập tức, để lo cho sức khỏe của tôi.

Về hưu, giáo sư Bùi Minh Đức dành nhiều thời gian hơn cho gia đình
Về công việc hàng ngày ở bên kia thì sáng dậy tôi cũng có thời gian đọc báo, rồi ăn sáng với vợ, mình sẽ có nhiều thì giờ dành cho vợ, con hơn. Tôi còn có nhiều cháu, dành thời gian vui vẻ với các cháu, ngoài ra tôi còn viết sách. Từ khi nghỉ hưu, tôi viết được nhiều sách hơn về văn hóa Việt Nam, văn hóa Huế. Bây giờ nhiều người trong giới học thuật biết nhiều văn hóa hơn là bác sỹ, thành ra nhiều khi họ giới thiệu tôi là một nhà nghiên cứu Huế thì cũng thấy vui.
Sách tôi có ra được tối thiểu 5,6 quyển rồi. Như quyển từ điển Huế thì đến quyển thứ 3 là 2000 trang, nặng tới 4,5 kg. Rồi tôi viết về văn hóa ẩm thực Huế, tôi viết về lịch sử nhìn lại dưới góc độ y khoa, để tôi giải thích những sự kiện, những nhân vật trong lịch sử Việt Nam.
Chẳng hạn như Nguyễn Huệ. Tôi giải thích vì sao Nguyễn Huệ chết sớm ở tuổi 40. Tôi đã chứng minh đó là do ông ấy bị vỡ mạch máu ở trên đầu. Rồi một nhân vật khác là ông Lê Long Đĩnh, ông đau bệnh gì mà ông phải ngọa triều? Những cái như vậy cũng vui lắm.
Rồi ông Nguyễn Văn Tường tại sao không đi theo vua để mang tiếng theo Khâm sứ Pháp, nhưng thực ra lúc đó không ai biết hết. Ông chết đúng 1 năm sau là vì ung thư, mà lúc binh biến ở kinh đô là ông đã bị nặng lắm rồi. Lúc đó ung thư ở cổ đã che mất thanh quản rồi mà không ai biết hết. Ông biết sức ông yếu ông đi không nổi, thành ra ông phải ở lại.
Nhưng ông ở lại, một phần lớn cũng là vì chỉ dụ của Từ Dụ Thái hậu bảo ông ở lại thu xếp, bởi vì bà không chấp nhận được trong một đêm mà vương triều nhà Nguyễn bị mất, nên bà cố gắng cứu vãn, và nhờ ông ở lại để cố gắng thu xếp. Ông đã làm được và đưa bà về, rồi vua Hàm Nghi đi thì ông đưa người khác lên. Đó là vua Đồng Khánh. Vị vua này vẫn tiếp nối được nhà Nguyễn tới vài chục năm sau. Ngoài ra còn nhiều vấn đề lắm.
Theo giadinhonline.vn
Tải mã QRCode
ĐỖ AN TIÊMLần đầu tiên tôi biết Vân Khanh qua tiết mục Tiếng Thơ của Đài T.N.V.N. Chất giọng mượt mà, trữ tình của Vân Khanh đã làm tôi xúc động, mặc dù bài thơ hôm đó anh ngâm tôi đã thuộc và nghe diễn ngâm nhiều lần từ thuở niên thiếu. Tôi ngờ ngợ đây là một tài năng. Song, cái tính xấu cố hữu hay nghi ngờ đã ngăn tôi lại. “Biết đâu đấy. Có khi chỉ là một mảnh sao băng”. Và tôi hình dung Vân Khanh còn trẻ, quá trẻ nữa. Một Vân Khanh rất “nghệ sĩ” theo cái nghĩa nhiều người hiểu chưa đúng về nghệ sĩ.
NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNTôi vừa làm một cuộc du lịch đầy thú vị. Ấy là cuộc du lịch lướt nhanh ngược dòng Sông Hương, về tận ngọn nguồn. Tôi gặp lại biết bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, bao nhiêu khuôn mặt thân yêu, thân quen, và cả những điều kỳ thú, mới lạ. Hai mươi năm, những khuôn mặt nào đã soi xuống dòng sông, những kỷ niệm nào còn đọng mãi trong ta...?
LÊ KHÁNH MAI (Nhà thơ - Tổng Biên tập tạp chí Nha Trang)Đến từ Nha Trang - Khánh Hoà, vùng đất cực Nam Trung Bộ, tôi không có mong muốn gì hơn là được chúc mừng Sông Hương tròn 20 tuổi, được học tập những kinh nghiệm và thành công của một tờ tạp chí văn nghệ địa phương đã từ lâu đứng ở vị trí đàn anh ở miền Trung và cả nước.
BẢO HÂNTại Festival Huế 2008, bên cạnh hàng chục cuộc triển lãm, trưng bày diễn ra trên khắp các đường phố, nhà triển lãm với nhiều loại hình nghệ thuật đa dạng; một phòng tranh nhỏ nhắn, ý nhị nằm trong con kiệt nhỏ đường Lê Thánh Tôn của Nội thành Huế. “Về lại” tên của phòng tranh, là tình cảm của những người Huế xa quê góp tiếng lòng của mình bằng những gam màu hoài hương.
VÕ QUANG YẾNBùi ngùi nhớ mẹ thuở xưa,Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương. Ca dao
Nhà văn Trần Hữu Lục, - Sinh tại Huế. Thành viên nòng cốt của nhóm Việt. Chủ bút báo Sinh viên Huế (1968). Phụ trách văn nghệ trên Nguyệt san Đối diện (từ 1972 đến 1975). Viết văn trên các báo và tạp chí: Việt, Đất Nước, Ý Thức, Sinh Viên Huế, Đối Diện…
Tạp chí Sông Hương đang đứng trước ngưỡng cửa của tuổi 20 trai tráng và đầy ắp hoài bão. Sông Hương đã vượt ra khỏi phạm vi của một tờ báo văn nghệ tỉnh để trở thành một địa chỉ gửi gắm những tin yêu và tín nhiệm của bạn đọc gần xa trong cả nước và cả ở nước ngoài về món ăn tinh thần văn học. Không hẹn mà gặp, các cộng tác viên và bạn đọc Sông Hương ở Hà Nội và các tỉnh đã tâm tình rất thật tình và thật lòng để khích lệ và nhắn nhủ Sông Hương.
Dường như có dòng sông Hương vẫn chảy âm thầm ở bên ngoài Tổ quốc. Đấy là khi tôi đọc được những trang viết đầy ắp phong vị, nồng ấm hương đất quê nhà của những người Huế đang định cư ở nước ngoài. Họ đã tìm thấy tín hiệu giao cảm với xứ Huế thông qua “chiếc cầu nối” của Tủ sách Nhớ Huế.
Vậy là hôm nay Huế - một thành phố cố đô ở miền Trung đã làm một việc đầy ý nghĩa và đẹp đẽ đặt tên đường cho các danh nhân văn hóa : Lưu Trọng Lư, Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Thanh Tịnh, Hải Triều... trong đó có Nguyễn Tuân nhà văn lớn cho các phố phường và các làng thôn được đô thị hóa sau thời kỳ mở cửa của đất nước.