NHỤY NGUYÊN
Con người khá trầm tĩnh Lê Huỳnh Lâm không thuộc típ quan hệ rộng. Những ai đến với anh và anh tìm đến (dẫu chỉ thông qua tác phẩm) rồi in đậm dấu ấn phần nhiều lớn tuổi; là một sự thận trọng nhất định.
12 khuôn mặt văn nghệ Huế trong cuốn sách mới của anh, có thể xem là cuộc hội ngộ tình cờ song đều là những người có đóng góp xứng đáng cho nền văn nghệ Cố đô, xứng đáng để mọi người ngưỡng vọng.
12 gương mặt, họ là nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ, điêu khắc, nữ tu sĩ, danh cầm, dịch giả. Từ những người thiên hướng mình như họa sĩ Nguyễn Văn Tuyên hay nghệ sĩ Trần Văn Phú - “được mệnh danh là đệ nhất danh cầm guitar từ đầu thập niên 1970 cho đến cuối thập niên 1980, một trong những người có công truyền bá flamenco hàng đầu ở Việt Nam”, cho đến những nhân vật vang danh thế giới đơn cử như Điềm Phùng Thị, đều mang cái chất thâm trầm hướng nội, khám phá bề mặt cảm xúc tận sâu kiếp người.
Thầy Bửu Ý, “người mở cách cửa văn chương” thầm lặng qua rất nhiều tác phẩm dịch. Không đứng ở hiện tại, Lê Huỳnh Lâm hướng về người thầy bằng những ký ức hồn nhiên trong khiết. “Nụ cười hiền trên gương mặt thầy cùng với ánh mắt như trở về một thời xa vắng”. Cạnh đó là nữ tu sĩ, nhà văn, dịch giả Phùng Khánh (cố Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải), người “khơi dậy tâm từ trong con người, khai mở con đường tìm kiếm chân lý” thông qua những tác văn học và triết học dịch có sức lay động và thức tỉnh toàn nhân loại. Theo cách nhìn nhận của tác giả, con người này chính là từ trong hoàn cảnh vật chất dư thừa đã khước từ tục lụy rẽ về miền thanh cao theo tinh thần phụng sự để rồi bước vào cảnh giới của đạo một cách trọn vẹn.
Đó là điêu khắc gia Điềm Phùng Thị. Cuộc sáng tạo những mẫu tự của bà nom như ước lệ nhưng mở ra biên độ khôn cùng. Những mẫu tự đưa bà trở thành một trong những nghệ sĩ sáng tạo hàng đầu thế giới, khiến giới hàn lâm nghệ thuật sững sờ. Những mẫu tự tiếp tục đời sống riêng của nó, tạo nên vô số tác phẩm vượt khỏi vòng tay của tác giả. Những mẫu tự luôn có sự cọ xát sinh động, tạo nên mật âm vọng về phía hoang vu cõi nhân sinh. Đây chính là cuộc hóa thân rực rỡ từ những thứ tầm thường như đất đá.
Đó là “người đãng trí” Ngô Kha với những dòng thơ “lửng lơ ở khoảng u huyền của khói sương giữa thực và mộng, được tựu thành bởi sự dắt dẫn của thần linh, những con chữ, hình ảnh được hà hơi của thượng đế và máu trộn lẫn nỗi đau của thi sĩ”.
Đó là họa sĩ Bửu Chỉ, người “bày tỏ thái độ sống dứt khoát với những điều ngụy trá, trở về với niềm đam mê rực cháy, trở lại với định mệnh của trời đất, về bên khu vườn của giấc mơ để làm nên điều kỳ diệu của một nghệ sĩ”. Lê Huỳnh Lâm chỉ ra những nét tinh hoa trong sự nghiệp của Bửu Chỉ, bằng tài năng nhồi luyện sắc màu diễn tả khát vọng hòa bình; anh còn nhìn ra sự phối kết âm dương trong bố cục tranh Bửu Chỉ, cũng là sự hòa quyện giữa hai nền văn hóa Đông Tây. Và sau nốt, thân phận con người nhỏ bé giữa bao la, sự ngắn ngủi của con người so với chiều thời gian bất tận vẫn là nỗi ám ảnh, chi phối đến sự cô đơn trong tranh và chính đó lại “chuyển giao” sự ám ảnh đến người xem như một sự khúc xạ nhiệm màu.
Những danh xưng nêu lên, đôi khi tưởng như một phản ứng dây chuyền. Nói về dịch giả Bửu Ý, không thể không nhắc đến Trịnh Công Sơn - người bạn rất thân với ông. Rồi “một trong những bậc thầy về sơn dầu của thế hệ trước còn lại”, họa sĩ Đinh Cường lại là một người bạn của Trịnh với biết bao kỷ niệm trong “khu vườn lộng lẫy của những cung bậc ký ức”. Nhiều nhân vật trong cuốn sách luôn có sự tương tác qua lại làm cảm hứng cho nhau. Chẳng hạn một Trịnh Công Sơn sáng lên nơi Cổ thành của Hoàng Đăng Nhuận; họa sĩ Bửu Chỉ thì vẽ chân dung Hoàng Đăng Nhuận, Trịnh Công Sơn; Đinh Cường vẽ rất nhiều về Trịnh, cạnh đó là chân dung Lê Văn Ngăn, Trần Vàng Sao và Ngô Kha, đôi lúc xem qua tưởng như nét cọ xuất thần vụt hiện hình hài; cái chết bí ẩn của Ngô Kha tạo nên rung cảm mạnh mẽ để Bửu Chỉ vẽ bức tranh đầy nhân văn và đau đớn. Hai tài danh Đinh Cường và Bửu Chỉ, Lê Huỳnh Lâm nhìn ra những khác biệt tinh tế về sự thể hiện cái đẹp. Họa sĩ Đinh Cường sinh sống bên trời Tây, thiếu nữ trong tranh ông luôn “hướng về một cõi chờ mong với màu xanh làm chủ đạo đã gợi lên một không gian của nỗi nhớ”, tiêu biểu là những dáng hình mong manh lụa là ẩn kín mà chỉ nhìn qua cũng gợi đến một Cố đô trầm mặc u hoài. Còn họa sĩ Bửu Chỉ đắm mình ở Huế lại dùng gam màu nóng thể hiện ý hướng bản năng ẩn sau “vẻ ngây thơ của sự thần bí”, “gợi lên một nỗi sầu muộn của niềm khát khao về thế giới bên ngoài...”.
Lê Huỳnh Lâm nhận ra “chất hoang dã” (với gam màu xám) trong tranh Hoàng Đăng Nhuận, kể cả loạt tranh ông vẽ phố bằng màu tro lạnh, nhằm “hướng người xem đến một không gian khác của cuộc sống, nơi đó có thể là một giấc mộng, một cơn hoang tưởng”. Chính điều này “khiến tranh Nhuận có sức sống lạ thường, không ngả nghiêng, ảo diệu như Phố Phái”. Anh nhận ra chất thủy mặc trong tranh Nguyễn Văn Tuyên. Những ngón tay (chứ không phải nét cọ) của người họa sĩ sống nép mình sau lớp lớp sương mù của dòng Hương này đã làm “loang chảy và tan rữa rất tự nhiên qua các phổ màu”, “dẫn dắt người xem vào thế giới của những cảm xúc nguyên sơ”.
Tác giả còn nhận ra nỗi giằng xé của [hai] con người Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Đính); một điểm nhìn nhạy cảm song hết sức thú vị và đầy thuyết phục: “Nguyễn Đính đã không thể nhập vai vào Trần Vàng Sao, ông bỏ thành phố lên núi rừng để làm cách mạng, nhưng định mệnh xô đẩy ông rơi vào hoàn cảnh nghiệt ngã, để nhân vật Trần Vàng Sao có cơ may chiêm ngắm những gì mà Nguyễn Đính đã nếm trải. Cũng chính cái chất thi sĩ Trần Vàng Sao lớn quá nên đã dẫn dắt cái thân xác Nguyễn Đính đi theo quỷ đạo mà Trần Vàng Sao đã linh cảm”.
Ở một góc nhìn khác. Khi Lê Huỳnh Lâm chép lại chân lý “tôn giáo đích thực không bao giờ đồng hành với cái ác mà luôn hướng thiện và góp phần cho xã hội tốt đẹp hơn”, thì trong những tác phẩm tranh của Trần Vàng Sao vẽ Đạt Ma tổ sư, Đinh Cường vẽ chân dung hành giả Niệm A Di Đà Phật, lời kinh trong nhạc Trịnh trở nên lấp lánh và thuần khiết hơn bao giờ hết.
Ấn tượng nhất hẳn là ngay ở tiêu đề mỗi bài viết, Lê Huỳnh Lâm đã đưa ra một định đề khái quát khó xê dịch, khó thể cô đọng hơn về cuộc đời và sự nghiệp của họ: Dùng “màu sắc để diễn đạt cảm nghiệm sâu xa của mình về thời gian và thân phận con người”, Họa sĩ Bửu Chỉ - triết gia của màu sắc; Điềm Phùng Thị - Cuộc hóa thân của đất đá; Nguyễn Văn Tuyên “người vẽ phong cảnh trên những ngón tay buồn”; “Bóng tối đổ xuống như bình mực tràn trên trang vở, giữa màu đen chỉ còn nhịp thở của người ngồi nghe tiếng chó sủa” - đó là Trần Vàng Sao - Người viết nhật ký bằng thơ; Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - Tiếng nhạc như lời kinh, “thức dậy lòng nhân ái trong mỗi con người và chuyên chở một ước vọng cao quý”; Lê Văn Ngăn - Thi ca như một tín điều. Xem thơ ca là tín điều, Lê Văn Ngăn chính là tín đồ, thầm lặng sống, thầm lặng kể về những “nỗi đau trong cuộc sống này”. “Nhạc tính trong thơ ông tự nhiên như hơi thở, như dòng sông đang trôi, như ngọn gió chiều bên hiên nhà và thanh thoát như tiếng hót của loài Dạ Oanh, một biểu tượng của thi ca thuần khiết, luôn canh chừng và thức tỉnh giấc mê của đồng loại”.
Đồng cảm với tác giả tập sách 12 khuôn mặt văn nghệ Huế, hẳn người đọc sẽ dễ bỏ qua những khiếm khuyết trong dòng cảm xúc dâng tràn của Lê Huỳnh Lâm về những đối tượng mà riêng anh quá ngưỡng vọng.
N.N
(SDB19/12-15)
Tải mã QRCode
VÕ QUANG YẾN Tôi yêu tiếng nước tôi Từ khi mới ra đời làm người Phạm Duy
PHẠM NGUYÊN TƯỜNGKhao khát, đinh ninh một vẻ đẹp trường tồn giữa "cuộc sống có nhiều hư ảo", Vú Đá, phải chăng đó chính là điều mà kẻ lãng du trắng tóc Nhất Lâm muốn gửi gắm qua tập thơ mới nhất của mình? Bài thơ nhỏ, nằm nép ở bìa sau, tưởng chỉ đùa chơi nhưng thực sự mang một thông điệp sâu xa: bất kỳ một khoảnh khắc tuyệt cảm nào của đời sống cũng có thể tan biến nếu mỗi người trong chúng ta không kịp nắm bắt và gìn giữ, để rồi "mai sau mang tiếng dại khờ", không biết sống. Cũng chính từ nhận thức đó, Nhất Lâm luôn là một người đi nhiều, viết nhiều và cảm nghiệm liên tục qua từng vùng đất, từng trang viết. Câu chữ của ông, vì thế, bao giờ cũng là những chuyển động nhiệt thành nhất của đời sống và của chính bản thân ông.
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNHTôi nghe rằng,Rạch ròi, đa biện, phân minh, khúc chiết... là ngôn ngữ khôn ngoan của lý trí nhị nguyên.Chan hoà, đa tình, niềm nỗi... là ngôn ngữ ướt át của trái tim mẫn cảm.Cô liêu, thuỷ mặc, bàng bạc mù sương, lấp ló trăng sao... là ngôn ngữ của non xanh tiểu ẩn.Quán trọ, chân cầu, khách trạm, phong trần lịch trải... là ngôn ngữ của lãng tử giang hồ.Điềm đạm, nhân văn, trung chính... là ngôn ngữ của đạo gia, hiền sĩ.
MAI VĂN HOANTập I hồi ký “Âm vang thời chưa xa” của nhà thơ Xuân Hoàng ra mắt bạn đọc vào năm 1995. Đã bao năm trôi qua “Âm vang thời chưa xa” vẫn còn âm vang trong tâm hồn tôi. Với tôi, anh Xuân Hoàng là người bạn vong niên. Tôi là một trong những người được anh trao đổi, trò chuyện, đọc cho nghe những chương anh tâm đắc khi anh đang viết tập hồi ký để đời này.
NGUYỄN KHẮC PHÊ giới thiệuNhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà phê bình Hoài Thanh (1909-2009)Chúng ta từng biết cố đô “Huế Đẹp và Thơ” một thời là nơi hội tụ các văn nhân, trong đó có những tên tuổi kiệt xuất của làng “Thơ Mới” Việt Nam như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên…; nhưng nhà phê bình Hoài Thanh lại đến với Huế trong một hoàn cảnh đặc biệt và có thể nói là rất tình cờ.
LÊ TRỌNG SÂM giới thiệuBà sinh ra và lớn lên ở Painpol và Saint-Malo, một đô thị cổ vùng Bretagne, miền đông bắc nước Pháp. Học trung cấp và tốt nghiệp cử nhân văn chương ở thành phố Nice, vùng xanh da trời miền nam nước Pháp. Là hội viên Hội nhà văn Pháp từ năm 1982, nay bà đã trở thành một trong số ít nhà văn Châu Âu đã tiếp thu và thâm nhập sâu sắc vào rất nhiều khía cạnh của văn hoá Việt Nam.
MAI VĂN HOAN giới thiệu Vĩnh Nguyên tên thật là Nguyễn Quang Vinh. Anh sinh năm 1942 (tuổi Nhâm Ngọ) ở Vĩnh Tuy, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Bố anh từng tu nghiệp ở Huế, ông vừa làm thầy trụ trì ở chùa vừa bốc thuốc chữa bệnh cho người nghèo. Thuở thiếu thời anh đã ảnh hưởng cái tính ngay thẳng và trung thực của ông cụ. Anh lại cầm tinh con ngựa nên suốt đời rong ruổi và “thẳng như ruột ngựa”.
LGT: Vài năm lại đây, sau độ lùi thời gian hơn 30 năm, giới nghiên cứu văn học cả nước đang xem xét, nhận thức, và đánh giá lại nền “Văn học miền Nam” (1954 - 1975) dưới chế độ cũ, như một bộ phận khăng khít của văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX với các mặt hạn chế và thành tựu của nó về nghệ thuật và tính nhân bản. Văn học của một giai đoạn, một thời kỳ nếu có giá trị thẩm mỹ nhân văn nhất định sẽ tồn tại lâu hơn bối cảnh xã hội và thời đại mà nó phản ánh, gắn bó, sản sinh. Trên tinh thần đó, chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết vừa có tính chất hồi ức, vừa có tính chất nghiên cứu, một dạng của thể loại bút ký, hoặc tản văn về văn học của tác giả Nguyễn Đức Tùng, được gửi về từ Canada. Bài viết dưới đây đậm chất chủ quan trong cảm nghiệm văn chương; nó phô bày cảm nghĩ, trải nghiệm, hồi ức của người viết, nhưng chính những điều đó làm nên sự thu hút của các trang viết và cả một quá khứ văn học như sống động dưới sự thể hiện của chính người trong cuộc. Những nhận định, liên hệ, so sánh, đánh giá trong bài viết này phản ánh lăng kính rất riêng của tác giả, dưới một góc nhìn tinh tế, cởi mở, mang tính đối thoại của anh. Đăng tải bài viết này chúng tôi mong muốn góp phần đa dạng hóa, đa chiều hóa các cách tiếp cận về văn học miền Nam. Rất mong nhận được các ý kiến phản hồi của bạn đọc. TCSH
MAI VĂN HOAN giới thiệuNăm 55 tuổi, Hồng Nhu từng nhiều đêm trăn trở, băn khoăn lựa chọn việc trở về quê hay ở lại thành phố Vinh - nơi anh gắn bó trọn hai mươi lăm năm với bao kỷ niệm vui buồn. Và cuối cùng anh đã quyết tâm trở về dù đã lường hết mọi khó khăn đang chờ phía trước. Nếu không có cái quyết định táo bạo đó, anh vẫn là nhà văn của những thiên truyện ngắn Thuyền đi trong mưa ngâu, Gió thổi chéo mặt hồ... từng được nhiều người mến mộ nhưng có lẽ sẽ không có một nhà văn đầm phá, một nhà thơ “ngẫu hứng” như bây giờ.
LÊ HỒNG SÂMTìm trong nỗi nhớ là câu chuyện của một thiếu phụ ba mươi tám tuổi, nhìn lại hai mươi năm đời mình, bắt đầu từ một ngày hè những năm tám mươi thế kỷ trước, rời sân bay Nội Bài để sang Matxcơva du học, cho đến một chiều đông đầu thế kỷ này, cũng tại sân bay ấy, sau mấy tuần về thăm quê hương, cô cùng các con trở lại Pháp, nơi gia đình nhỏ của mình định cư.
NGUYỄN KHẮC PHÊ (Đọc “Cạn chén tình” - Tuyển tập truyện ngắn Mường Mán, NXB Trẻ, 2003)Với gần 40 năm cầm bút, với hơn hai chục tác phẩm văn xuôi, thơ và kịch bản phim, nhà văn Mường Mán là một tên tuổi đã quen thuộc với bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ. Có lẽ vì ấn tượng của một loạt truyện dài mà ngay từ tên sách (Lá tương tư, Một chút mưa thơm, Bâng khuâng như bướm, Tuần trăng mê hoặc, Khóc nữa đi sớm mai v...v...) khiến nhiều người gọi ông là nhà văn của tuổi học trò, trên trang sách của ông chỉ là những “Mùa thu tóc rối, Chiều vàng hoa cúc...”.
NGUYỄN VĂN HOATranh luận Văn Nghệ thế kỷ 20, do Nhà xuất bản lao động ấn hành. Nó có 2 tập: tập 1 có 1045 trang và tập 2 có 1195 trang, tổng cộng 2 tập có 2240 trang khổ 14,4 x 20,5cm. bìa cứng, bìa trang trí bằng tên các tờ báo, tạp chí có tư liệu tuyển trong bộ sách này.
VĨNH CAO - PHAN THANH HẢIVườn Thiệu Phương là một trong những Ngự uyển tiêu biểu của thời Nguyễn, từng được vua Thiệu Trị xếp là thắng cảnh thứ 2 trong 20 cảnh của đất Thần Kinh. Nhưng do những nguyên nhân lịch sử, khu vườn này đã bị triệt giải từ đầu thời vua Ðồng Khánh (1886-1889) và để trong tình trạng hoang phế mãi đến ngày nay. Trong những nỗ lực nhằm khắc phục các "không gian trắng" tại Tử Cấm Thành và phục hồi các khu vườn ngự của thời Nguyễn, từ giữa năm 2002, Trung tâm BTDTCÐ Huế đã phối hợp với Hội Nghệ thuật mới (Pháp) tổ chức một Hội thảo khoa học để bàn luận và tìm ra phương hướng cho việc xây dựng dự án phục hồi khu vườn này.
HỒNG DIỆUNhà thơ Cao Bá Quát (1809-1854) được người đời hơn một thế kỷ nay nể trọng, với cả hai tư cách: con người và văn chương. "Thần Siêu, thánh Quát", khó có lời khen tặng nào cao hơn dành cho ông và bạn thân của ông: Nguyễn Văn Siêu (1799-1872).
HÀ VĂN THỊNHI. Có lẽ trong nhiều chục năm gần đây của lịch sử thế giới, chưa có một nhà sử học nào cũng như chưa có một cuốn sách lịch sử nào lại phản ánh những gì vừa xẩy ra một cách mới mẻ và đầy ấn tượng như Bob Woodward (BW). Hơn nữa đó lại là lịch sử của cơ quan quyền lực cao nhất ở một cường quốc lớn nhất mọi thời đại; phản ánh về những sự kiện chấn động nhất, nghiêm trọng nhất đã diễn ra trong ba năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới: sự kiện ngày 11/9, cuộc chiến tranh Afganistan và một phần của cuộc chiến tranh Iraq.
ĐẶNG TIẾN (Đọc Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp)Một tờ báo ở ngoài nước đã giới thiệu bốn cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyễn Giáp mới xuất bản. Dĩ nhiên là một bài báo không thể tóm lược được khoảng 1700 trang hồi ký viết cô đúc, nhưng cũng lảy ra được những đặc điểm, ý chính và trích dẫn dồi dào, giúp người đọc không có sách cũng gặt hái được vài khái niệm về tác phẩm.
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO (Đọc tập truyện ngắn “Trà thiếu phụ” của nhà văn Hồng Nhu – NXB Hội Nhà văn 2003)Tôi đã được đọc không ít truyện ngắn của nhà văn Hồng Nhu và hầu như mỗi tập truyện đều để lại trong tôi không ít ấn tượng. Trải dài theo những dòng văn mượt mà, viết theo lối tự sự của nhà văn Hồng Nhu là cuộc sống muôn màu với những tình cảm thân thương, nhiều khi là một nhận định đơn thuần trong cách sống. Nhà văn Hồng Nhu đi từ những sự việc, những đổi thay tinh tế quanh mình để tìm ra một lối viết, một phong cách thể hiện riêng biệt.
ĐỖ QUYÊN…Đọc thơ Bùi Giáng là thuốc thử về quan niệm thơ, về mỹ học thi ca. Đã và sẽ không ai sai nhiều lắm, cũng không ai đúng là bao, khi bình bàn về thơ họ Bùi. Nhắc về cái tuyệt đỉnh trong thơ Bùi Giáng, độ cao sâu tư tưởng ở trước tác Bùi Giáng nhiều bao nhiêu cũng thấy thiếu; mà chỉ ra những câu thơ dở, những bài thơ tệ, những đoạn văn chán trong chữ nghĩa Bùi Giáng bao nhiêu cũng bằng thừa…
LÊ THỊ HƯỜNGTrong căn phòng nhỏ đêm khuya, giai điệu bản sonat của Beethoven làm ta lặng người; một chiều mưa, lời nhạc Trịnh khiến lòng bâng khuâng; trong một quán nhỏ bên đường tình cờ những khúc nhạc một thời của Văn Cao vọng lại làm ta bất ngờ. Và cũng có thể giữa sóng sánh trăng nước Hương Giang, dìu dặt, ngọt ngào một làn điệu ca Huế khiến lòng xao xuyến.
NGÔ MINHĐến tập thơ chọn Giếng Tiên (*), nhà thơ - thầy giáo Mai Văn Hoan đã gửi đến bạn yêu thơ 5 tập thơ trữ tình, trong đó có hai tập thơ được tái bản. Đó là tập đầu tay Ảo ảnh, in năm 1988, tái bản 1995 và tập Hồi âm, in năm 1991, tái bản năm 2000. 15 năm xuất bản 7 đầu sách (2 tập tiểu luận) và đang có trong ngăn kéo vài tập bản thảo tiểu luận nữa, chứng tỏ sức sáng tạo sung mãn đáng nể trọng của một thầy giáo vừa dạy học vừa sáng tác văn chương.