giun dế, hư vô và hạt lửa xanh

17:06 06/06/2008
tôi chẳng có gì để lại cho emđêmtiếng dế giun râm ran vách tốicó một hang sâuhạt lửa xanh và ký ức!
nó cháy
nó cháy sáng
dịu dàng,
nóng bức mà không khói
thế là ý tưởng tan loãng ra
không thấy tro tàn
chỉ nghe sự bình yên
cựa mình
tróc vỏ
như hạt ngô hạt đậu
trong khu vườn tâm tưởng
của vị thiền sư đạt ngộ!

em có biết chăng
khi tuổi tác
đã chống gậy đứng trong đêm
nhìn qua tháng năm
sẽ thấy những dòng sông
những con đường,
và khá nhiều lối rẽ!
những người mình thương
những người mình ghét
được và mất
thành và bại
vui và khổ…
những cái mình cho đi
và những điều mình cảm nhận
sẽ là vô nghĩa
nếu đọng thành ký ức
đêm
và hạt lửa xanh
sẽ tôi luyện thành một thanh gươm
trên tay chàng dũng sĩ
thách đấu với hang thẳm Ràgu
nơi tối tăm của cái ác
và giun dế vẫn kêu đêm
với ngôn ngữ của thời gian
trong tương quan hiện tồn
và sự sống!

tôi chẳng có gì để lại cho em
khi tôi phủi xác thân
như phủi một hạt bụi rơi
và nó sẽ còn dính lại ở đâu đó
trong trang sách
trang văn
hay là nơi những câu thơ thiếu lửa
sẽ là vô nghĩa
nếu trái tim và cảm xúc
được biến thành danh ngôn
hoặc thành vầng trăng
treo trên chiếc gậy đi đường
có những ký hiệu
đây là an toàn
và kia là vực thẳm!

em có biết chăng
khi mắt đã mờ
tai đã kém
và trí đã cùn mòn chậm lụt
thì nó,
là hư vô
cũng đứng trong đêm
nghe giun dế
tấu khúc thời gian
và hạt lửa xanh trong trái tim
may ra
chỉ còn như hơi thở ấm
hơi thở vương trên khóm lau già
chỉ vài giọt sương đêm còn thức…

tôi chẳng có gì để lại cho em
khu rừng xanh này
tháng ngày đi và đến tự do kia
rất nhiều chim và lắm sương mù
có con đường mòn sỏi đá
vài người khách gió sương đã mỏi
chỉ biết tâm sự với hoang vu
không có ai mời trà
chỉ có đêm với cô liêu
giun dế thâu canh
am cốc sơn môn đã ngủ!

em có biết chăng
lúc thân cây già tróc vỏ
thì nó đã khô nhựa luyện
không còn ngôn ngữ
thì chẳng có nghĩa lý gì thời gian và lịch sử
điện miếu đền đài vùi sâu trong bóng tối hư danh
tôi cảm nghe mình như mỏm đá cỗi cằn
mầm xanh không mọc được
bộ rễ chắc khoẻ của tham vọng
(tham vọng tâm linh hay quyền lực)
chỉ thích hợp
với những đám đất bãi biền
giàu phù sa và khoáng chất…
tôi, đôi khi,
đi giữa khuya khoắt của nhân sinh
đếm bóng mình, một thành hai
hai thành bốn…
rồi nó vỡ ra
do trái tim đôi khi không an ổn
nó lại muốn du ca
hát lên
và muốn gieo ươm những hạt lửa xanh
hạt lửa đã đi suốt thiên thâu
qua những quán trọ
những chân cầu
qua những điêu linh, sự chết
vẫn mỉm cười hoạn nạn và khổ đau…

tôi chẳng có gì để lại cho em
kinh sách thì đã cũ
chữ nghĩa và lý sự lại quá nhiều
đã khô kiệt nguyên ngôn
bút mực thế gian thì như biển như rừng
còn văn chương
thì đã quá nhiều người vươn tay để nắm
nghệ thuật đôi khi lại là trò chơi vô bổ
cũng như
máy móc cứ mãi hiện đại tân trang
mòn hơi chạy đuổi hư vô đến chóng mặt
chỉ có ánh nắng buổi sáng
và sương mù đêm
thỉnh thoảng có trăng
lại tỏ ra chung thuỷ…

em biết không
tôi sống chỉ mới hai phần đời người
nhưng đã thấy già nua ngàn tuổi
có điều rất nguy hiểm
là không còn ngạc nhiên và chờ đợi
nhưng có được cái hay hay
là không còn náo nức những món quà
kể cả tôn vinh và trân trọng
kể cả đắc thiền đắc định
sự sống
chỉ lắng nghe từng ngày
và từng hơi thở
buồn vui
chỉ thản như cát lọt kẽ tay…

tôi chẳng có gì để lại cho em
thế hệ trai trẻ hồn nhiên
chỉ sống bằng mắt tai mũi lưỡi
chẳng ai cần mái lá và cốc rêu
chẳng ai cần sáng tạo và cô liêu
sự an bình của non xanh lặng lẽ

hãy xem,
chim,
sáng bay đi,
tối tìm về rừng ngủ
trời thì lúc nắng lúc mưa
thời tiết bốn mùa thay nhau chuyển đổi
đã cũ rồi
câu chuyện ngàn năm!

em biết không
tôi bây giờ leo lét với mấy trang văn
ngọn đèn,
chung trà cùng với lư trầm tịch mịch
ngồi tháng ngày kể chưa hết chuyện phù sinh
đêm,
dịu dàng với hạt lửa xanh
những mong làm cho ấm lòng vách đá
nghe lời kinh chuông sớm ngân nga
rồi giun dế khuya du ca
xem hư vô là người bạn cũ!

MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH
(nguồn: TCSH số 231 - 05 - 2008)
Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • LÊ VĨNH THÁIKhi chúng ta không là của nhau

  • LTS: Ngô Minh sinh ngày 10-9-1949 tại An Thủy, Quảng Bình. Bắt đầu in thơ từ năm 1975. Được giải thưởng thơ hay báo Nhân dân 1978…Ngô Minh đã từng là bộ đội chiến đấu ở chiến trường miền Nam nhiều năm, vì thế thơ anh viết về nhiều đề tài cuộc sống, nhưng vẫn mang đầy hơi thở của một người lính: sâu đằm, bỏng cháy…

  • LTS: Thái Ngọc San sinh năm 1947 tại An Thủy, Lệ Ninh. Thơ in trên các báo Sài Gòn cũ từ năm 1963. Trưởng thành qua phong trào đô thị, là nhà thơ tranh đấu của thành phố Huế và các đô thị miền Nam, những bài thơ xuống đường của Thái Ngọc San lưu hành trước năm 1975 đã khẳng định phong cách thơ riêng của anh.

  • HẢI BẰNGChuông Thiên Mụ

  • PHẠM TẤN HẦUXứ sở dịu dàng

  • TRẦN HOÀNG PHỐMùa xuân trong mưa

  • NGUYỄN KHOA ĐIỀMmẹ và quả

  • LÊ HUỲNH LÂMNghĩ về những ngày mưa gió

  • (Hưởng ứng cuộc thi thơ lục bát)

  • LTS: Sinh năm 1972, hội viên Hội Nhà văn TT.Huế. Thơ Tường có ấn tượng từ khi còn sinh viên và đã được nhiều giải thưởng như Tác phẩm tuổi xanh, giải VHNT Cố đô Huế, thơ hay Tạp chí Sông Hương, Tạp chí Cửa Việt…Sau 2 tập thơ Hoa cúc mùa thu và Lá tháng chạp, Tường “nín” một thời gian khá dài rồi lại “Quang gánh” với trường ca. Đã vậy, Sông Hương cũng “Quang gánh” lại trường ca này với đề tựa của nhà thơ trẻ Lương Ngọc An.

  • NGÔ MINHViếng anh Thanh Hải

  • ĐỖ VĂN KHOÁIMưa trên sông tôi về

  • NGUYÊN QUÂNĐêm trên Bạch Mã

  • HẢI TRUNGBờ kè hạnh phúc

  • THANH TÚĐồng điệu xanh

  • Ngày 1 - 4 - 2010, Đại tá, nhà thơ Nguyễn Trọng Bính vĩnh viễn không còn làm thơ nữa! Quê gốc Hà Tĩnh, Nguyễn Trọng Bính nguyên là Hội viên Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế, một con người nặng tình với Huế và Tổ quốc ông từng cầm súng bảo vệ này. Viết bài thơ dưới đây, ông như đã đoán định được ngã rẽ phía trước dẫu còn nhiều trăn trở đúng với nỗi lòng của một nhà thơ mang theo mình 40 năm tuổi Đảng.

  • LÊ VIẾT XUÂNĐi tìm

  • NGÔ MINHCơm niêu

  • HẢI BẰNG     Rút từ trong di cảo Ký ức thơ