Giọng điệu văn chương Nguyễn Huy Thiệp

11:12 29/07/2008
PHẠM PHÚ PHONGNguyễn Huy Thiệp là một trong những hiện tương văn học hiếm hoi. Ngay từ những truyện ngắn đầu tay như Huyền thoại phố phường, Muối của rừng, Tướng về hưu... tên tuổi của anh đã nổi bật trong và ngoài nước.

Chỉ trong năm 1989 thôi, sau khi Tướng về hưu được ra mắt độc giả, đã có hàng trăm bài phê bình với 2 xu hướng đối ngược nhau: Người khen thì khen đến cùng, thậm chí có người coi tài năng anh ngang tầm với những nhà văn xuất sắc trên thế giới, người chê thì cũng chê đến cùng, cho anh là xuyên tạc lịch sử, báng bổ thần thánh, đi ngược truyền thống đạo lý của dân tộc. Từ đó đến nay, trong vòng gần 10 năm qua, kể cả khi anh sáng tác sung sức, ào ạt cho ra đời hết truyện ngắn đến kịch, rồi đến cả tiểu luận phê bình, cũng như khi anh im lặng "gác kiếm" chuyển sang lo làm ăn kiếm sống, nhưng dường như anh vẫn chưa hề vắng bóng trong đời sống văn học dân tộc, vẫn thường xuyên có mặt trong những bài phê bình, những bài nghiên cứu, trong hàng mấy chục luận án tốt nghiệp cử nhân và nhiều luận án thạc sỹ... Cái gì làm nên sức hấp dẫn, tạo nên ấn tượng sâu rộng và lâu bền đối với người đọc như vậy? Đã có nhiều bài báo nhiều công trình của nhiều người đã cố gắng lý giải điều ấy. Những cách lý giải ấy không hẳn là không chính xác, nhưng theo tôi, điều cốt lõi làm nên sức mạnh Nguyễn Huy Thiệp là giọng điệu văn chương, một điều ít được đề cập đúng mức hoặc bị lướt qua một cách hời hợt.
Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ. Nhà văn là nhà sáng tạo ngôn từ. Nó được cá thể hóa đến mức trở thành quy luật ngữ pháp riêng, giọng điệu riêng của từng người chứ không chỉ tuân theo quy luật pháp ngữ chung của ngôn ngữ. F.Saussure, nhà ngôn ngữ học vĩ đại đã chỉ rõ rằng, mỗi từ mỗi chữ chỉ có nghĩa nhất định khi được đặt trong một câu. Đối với văn chương, người đọc không phải chỉ để hiểu mà để cảm, nghĩa là nhận lấy toàn bộ những gì nhà văn gửi gắm đằng sau những hàng chữ, vượt ra khỏi nghĩa của từng từ, từng chữ. Đối với văn chương, nếu chỉ bám vào những ký hiệu trực tiếp, chỉ là cuộc tìm kiếm vô bổ trong nghĩa địa của ngôn từ. Nhà nghiên cứu Nga M.B. Khravchenko đã từng chỉ ra hướng tiếp cận tác phẩm rằng: "Tiếp cận hệ thống các ngữ điệu, như một gam ngữ điệu". Do đó giọng điệu văn chương, cũng xuất phát từ ngôn ngữ, song nó có nghĩa rộng hơn nhiều, nó bao hàm cả ngữ cảnh, thái độ, quan niệm, cách ứng xử... và cá thể hóa đến mức trở thành tài sản riêng của một sinh thể tư duy, như giọng điệu riêng của người ấy trong cuộc đời. Chẳng hạn, khi xuất hiện một chi tiết, một tình tiết diễn đạt bằng giọng điệu văn chương, ta thường lấy chi tiết tình tiết ấy soi ra bức màn hiện thực định giá cho nó và lấy quy luật ngôn ngữ, vận dụng các quan hệ quy chiếu về phong cách học để bình giá ngôn ngữ văn chương, mà quên rằng, cần thiết hơn là phải xem xuất phát từ quan niệm nào mà nhà văn sử dụng chi tiết, tình tiết ấy và miêu tả bằng giọng điệu ấy. Hãy thử suy ngẫm về đoạn văn đầy ấn tượng, lột bỏ bản chất đốn mạt của nhân vật Đoài trong Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp như sau:
"Đoài bảo: "Tôi nghĩ bố già rồi, mổ cũng thế, cứ để chết thì hơn" Tốn khóc hu hu.
Cấn hỏi: "Ý chú Khảm thế nào?" Khảm bảo: "Các anh thế nào thì em thế" Khiêm hỏi: "Anh định thế nào?" Cấn bảo: "Tôi đang nghĩ" Đoài bảo: "Mất thì giờ bỏ mẹ, ai đồng ý bố chết giơ tay. Tôi biểu quyết"... "Ý kiến của Đoài đành rằng là đốn mạt, là tàn nhẫn, vô đạo là táng tận lương tâm, song vẫn loé lên một thực tế "Bố già rồi" và tất nhiên dẫn đến cái chết. Điều này xuất phát từ quan niệm nghệ thuật về con người hết sức giản đơn như là quy luật của tạo hóa: cuộc đời có cái tốt, có cái xấu, có cái bình thường, có cái vĩ đại, có tồn tại, có huỷ diệt. Hầu hết truyện của anh đều có xác chết: Những bài học nông thôn, Chảy đi sông ơi (một xác chết) Tướng về hưu, Con gái thủy thần, Không có vua, (hai xác chết), Giọt máu (nhiều xác chết)... Và, tùy theo nhân cách, cũng như sự tồn tại, sự huỷ diệt cũng có nhiều cách khác nhau, có cái chết gây nên tự tôn kính như cái chết của vị tướng (Tướng về hưu); có cái chết tạo nên niềm cảm kích cao cả như cái chết của Triệu (Bài học nông thôn); có cái chết gây nên cảm xúc kinh hoàng như cái chết của Thiều Hoa (Giọt máu); có cái chết gợi nên niềm vui như cái chết của Cún, hoặc có cái chết làm cho người ta tiếc thương vô hạn như cái chết của Thắm (Chảy đi sông ơi)...
Nguyễn Huy Thiệp quan niệm rằng có hai loại văn chương: Văn chương vương đạo và văn chương bá đạo, mà chính anh là người đang theo đuổi loại thứ nhất. Văn chương vương đạo của anh luôn hướng vào một tầng cao hơn là chủ nghĩa nhân đạo. Đó là thân phận con người trong một thời đại, trong một xã hội mà sức nặng duy lý ở chính trị, ở kinh tế, ở biết bao chuẩn mực đã định sẵn, con người bị ném vào cuộc đời rồi bị biết bao tai biến, biết bao "tha nhân" ràng buộc như không một lối thoát. Những con người đã được đánh thức bởi những bản năng để tự mở đường ra đi và dũng cảm nhận lấy trách nhiệm về những lựa chọn của mình. Ở những con người phàm tục ấy bị tha hóa bởi bao nhiêu lực lượng xã hội xa lạ với mình và dường như không tránh né được, vẫn le lói một tình thương. Họ thầm lặng đi với cái tốt và cũng là cái đẹp"(1). Có thể nói, đây là quan niệm quán xuyến toàn bộ sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, kể cả khi anh sử dụng thi pháp phi huyền thoại hóa để nhận thức các nhân vật lịch sử, các nhân vật trong cổ tích, truyền thuyết dân gian và cả khi anh dân gian hóa các nhân vật hiện đại, mang đời sống thực của con người trần tục, thô mộc đôi khi đến mức tàn nhẫn.
Xuất phát từ quan niệm nghệ thuật như vậy, giọng điệu Nguyễn Huy Thiệp được thực hiện như một phép ứng xử đơn giản là dùng để kết hợp với tả, đó là thi pháp truyền thống của văn xuôi phương Đông. Song, chính mang sự trần thuật giản đơn, anh đã tạo nên tính đa biến khôn lường bằng nghệ thuật phức điệu điêu luyện, có khi lại của ngôn ngữ nhân vật, nhằm thúc đẩy cho tình tiết phát triển, tạo cho giọng điệu văn chương của anh linh hoạt khôn lường. "Không phải nhiều cách – M.Bakhtin cho rằng – và số phận trong một thế giới khách quan thống nhất, dưới ánh sáng của ý thức tác giả thống nhất đã được xây dựng trong tác phẩm... mà chính là nhiều ý thức bình đẳng, với những thế giới của chúng, đã được kết hợp với nhau ở chúng, tạo thành một sự cùng tồn tại thống nhất mà vẫn giữ nguyên tính không hòa đồng của mình"(2).
Tính đa biến và phức điệu trong giọng điệu văn chương, tạo nên sự giản cách về ngữ pháp, thoắt biến thoắt hiện, tạo nên đời sống thật cho thế giới nghệ thuật. Chẳng hạn, đoạn vua Quang Trung mắng Khải: "Thằng Khải kia, tài năng bằng cái đấu, khinh ta quá chừng, trời cho mầy sống đến năm mươi tám tuổi, cướp không biết bao nhiêu cái lộc của thiên hạ, ăn miếng ngon không biết đậy mồm còn chê là lợm". Tiếp theo sau mạch văn vẫn là giọng điệu hạch tội, song dường như chuyển sang giọng kể của người trần thuật: "May nhờ phúc tổ có ít của chìm, như cái đuôi khô, tháng ba ngày tám mang ra gặm". Lại tiếp theo giọng đối thoại, hạch sách, hỏi tội: "Xuống địa ngục quỷ sứ lột da mày. Ta cho mày ăn cứt xem mày có chê lợm không?" (Phẩm tiết).
Giọng điệu của mỗi nhân vật không phụ thuộc vào vị trí xã hội, giai cấp nghề nghiệp mà là tiếng nói thật của mỗi con người cụ thể với tất cả tính tượng thanh, tượng hình và sáu thanh điệu, biểu lộ các cung bậc, trầm bổng, cao, thấp, nặng, nhẹ và trạng thái cảm xúc hỉ, nộ, ái, ố... của tiếng Việt. Vua Gia Long: “Thằng khốn nạn theo voi ăn bả mía kia để cáng chừng nào. Mày mượn danh ta để đi ăn cướp với chơi gái à?" (Phẩm tiết). Trong khi giọng điệu của tên cướp thì lại: "Thôi đi. Trẻ con là tương lai đấy. Làm gì cũng phải nhân đức hàng đầu" (Sang sông). Nguyễn Huy Thiệp sử dụng ngôn ngữ đa thanh nhưng giàu tính phức điệu nhằm "lộn trái" nhân vật ra, vạch được tính tương phản trong chính từng con người. Đoài, một trí thức khi nghe tin người thân chết, Đoài bảo: "Cứ gác lại cái đã. Các bà già chết đi có gì là lạ? Tiếp tục cuộc vui đi"... (Không có vua) trong khi đó Hiền, một phụ nữ ở nông thôn thì: "Thế là đàn bà không ra gì. Nhưng đàn ông nhiều người cũng không ra gì. Lấy chồng vớ phải anh nghèo, bất tài mà lại cao thượng thì hãi lắm. Nó làm tan nát người đàn bà như bỡn" (Những bài học nông thôn). Xây dựng giọng điệu nhân vật là tiếng nói của con người, xuất phát từ cõi lòng, từ suy nghĩ, vì ngôn ngữ là công cụ của tư duy, Nguyễn Huy Thiệp xuất phát từ quan niệm con người hoàn toàn bình đẳng. Vua chúa là người, tên cướp là người, những người lao động nghèo khó cũng là người, trí thức cũng là người... Trong họ có người tốt, kẻ xấu, có lúc "giận quá hóa ngu", cũng có lúc đằm thắm ngọt ngào tình người. Đối với xã hội họ có thể chưa bình đẳng, nhưng đối với nghệ thuật bọ đều bình đẳng.
Khác với tác giả cùng thời là nữ nhà văn Phạm Thị Hoài tuy cũng để cho ngôn ngữ đời sống ào ạt tràn vào trang giấy không gọt dũa cẩn thận đến mức xa rời đời sống, nhưng Phạm Thị Hoài thiên về mô tả dòng ý thức, nên chị hay sử dụng câu phức, cách ví von trùng điệp, Nguyễn Huy Thiệp thường sử dụng câu đơn gãy gọn súc tích, đôi khi gần như cũn cỡn. Anh bộc lộ tính cách nhân vật không phải thông qua tầm nhìn của tác giả mà là của chính tầm nhìn nhân vật nghĩa là nhân vật tự ý thức về sự hiện hữu của mình. Do vậy, giọng kể, giọng tả của nhà văn có khi ngắn đến mức không đáng kể. Dạng "Tôi bảo!", "Nó bảo", "Bường bảo', "Đoài bảo", "Cha tôi bảo", "Vợ tôi bảo"... Giọng điệu văn chương anh chủ yếu vẫn là giọng điệu của nhân vật, tự nhân vật bộc lộ về mình bằng tiếng nói đa thanh, đa sắc, trong đó cả giọng kể, giọng tả thay cho lời trần thuật. Nếu bảo ngôn ngữ văn chương không chỉ là ngôn ngữ của hình tượng mà còn là hình tượng của ngôn ngữ, thì giọng điệu văn chương của Nguyễn Huy Thiệp thuộc vế thứ hai, lấy ngôn ngữ làm đối tượng hơn là phương tiện biểu hiện.
Nhờ thế, giọng điệu văn chương Nguyễn Huy Thiệp đạt mức chuẩn xác. Sắc thái khách quan lạnh lùng của anh có thể so với Nam Cao, tĩnhlạnh tạo độ dư cho sức cảm. Song anh cũng khác với Nam Cao, người thiên miêu tả tự sự xen lẫn dòng chảy của ý thức, bằng các kiểu câu – phức anh lại chủ yếu gãy gọn của câu đơn, đôi khi chỉ một hai từ làm cho giọng điệu càng sắc lạnh hơn. Điều quan trọng hơn, khi muốn tạo ra ngữ cảnh khách quan, làm tăng độ tin cậy của người đọc, anh thường cho nhân vật Tôi xuất hiện sánh đôi với nhân vật chính: Tôi – Tướng (Tướng về hưu), Tôi – Bường (Những người thợ xẻ), Tôi – con gái thủy thần (Con gái thủy thần)... Đây là thi pháp giả định đưa cái tôi thẩm mỹ, thành cái tôi chứng kiến trong giọng điệu tân văn, song đưa người đọc tham gia thành một yếu tố cấu thành của nghệ thuật, khi sự thật khách quan được bộc lộ: "Khi tôi viết những dòng này, tôi đã thức tỉnh trong vài người quen, những cảm xúc mà thời gian đã xóa nhòa, và tôi đã xâm phạm đến cõi yên tĩnh nấm mồ của cha tôi. Tôi buộc lòng làm vậy và xin người đọc nể nang những tình cảm đã thúc đẩy tôi viết mà lượng thứ cho ngòi bút kém cỏi của tôi. Tình cảm này tôi xin nói trước là sự binh vực của tôi đối với cha mình" (Tướng về hưu).
Điều cuối cùng cần nói là khi nhà văn dân gian hóa và hiện thực hóa thế giới hình tượng thông qua giọng điệu, nhưng trong chính sự phức điệu của giọng điệu lại tạo ra tính triết lý sâu sắc. Thực chất "Ngôn ngữ của tác phẩm văn học không thuần túy chỉ là hình thức. Bởi vì, ngay chính trong cái hữu hạn của từng từ, từng chữ mà chứa đựng cái vô hạn về ý nghĩa". (3) Ngoài những truyện như Muối của rừng hoặc chùm truyện Những ngọn gió Hua Tát tính triết lý nằm sâu trong hình tượng, trong cốt truyện, được diễn đạt bằng một giọng điệu không lời, hầu hết những truyện còn lại triết lý bộc lộ một cách tự nhiên thông qua giọng điệu nhân vật. Đây là triết lý của một anh thợ xẻ "Con ranh con, lại nói dối rồi. Đàn bà ấy, chúng mầy ạ, không nên bao giờ đặt lòng tin vào chúng. Chúng tàn bạo trong sự ngây thơ trong trắng của chúng. Chúng gây cho người ta hy vọng, ham muốn, chờ đợi (...) Bởi vậy, sống ở đời, khốn nạn nhất là thằng đàn ông nào trở thành vật sở hữu của đàn bà". Với một bà già nông thôn thì: "Ăn đi con ạ. Đàn ông nó chẳng thương mình đâu. Rượu thì nó ngồi mâm trên. Ngủ thì nó đè lên mình". Với vua thì: "Binh đao là trò chơi của trời. Sao mày hỏi ta? Ta chơi trò khác. Chơi trò đế vương"...
Trong công trình nghiên cứu Modern world fiction (Truyện viễn tưởng thế giới hiện đại) của giáo sư Đại học Columbia là Dorothy Brewster và John Angus Burrell cho rằng: "Nói chung mọi người vẫn đồng lòng chấp nhận nguyên tắc của nó là mỗi truyện ngắn chỉ được gây một ấn tượng duy nhất trong óc độc giả" (4). Với Nguyễn Huy Thiệp anh vẫn tuân thủ những đặc điểm của kiểu truyện ngắn chính thống, nghĩa là nó có một cốt truyện được xây dựng thận trọng, các tình tiết được xếp đặt khéo léo... Song mỗi truyện của anh không chỉ gây một ấn tượng duy nhất mà từ hệ thống hình tượng đến giọng điệu văn chương đã tạo ra được một mạch tư tưởng – nghệ thuật phát triển theo cấp số nhân. Đó chính là đặc điểm nổi bật nhất trong thi pháp ngôn từ của Nguyễn Huy Thiệp. Có lẽ chính vì thế mà nhà nghiên cứu văn học người Australia Greg Lockhart trong một bài viết về Nguyễn Huy Thiệp đã cho rằng anh "đã đóng góp cho văn học thế giới không chỉ về số phận riêng lẻ của một con người, mà của cả dân tộc, rộng ra, của cả thế giới. (5).
P.P.P

(nguồn: TCSH số 155 - 01 - 2002)

---------------------------------------
(1), (5) Trần Thị Mai Thi – Văn học hiện đại – Văn học Việt giao lưu gặp gỡ, Nxb Văn học. H.1994, tr.189-190, 187.
(2) M. Bakhtin – Lý luận và thi pháp tiểu thuyết. Trường viết văn Nguyễn Du Xuất bản. H.1992, tr.234.
(3) Nguyễn Xớn – Tác phẩm và phê bình văn học. Nxb Văn nghệ TP. HCM. 1994, tr.71.
(4) J. Brewster, J.A. Burrell. Modern world fiction, UB dịch thuật phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa xuất bản 1971, tr.271.

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LÝ HOÀI THUSự vận động và phát triển của một giai đoạn văn học luôn diễn ra song hành cùng sự vận động và phát triển của các loại thể văn học. Nói một cách khác: sức sống của một giai đoạn văn học được biểu hiện rõ rệt nhất qua diện mạo thể loại. Chính vì vậy, thể loại vừa là sự "phản ánh những khuynh hướng lâu dài và hết sức bền vững của văn học" (1) vừa là sự hồi sinh và đổi mới liên tục qua mỗi chặng đường phát triển.

  • INRASARA (Tiếp theo Sông Hương số 245 tháng 7-2009)

  • HÀ VĂN THỊNH Những cái tên - có lẽ không giản đơn như cách nói của người Nga - " Người ta gọi tôi là...”  Ở đây, lớp vỏ của ngôn từ chỉ diễn tả một khái niệm mù mờ nhất của một lượng thông tin ít nhất.Trong khi đó, có bao giờ ta nghĩ rằng một cái tên, không ít khi hàm chứa thật nhiều điều - thậm chí nó cho phép người khác biết khá rõ về tính cách, khả năng và ngay cả một phần của số phận của kiếp người?

  • HÀ VĂN LƯỠNG1. Ivan Bunhin (1870-1953) là một nhà văn xuôi Nga nổi tiếng của thế kỷ XX. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông trải qua những bước thăng trầm gắn với nhiều biến động dữ dội mang tính chất thời đại của nước Nga vào những năm cuối thế kỷ XIX và mấy chục năm đầu thế kỷ XX.

  • LÊ THÀNH NGHỊCâu hỏi “ta là ai?”, “ta vì ai” nổi tiếng của Chế Lan Viên tưởng đã tìm ra câu trả lời có chứa hạt nhân hợp lý của thời đại trong thơ chống Mỹ đã không còn đủ sức ôm chứa trong thời kì mới, khi nhu cầu xã hội và cá nhân đã làm thức tỉnh cái tôi trữ tình của người làm thơ. Nhu cầu xã hội thường là những gì bức thiết nhất của thực tại, do thực tại yêu cầu. Chẳng hạn, thời chống Mỹ đó là độc lập tự do của dân tộc. Tất cả những hoạt động tinh thần, trong đó có sáng tác thơ văn, nếu nằm ngoài “sự bức thiết thường nhật” này không phù hợp, không được đón nhận... và vì thế không thể phát triển. Kể từ sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, với chủ trương đổi mới, trong xã hội ta, nhu cầu bức thiết nhất, theo chúng tôi là khát vọng dân chủ.

  • LÝ TOÀN THẮNG“Văn xuôi về một vùng thơ” là một thể nghiệm thành công của Chế Lan Viên trong “Ánh sáng và phù sa”, về lối thơ tự do, mở rộng từ thấp lên cao - từ đơn vị cấu thành nhỏ nhất là Bước thơ, đến Câu thơ, rồi Đoạn thơ, và cuối cùng là cả Bài thơ.

  • INRASARA1. Đó là thế hệ thơ có một định phận kì lạ. Người ta vội đặt cho nó cái tên: thế hệ gạch nối, thế hệ đệm. Và bao nhiêu hạn từ phái sinh nhợt nhạt khác.Đất nước mở cửa, đổi mới, khi văn nghệ được cởi trói, nhà thơ thế hệ mới làm gì để khởi sự cuộc viết? Cụ thể hơn, họ viết thế nào?

  • VÕ VĨNH KHUYẾN Tiểu luận nhằm tìm hiểu thành tựu thơ ca trong khoảng 16 tháng giữa 2 cột mốc lịch sử (19.8.1945 - 19.12.1946). Bởi khi phân chia giai đoạn văn học nói chung (thơ ca nói riêng) trong tiến trình lịch sử văn học, các công trình nghiên cứu, các giáo trình ở bậc Đại học - Cao đẳng và sách giáo khoa trung học phổ thông hiện hành, không đặt vấn đề nghiên cứu thơ ca (cũng như văn học) nói riêng trong thời gian này. Với một tiêu đề chung "Văn học kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954". Đây là nguyên do nhiều sinh viên không biết đến một bộ phận văn học, trong những năm đầu sau cách mạng.

  • HỒ THẾ HÀ1. Diễn đàn thơ được tổ chức trên đất Huế lần này gắn với chương trình hoạt động của lễ hội Festival lần thứ 3, tự nó đã thông tin với chúng ta một nội dung, tính chất và ý nghĩa riêng. Đây thực sự là ngày hội của thơ ca. Đã là ngày hội thì có nhiều người tham gia và tham dự; có diễn giả và thính giả; có nhiều tiếng nói, nhiều tấm lòng, nhiều quan niệm trên tinh thần dân chủ, lấy việc coi trọng cái hay, cái đẹp, cái giá trị của nghệ thuật làm tiêu chí thưởng thức, trao đổi và tranh luận. Chính điều đó sẽ làm cho không khí ngày hội thơ - Festival thơ sẽ đông vui, phong phú, dân chủ và có nhiều hoà âm đồng vọng mang tính học thuật và mỹ học mới mẻ như P.Valéry đã từng nói: Thơ là ngày hội của lý trí (La poésie est une fête de l'intellect).

  • THẠCH QUỲThơ đi với loài người từ thủa hồng hoang đến nay, bỗng dưng ở thời chúng ta nứt nẩy ra một cây hỏi kỳ dị là thơ tồn tại hay không tồn tại? Không phải là sự sống đánh mất thơ mà là sự cùn mòn của 5 giác quan nhận thức, 6 giác quan cảm nhận sự sống đang dần dà đánh mất nó. Như rừng hết cây, như suối cạn nước, hồn người đối diện với sự cạn kiệt của chính nó do đó nó phải đối diện với thơ.

  • NGUYỄN VĨNH NGUYÊNNhững năm gần đây, người ta tranh luận, ồn ào, khua chiêng gõ mõ về việc làm mới văn chương. Nhất là trong thơ. Nhưng cái mới đâu chẳng thấy, chỉ thấy sau những cuộc tranh luận toé lửa rốt cục vẫn là: hãy đợi đấy, lúc nào đó, sẽ... cãi tiếp...

  • TRẦN VĂN LÝAi sản xuất lốp cứ sản xuất lốp. Ai làm vỏ cứ làm vỏ. Ai làm gầm cứ làm gầm. Nơi nào sản xuất máy cứ sản xuất máy. Xong tất cả được chở đến một nơi để lắp ráp thành chiếc ô tô. Sự chuyên môn hoá đó trong dây chuyền sản xuất ở châu Âu thế kỷ trước (thế kỷ 20) đã khiến cho nhiều người mơ tưởng rằng: Có thể "sản xuất" được thơ và sự "mơ tưởng" ấy vẫn mãi mãi chỉ là mơ tưởng mà thôi!

  • HOÀNG VŨ THUẬTChúng ta đã có nhiều công trình, trang viết đánh giá nhận định thơ miền Trung ngót thế kỷ qua, một vùng thơ gắn với sinh mệnh một vùng đất mà dấu ấn lịch sử luôn bùng nổ những sự kiện bất ngờ. Một vùng đất đẫm máu và nước mắt, hằn lên vầng trán con người nếp nhăn của nỗi lo toan chạy dọc thế kỷ. Thơ nảy sinh từ đó.

  • BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng dáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ , Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v.v... Đồng thời, Thơ mới là một hiện tượng thơ ca gây rất nhiều ý kiến khác nhau trong giới phê bình, nghiên cứu và độc giả theo từng thời kỳ lịch sử xã hội, cho đến bây giờ việc đánh giá vẫn còn đặt ra sôi nổi. Với phạm vi bài viết này, chúng tôi điểm lại những khái niệm về Thơ mới và sự đổi mới nghệ thuật thơ của các bậc thầy đi trước và tìm câu trả lời cho là hợp lý trong bao nhiêu ý kiến trái ngược nhau.

  • MẠNH LÊ Thơ ca hiện đại Việt Nam thế kỷ XX đã thu được những thành tựu to lớn đóng góp vào sự phát triển của lịch sử thơ ca dân tộc. Đặc biệt từ ngay sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời thay thế chế độ phong kiến thực dân hơn trăm năm đô hộ nước ta cùng với khí thế cách mạng kháng chiến cứu nước theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 12 năm 1946 đã thổi vào đời sống văn học một luồng sinh khí mới để từ đó thơ ca hiện đại Việt Nam mang một âm hưởng mới, một màu sắc mới.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCHNếu gọi Huế Thơ với tư cách đối tượng thẩm mĩ thì chủ thể thẩm mĩ của nó trước hết và sau cùng vẫn là sự hoá sinh Thơ Huế. Đương nhiên, không hẳn chỉ có Thơ Huế mới là chủ thể thẩm mĩ của Huế Thơ và cũng đương nhiên không hẳn chỉ có Huế Thơ mới là đối tượng thẩm mĩ của Thơ Huế. Huế Thơ và Thơ Huế vẫn là hai phạm trù độc lập trong chừng mực nào đó và có khi cả hai đều trở thành đối tượng thẩm mĩ của một đối tượng khác.

  • ĐỖ LAI THÚYThanh sơn tự tiếu đầu tương hạc                                  Nguyễn KhuyếnNói đến Dương Khuê là nói đến hát nói. Và nói đến hát nói, thì Hồng Hồng, Tuyết Tuyết làm tôi thích hơn cả. Đấy không chỉ là một mẫu mực của thể loại, mà còn làm một không gian thẩm mỹ nhiều chiều đủ cho những phiêu lưu của cái đọc.

  • NGUYỄN NGỌC THIỆNHải Triều tên thật là Nguyễn Khoa Văn, sinh năm 1908 trong một gia đình Nho học, khoa bảng. Năm 20 tuổi, trở thành đảng viên trẻ của Tân Việt cách mạng Đảng, Nguyễn Khoa Văn bắt đầu cầm bút viết báo với bút danh Nam Xích Tử (Chàng trai đỏ). Điều này đã khiến trong lần gặp gỡ đầu tiên, người trai có "thân hình bé nhỏ và cử chỉ nhanh nhẹn theo kiểu chim chích" (1) ấy đã gây được cảm tình nồng hậu của Trần Huy Liệu- chủ nhiệm Nam Cường thư xã, người bạn cùng trang lứa tuy vừa mới quen biết, nhưng đã chung chí hướng tìm đường giải phóng cho dân tộc, tự do cho đất nước.

  • TÔ VĨNH HÀ Huế đang trở lạnh với "mưa vẫn mưa bay" giăng mờ như hư ảo những gương mặt người xuôi ngược trên con đường tôi đi. Tôi giật mình vì một tà áo trắng vừa trôi qua. Dáng đi êm nhẹ với cánh dù mỏng manh như hơi nghiêng xuống cùng nỗi cô đơn. Những nhọc nhằn của tuổi mơ chưa đến nỗi làm bờ vai trĩu mệt nhưng cũng đủ tạo nên một "giọt chiều trên lá(1), cam chịu và chờ đợi nỗi niềm nào đó hiu hắt như những hạt mưa...

  • NGUYỄN HỒNG DŨNG1. Một cuộc đời lặng lẽ và những truyện ngắn nổi danhO' Henry, tên thật là William Sydney Porter, được đánh giá là người viết truyện ngắn xuất sắc nhất của nước Mỹ những năm đầu thế kỷ XX. Ông sinh tại Greenboro, tiểu bang North Carolina vào năm 1862. Năm 15 tuổi (1877), ông thôi học và vào làm việc trong một hiệu thuốc tây. Vào tuổi hai mươi, ông bị đau nặng và sức khoẻ sa sút nên đã đến dưỡng sức ở một nông trại tại tiểu bang Texas. Ông đã sống ở đấy hai năm, đã làm quen với nhiều người và hiểu rất rõ tính cách miền Tây. Sau này, ông đã kể về họ rất sinh động trong tập truyện ngắn có tựa đề đầy xúc cảm Trái tim miền Tây.