Giới thiệu Chi hội nhà văn Việt Nam tại Huế - Nhà thơ Hải Bằng

17:02 07/08/2009
Nhà thơ Hải Bằng tên thật là Vĩnh Tôn, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1930, quê ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông mất ngày 7 tháng 7 năm 1998.

Nhà thơ Hải Bằng (Ảnh: internet)

Vốn xuất thân trong một gia đình dòng dõi Hoàng tộc nhưng Hải Bằng sớm giác ngộ Cách mạng. Mới mười lăm tuổi, ông đã gia nhập Vệ Quốc đoàn rồi trở thành chiến sĩ thuộc Trung đoàn 101, chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên. Hòa bình lập lại, ông tập kết ra Bắc, công tác tại Vụ Văn hóa đại chúng thuộc Bộ Văn hóa. Năm 1959, ông chuyển về Quảng Bình làm công tác phát hành sách. Sau 1975, ông làm việc ở Sở Văn hoá Thông tin Bình Trị Thiên rồi Thừa Thiên Huế cho đến khi nghỉ hưu.

Hải Bằng làm thơ, vẽ tranh, tạo hình bằng rễ cây. Thơ Hải Bằng vừa sâu lắng vừa góc cạnh. Ông có những vần thơ viết về Huế hết sức da diết. Ông cũng gửi vào thơ những ẩn ức bởi cuộc đời lắm tai ương của mình.

Hải Bằng đã xuất bản:
Hát về ngọn lửa (thơ, 1980); Trăng đợi trước thềm (thơ, 1988); Thơ tình Hải Bằng (thơ, 1989); Mưa Huế (thơ, 1992); Mưa lại về (thơ tứ tuyệt, 1993); Sóng đôi bờ (thơ, 1994); Đề lên năm tháng (thơ, 1995); Tuổi Huế trong ta (thơ, 1996).

Nhân ngày giỗ lần thứ 11, Tạp chí Sông Hương xin giới thiệu bài viết của nhà thơ Hà Nhật và chùm thơ chọn lọc của ông.

MAI VĂN HOAN giới thiệu



Văn Tôn - Hải Bằng bạn tôi

HÀ NHẬT LƯƠNG DUY CÁN

Dạo ấy, chúng tôi, Văn Tôn, Phùng Quán, Hà Nhật, ba thằng còn trẻ măng, thân nhau vì cùng gắn bó với Huế. Phùng Quán quê Thừa Thiên. Văn Tôn là “dân mệ” gốc. Còn tôi tuy không phải dân Huế nhưng lại duyên nợ, vừa bước ra từ trường Khải Định. Số phận sau này càng gắn ba đứa lại hơn nữa, nhất là kể từ sau những vụ việc trong các năm 1957 - 1958 liên quan đến Nhân văn - Giai phẩm mà có lẽ bây giờ nhiều người còn nhớ.

Tôi đã khá ngạc nhiên khi gặp tại trụ sở báo Trăm Hoa của nhà thơ Nguyễn Bính, vào khoảng cuối năm 1956, một anh chàng nói tiếng Huế, tự xưng mình là Văn Tôn, tác giả bài thơ Em nữ cứu thương người Pháp mà tôi từng có dịp đọc trong sổ  tay thơ kháng chiến của một đứa bạn trước đó. Lúc ấy tôi cứ yên trí hắn ta tên là Tôn, họ là Văn. Hóa ra tên hắn là Vĩnh Tôn, dân hoàng tộc, con một ông “Bửu” từng làm tri huyện cái huyện quê tôi. Hắn bỏ nhà, rời Huế, lên chiến khu theo kháng chiến với mong ước làm một nghệ sĩ kháng chiến, chuyển từ Vĩnh Tôn sang Văn Tôn là để “quần chúng hoá” mà đi vào công nông. Sau này hắn còn nhiều dịp để “quần chúng hoá” theo kiểu như vậy. Cho đến khi làm giấy chứng minh, rồi lý lịch cán bộ, hộ khẩu, tên họ hắn chỉ gồm vỏn vẹn hai chữ “Văn Tôn”, không hề lộ một chút hơi hướng quý tộc.

Chuyển ngành từ bộ đội, hắn làm ở Vụ Văn hoá quần chúng, nhưng lại vẽ tranh châm biếm cho báo Trăm Hoa.

Đùng một cái, hắn báo tin là xin nghỉ việc để “đi thực tế” về làng Cảnh Dương, một làng quê nổi tiếng anh hùng trong kháng chiến, nằm bên bờ biển dưới chân Đèo Ngang, cực Bắc tỉnh Quảng Bình. Tôi vốn là đứa nhát gan, thấy thế, phục lăn. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn rất khâm phục cái quyết định táo bạo ấy của hắn, cả cái cách hắn đã làm đủ thứ việc để sống mà không dựa vào một nguồn tài chính tài trợ nào hết.

Cũng hoàn cảnh như hắn, Phùng Quán sống với nghề “viết văn chui” và câu trộm cá Hồ Tây. Còn hắn, Văn Tôn, không thể kiếm sống được với nghề câu cá ở làng biển Cảnh Dương, đi vào Đồng Hới, vẽ tranh cổ động cho Ty Văn hoá, rồi làm thơ. Hắn làm việc quần quật suốt ngày, không vẽ tranh thì làm thơ. Và hắn làm rất nhiều thơ. Cả cái thị xã Đồng Hới nhỏ như một thị trấn miền quê lúc ấy hầu như đều biết tên biết mặt Văn Tôn. Hắn có thể chơi thân với tất cả mọi người ở đây, từ anh cán bộ chính quyền, ông bộ đội về hưu, học sinh, cho đến anh thợ cắt tóc, thợ may, thợ cắt dép lốp, từ người có lập trường tư tưởng công nông cho đến những người “lí lịch không trong sạch”... Hắn đi ra đường, hầu như luôn luôn có người chào hắn. Lạ nhất là thỉnh thoảng có những cô gái vừa nhìn thấy hắn, đã kêu lên một cách tự nhiên:

-  Văn Tôn!

Cuối năm 1962, tôi từ Vinh chuyển vào Đồng Hới dạy học. Văn Tôn mừng như bắt được của. Hắn lôi tôi đi khắp thị xã, vào hết nhà nọ đến nhà kia. Đến đâu, không cần giới thiệu, hắn chỉ đọc to lên mấy câu thơ trong một bài thơ dài mà có lẽ hắn đã đọc trước đó cả chục lần, mấy câu thơ dành để giới thiệu về tôi. Lập tức tôi cũng trở thành người nổi tiếng gần bằng Văn Tôn. Tất nhiên, việc ấy đã góp phần tăng thêm nguy hiểm và phiền lụy cho cả hai thằng trong suốt bao nhiêu năm chúng tôi còn sống ở Đồng Hới. Tôi đoán rằng, không ít người đã từng nghĩ: chúng nó thân nhau là phải, ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Có lẽ vì thế mà năm 1975, sau tròn 13 năm, tôi đã không ngần ngại rời khỏi Đồng Hới, dù đó là mảnh đất chôn nhau cắt rốn, vẫn luôn luôn là một phần thiêng liêng trong máu thịt của tôi.

Văn Tôn là một người nồng nhiệt trong tình bạn, có thể nói là nồng nhiệt một cách quá đáng, đến độ ích kỷ. Chỉ cần tôi ở lại Đồng Hới, ngủ lại nhà một ai đó, chứ không phải là chỗ hắn ở, thế là hắn có thể mắng ngay vào mặt tôi, không một chút nể nang. Thật khổ cho tôi, bởi hắn có nhà cửa gì đâu, cái chỗ hắn ở, là cái chỗ hắn ở nhờ, thì có rộng rãi gì cho cam, lại còn đầy khung tranh, giấy và vải cùng bao nhiêu thứ bột màu... Vả lại, hắn đã ở nhờ nhà người ta, tôi đưa xác vào đó, cũng thêm phiền cho người ta. Nhưng không có tôi thì hắn còn biết tâm sự với ai, đọc thơ cho ai nghe? Còn ai để cho hắn ôn lại những ngày Hà Nội đẹp đẽ? Chẳng lẽ ở Đồng Hới tôi có thể có một người đáng để thân hơn hắn được sao?

Sau này, vào thời kỳ chiến tranh, có lần Phùng Quán được đi công tác vào Quảng Bình. Trước khi trở ra Hà Nội, Quán vừa cười vừa nói với tôi:

- Vào Quảng Bình, gặp Văn Tôn, biết ngay là Mỹ thế nào cũng thua. Bom đạn như rứa mà Văn Tôn vẫn cứ là Văn Tôn.

Quảng Bình hồi đó thì ác liệt thật. Không chỉ vì bom đạn suốt ngày đêm, Quảng Bình còn là nơi mà chúng tôi nhìn thấy thường xuyên diễn ra hai hình ảnh như là tượng trưng cho sự thật của một cuộc chiến tranh: những đoàn quân áo quần giày mũ oai hùng nối nhau đi về phía Nam trên con đường này và những đoàn thương binh quấn đầy băng trắng trở về Bắc trên con đường khác. Không chỉ khổ vì bom đạn, chúng tôi còn trở thành những kẻ thiếu đói, hầu như lúc nào cũng có cảm giác thèm ăn. Có những ngày thứ lương thực chủ yếu của chúng tôi là rau má. Vậy mà Văn Tôn không thể bỏ được bất kỳ thứ nghiện nào của mình: thuốc lá và chè tàu. Kiếm ra thuốc để hút đã lạ, kiếm ra chè để uống còn lạ vô cùng. Tôi chưa hề gặp Văn Tôn ở đâu mà không có bộ ấm chén pha trà với những cái chén hạt mít màu nâu nâu của hắn. Chưa hề gặp Văn Tôn mà không có quyển sổ nháp thơ dày cộm của hắn. Gặp Văn Tôn là Văn Tôn đang có mấy bài thơ mới làm, phải nghe. Thơ cứ như là một thứ kinh cho Văn Tôn tụng niệm hàng ngày. Tính tình Văn Tôn lúc nào cũng vậy, vừa đáng yêu vừa khó chịu, vừa rất phóng khoáng như nghệ sĩ vừa dễ dỗi hờn như trẻ con, vừa lịch thiệp vừa nghiệt ngã... Hầu như tất cả những thứ ấy đều hoàn toàn thống nhất, trở thành một khối, tạo nên cái chất Văn Tôn, không giống ai, một tính cách Văn Tôn.

Còn nhớ, hình như vào đầu năm 1964, Ty Văn hoá Quảng Bình cho in một tập san kiểu như tuyển tập văn thơ, lấy tên là Cành Xuân. Có thể coi đây là sự việc trọng đại: lần đầu tiên tỉnh có một tập thơ văn khá dày dặn, chất lượng nghệ thuật cũng đáng tự hào, bìa đẹp, nhiều trang có minh họa, được coi như lời trình làng chính thức của một khái niệm từ nay đã có thật: Hội Sáng tác Văn nghệ Quảng Bình. Điều rất hay nữa là tất cả bài vở in trong tập Cành Xuân đều có nhuận bút. Bởi vậy nên mới có một cuộc liên hoan tất niên rất rộn ràng tại một cửa hàng ăn uống. Mặt mũi hai đứa Văn Tôn và Hà Nhật đến dự buổi liên hoan ấy khá là rạng rỡ. Văn Tôn được in một chùm thơ về biển, Hà Nhật được in một chùm thơ ngắn Gửi Cu - ba, có minh họa của Văn Tôn. Có điều là cả hai đứa không được dùng bút danh cũ mà phải dùng bút danh mới. Văn Tôn dùng bút danh là Hải Bằng, còn tôi dùng bút danh là Mai Liêm. Ôi, quan trọng gì chuyện ấy, miễn chúng tôi từ nay có thể in bài của mình trên cái đất Quảng Bình này là được rồi! Cũng từ đó, hai thằng nghiễm nhiên trở thành hội viên của Hội Sáng tác Quảng Bình (Đến kỳ đại hội Văn Nghệ Quảng Bình năm 1974, tôi còn trúng cử vào ban chấp hành nữa chứ! Văn Tôn không trúng cử nhưng là người “có số phiếu cao nhất trong những người không trúng cử”!

Cũng vào khoảng thời gian in tập Cành Xuân, một hôm, bằng một giọng hài hước, Văn Tôn còn báo cho tôi một tin vui khác:

- Tau vừa được vô biên chế, lương ba mươi sáu đồng.

Ba mươi sáu đồng, ấy là bậc lương khởi điểm của một anh lao công hay một bà cấp dưỡng!

Lai lịch Hải Bằng là vậy. Từ đó cho đến nay, không có thơ Văn Tôn mà chỉ có thơ Hải Bằng.

Từ cuối năm 1975, tôi đi một mạch vào Nam, chỉ thỉnh thoảng đôi ba năm mới về quê, ghé qua Huế. Có lần ngồi cùng Văn Tôn giữa đông đảo bạn bè ở Huế, người thì gọi ông Hải Bằng, người thì gọi anh Hải Bằng hay chú Hải Bằng, riêng tôi vẫn chỉ gọi Văn Tôn. Bởi với tôi, hắn mãi mãi là Văn Tôn từ những ngày lận đận ở Phà Đen, Nghi Tàm, rồi Cảnh Dương, Đồng Hới... một Văn Tôn có lúc giận đến muốn tuyệt giao, nhưng rồi nghĩ lại những lúc cay đắng, chỉ có hai thằng là bạn nối khố, như hai kẻ bị ruồng bỏ, chỉ có hai thằng biết nhau và nâng đỡ cho nhau, trong thơ và cả trong đời.

Có một chuyện vui vui, tôi muốn dùng để kết thúc bài văn tản mạn này. Ấy là sau khi Văn Tôn có vợ, bởi chị Chiến là chị con cô con cậu với tôi, Văn Tôn nghiễm nhiên trở thành anh tôi. Một lần, nửa đùa nửa thật, Văn Tôn nói:

- Nì Hà Nhật, mi thử gọi tau bằng anh một lần coi chơi.

Tôi cười:

- Chịu!

Cũng lạ thật, cả Văn Tôn và Phùng Quán đều hơn tuổi tôi, nhưng kể từ lúc mới quen nhau rồi thân thiết, cả ba đứa chỉ có một cách là “tau mi” với nhau.

Cho đến cái lần lên đồi thăm mộ, hình dung Văn Tôn nằm dưới mộ, một nỗi buồn mênh mông chợt xô đến, tôi cũng chỉ nói được:

- Văn Tôn ơi, tau đến thăm mi đây! 

Thật ra, dù Văn Tôn hay Hải Bằng, trước sau chỉ có một con người ấy, một con người mà khát vọng lớn nhất ở đời là được sống để làm thơ, làm thơ thôi, chứ không làm gì cả. Có lẽ, triết lý cao nhất của Văn Tôn: tôi làm thơ, ấy là tôi tồn tại. Suốt đời, Văn Tôn vùng vẫy, nhiều lúc đến khốn khổ, đến tuyệt vọng, cho khát vọng ấy. Văn Tôn sẵn sàng so găng với cuộc đời, với mọi người, với cả chính mình, chỉ vì khát vọng ấy.

Đọc thơ Văn Tôn, đọc thơ Hải Bằng, chính là tìm đến khát vọng ấy.

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 8 - 2007

            H.N.L.D.C


HẢI BẰNG
(03.02.1930 - 07.7.1998)


Thơ hai câu

Nhìn biển mùa hè tôi nghĩ về em
Nhưng khi nhìn em tôi lo biển động
*
Con muỗi bay lên từ mặt nước ao nhà
Không dám nhận mình là bọ gậy
*
Nếu em là làn gió nhẹ thổi quanh tôi
Tôi cũng bình tâm chờ cơn bão đến
*
Trăng nói với mặt trời:
      - anh sáng ban ngày tôi sáng ban đêm
Thế mà dưới trần gian vẫn kêu còn tăm tối
*
Trong tiếng thủy chung có niềm hy vọng
Sao mái tóc em rối cả niềm tin
*
Nguyện với cây bút viết lời thơ như dòng sông êm ả
Giọt mực nào cũng gợn nét đăm chiêu
*
Người không có quê hương
Đến đâu cũng là nơi xa cách
*
Mùa đông em lấy lửa của tôi đi
Đến mùa hạ tôi đã thành đám cháy
*
Cầu bắc qua mọi dòng sông
Không bắc qua được những gì đã mất
*
Chiếc ghế mỗi ngày thêm bóng loáng
Chẳng còn biết mình là cây


Thơ bốn câu

Lời tựa

Suốt đời viết mãi cuộc chia ly
Hằng triệu câu thơ chẳng nghĩa gì
Chỉ tủi thời gian khi bạc tóc
Em cầm tuổi trẻ của tôi đi

Nhà thơ 2

Dòng nước tuôn qua dòng lệ chảy
Mái chèo nhịp nắng chớp ngang sông
Vầng trăng rải chữ tràn lên giấy
Hơn nửa đời thơ được mấy dòng

Trót yêu

Chẳng biết bao lâu tới được bờ
Trót yêu đành chịu nỗi bơ vơ
Em xui tôi sống làm thi sĩ
Bắt mọi đau buồn phải hoá thơ.

Tình yêu

Ai ví em như gió trở mùa
Chập chờn cái ráng giữa mây thưa
Khi nhìn rõ nét giai nhân ấy
Tôi bỗng sa vào trận bão mưa!

Lời diễn viên

Bước lên sân khấu tìm đời
Bóng ma trộn lẫn bóng người nhá nhem
Bước xuống sân khấu là đêm
Xin đời trả lại cho em mấy ngày


Đề lên năm tháng

I.
Trăm chuyện buồn thức tỉnh
Một lần vui: chiêm bao
Dấn vào trăm trận lửa
Về - một ngọn dầu hao
Góp trăm tiếng chung thủy
Nhận một lời khổ đau
Qua trăm mùa xuân nhớ
Một chiều đông trắng đầu

II.
Nước mắt đã khô rồi
Tờ khai sinh còn ướt
Con ngươi sáng tỏ rồi
Vẫn mập mờ phía?
Dù em ở trong tôi
Làm sao mà gặp được!

III.
Thân nhồi trong biển động
Mắt ngợp mưa xói bờ
Khi choáng đầu trên sóng
Tưởng mình còn trong mơ...

IV.
Vườn mùa thu trở lại
Một mình trăng lẻ loi...

V.
Quả không cần chín mãi!

(245/07-09)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN QUANG HÀNgồi đọc NGÀN NĂM SAU mà như đang ngồi nói chuyện tay đôi với Nguyễn Trọng Bính. Giọng thơ anh cũng cứ chân chất, yêu quê hương và say đời như chính con người anh. Từ thời chiến tranh, chúng tôi đã ở trong rừng với nhau. Cứ ngồi với nhau là bộc bạch hết. Một lá thư riêng, một rung động mới, chúng tôi cũng chia sẻ với nhau.

  • PHAN THÀNH MINHĐó cũng là tựa đề tập thơ rất dễ thương của Trần Tịnh Yên - nhà thơ của đất kinh kỳ thơ mộng thuở nào - thú thật  là tôi đã vô cùng hạnh phúc khi nhận được tập thơ này do chính  tác giả gởi tặng, dễ thương ở chỗ khổ giấy nhỏ nhắn, trình bày đẹp trang nhã, sách 80 trang với 46 bài thơ cũng mỏng mảnh như thế nhưng nhìn rất thơ, càng thơ hơn nữa khi chính tác giả tự viết lời phi lộ cho mình, tôi rất hợp với anh ở điểm này bởi lẽ chẳng ai có thể thay thế cho mình bằng mình để nói hộ những gì mình muốn nói...:...năm xưa qua ngõ sân đìnhcó người nhặt được mối tình ai rơi

  • NAM NGỌC            (Về tập truyện ngắn mới nhất của nhà văn Võ Thị Xuân Hà do Công ty Truyền thông Hà Thế liên kết NXB Phụ nữ xuất bản và phát hành quý I năm 2009)Tập truyện gồm 14 truyện  ngắn, với những mô típ khác nhau nhưng cùng chung gam màu thấm đẫm chất liệu hiện thực. Tất cả đã tạo nên một chỉnh thể thống nhất mà ở đó các nhân vật dù xấu dù tốt cũng đều hướng tới cái đẹp, cái nhân bản của con người. Cách viết truyện lạ cùng với những chi tiết, tình tiết được lắp ghép một cách khéo léo, Võ Thị Xuân Hà đã một lần nữa gây ngạc nhiên cho người đọc bằng bút pháp ẩn không gian đa chiều của mình.

  • BÍCH THUHơn một thập niên trước đây, với hai truyện ngắn Hồi ức của một binh nhì và Vết thương lòng, Nguyễn Thế Tường đã đoạt giải cao trong cuộc thi truyện ngắn do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức năm 1992 - 1994. Tôi còn nhớ một trong số các nhà phê bình đã thành danh của nhà số 4 Lý Nam Đế không kìm được cảm xúc của mình với chùm truyện dự thi của Nguyễn Thế Tường lúc ấy đã thốt lên: “Tôi thích truyện ngắn Nguyễn Thế Tường”. Từ đó đến nay, Nguyễn Thế Tường vẫn miệt mài viết và lặng lẽ ra sách. Người đàn bà không hoá đá là lần ra mắt thứ năm của anh.

  • HOÀNG VŨ THUẬT                (Đọc “Trăng đợi trước thềm”, thơ Hải Bằng, NXB Thuận Hoá - 1987)Đổi mới là trách nhiệm vừa là bổn phận đang diễn ra sôi động trong đời sống văn học hôm nay. Nhưng ranh giới giữa cũ và mới không dễ dàng phân định khi đánh giá một tác phẩm văn chương nghệ thuật.

  • ĐINH NAM KHƯƠNG               (Nhân đọc “ru em ru tôi” Thơ Trương Vĩnh Tuấn NXB: Hội nhà văn - 2003)Có một nhà thơ nổi danh thi sĩ, làm “quan” khá to ở báo văn nghệ. Nhưng chẳng bao giờ thấy ông vỗ ngực, ngạo mạn nói lời: “ta là quan đây” mà ông luôn dân giã tự gọi mình là hắn, xưng hô với bạn bè là mày tao:                          “...Hình như hắn là nhà quê                          Hình như hắn từ quê ra...”                                                                (Gốc)

  • NGÔ MINHKhông thể đếm là tập thơ đầu tay của cây bút nữ Nguyễn Thị Thái người Huế, sống ở thành phố Buôn Ma Thuột vừa được NXB Thuận Hóa ấn hành. Tôi đã đọc một mạch hết tập thơ với tâm trạng phấn khích. Tập thơ có nhiều bài thơ hay, có nhiều câu thơ và thi ảnh lạ làm phấn chấn người đọc.

  • MINH KHÔICuối tháng bảy vừa qua, giáo sư ngôn ngữ và văn chương Wayne S.Karlin và nữ phóng viên Valerie, công tác ở một Đài phát thanh thuộc bang Maryland, Mỹ đã đến Huế tìm thăm nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, để chuyển cho chị bản hợp đồng in ấn và phát hành tập thơ Green Rice (Cốm Non) do cơ quan xuất bản gửi từ Mỹ sang.

  • FRED MARCHANTCó những vết thương chẳng thể nào lành lặn và có những nỗi đau chẳng bao giờ mất đi. Kinh nghiệm nhân loại khuyên ta không nên “chấp nhận” hay “bỏ đi” hay “vượt lên” chúng. Với một con người mà tâm hồn thương tổn vì đã làm cho người khác khổ đau hay chứng kiến nhiều nỗi đau khổ thì những câu nói như thế hoàn toàn vô nghĩa.

  • BÍCH THU          (Đọc thơ Dòng sông mùa hạ của Hoàng Kim Dung. NXB Hội Nhà văn, 2004)Nhìn vào tác phẩm đã xuất bản của Hoàng Kim Dung, tôi nhận thấy ở người phụ nữ này có sự đan xen giữa công việc nghiên cứu khoa học với sáng tạo thi ca. Ngoài bốn tập thơ và bốn cuốn sách nghiên cứu về nghệ thuật đã in, với tập thơ thứ năm có tựa đề Dòng sông mùa hạ mới ra mắt bạn đọc, đã làm cán cân nghiêng về phía thơ ca.

  • ĐÔNG HÀVăn hoá và văn học bao giờ cũng có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có thể thấy rằng văn học là một bộ phận của văn hoá, nó chịu sự ảnh hưởng của văn hoá. Khi soi vào một thời kì văn học, người đọc có thể thấy được những khía cạnh về phương diện đời sống văn hoá tinh thần của một thời đại, một giai đoạn của xã hội loài người.

  • HÀ KHÁNH LINHViết được một câu thơ hay có khi phải chiêm nghiệm cả một đời người, hoàn thành một tập truyện, một tập thơ là sự chắt chiu miệt mài suốt cả quá trình, sau Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ VII Lê Khánh Mai liên tiếp trình làng tập thơ "Đẹp buồn và trong suốt như gương" (Nhà xuất bản Hội Nhà văn) và "Nết" tập truyện ngắn (Nhà xuất bản Đà Nẵng).

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOCó người làm thơ dễ dàng như suối nguồn tuôn chảy không bao giờ vơi cạn. Có người làm thơ khó khăn như đàn bà vượt cạn trong cơn đau sinh nở. Có người không đầy cảm xúc cũng làm được ra thơ. Có người cảm xúc dâng tràn mà trước thơ ngồi cắn bút. Thơ hay, thơ dở, thơ dở dở ương ương tràn ngập chợ thơ như trên trời dưới đất chỉ có thơ. Thơ nhiều đến ngạt thở chứ thơ chẳng còn tự nhiên như hơi thở mà ta vẫn hoài vọng một thời.

  • THẠCH QUỲSuốt đời cần mẫn với công việc, luôn mang tấm lòng canh cánh với thơ, vì thế, ngoài tập “Giọng Nghệ” in riêng và bao lần in chung, nay Ngô Đức Tiến lại cho ra tập thơ này.

  • Trong đội ngũ những người hoạt động văn nghệ tại Thừa Thiên Huế, bên cạnh các Hội chuyên ngành trực thuộc Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật (như Hội Nhà văn, Hội Mỹ thuật, Hội Âm nhạc…) có một tổ chức gọi là “Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thừa Thiên Huế”(CHNV).

  • Hà Khánh Linh xuất thân trong một gia đình khoa bảng nổi tiếng ở Huế. Tên khai sinh của chị là Nguyễn Khoa Như Ý. Năm 20 tuổi, đang học dở dự bị đại học Khoa Học Sài Gòn thì chị quyết định bỏ học để gia nhập quân Giải phóng. Từ đó cho đến khi nghỉ hưu chị đã từng đi dạy, làm phóng viên Đài phát thanh Giải phóng, Đài phát thanh Bình Trị Thiên, làm biên tập, Thư ký Tòa soạn rồi Phó tổng biên tập Tạp chí Sông Hương. Chị quen biết và giao tiếp khá rộng từ các vị quan chức đến các vị đại đức, linh mục, trí thức... cùng những năm tháng gian khổ ở chiến trường Trị Thiên, những chuyến đi thực tế ở Căm pu chia... đã giúp chị có một vốn sống hết sức phong phú.

  • Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ sinh ra và lớn lên bên bờ sông Kiến Giang thơ mộng. Nhưng tuổi thơ của chị chứa đầy buồn đau và nước mắt: Mẹ không có cửa nhà/  Em đứa trẻ vắng cha/ Như mầm cây trên đá/ Biết khi nào nở hoa? Nỗi tuyệt vọng cứ ám ảnh suốt cả tuổi thơ của chị. Trong một bài thơ đầu tay chị viết: Tuổi thơ tôi như ráng chiều đỏ lựng/ Hắt máu xuống dòng sông đen.

  • Trần Thùy Mai bắt đầu được các bạn trẻ yêu thích văn chương ở Huế biết đến khi chị đang học ở trường Đồng Khánh những năm trước giải phóng (1975). Tốt nghiệp vào loại xuất sắc, chị được giữ lại làm cán bộ giảng dạy ở trường đại học Sư phạm Huế. Dạy ở trường đại học Sư phạm Huế được một vài năm, chị chuyển sang làm công tác biên tập ở nhà xuất bản Thuận Hóa. Đây là một quyết định khá táo bạo và sáng suốt. Làm việc ở nhà xuất bản, chị có điều kiện viết lách hơn.

  • LÊ HUỲNH LÂM                 (Đọc Viết bên Hộ Thành hào - thơ Nguyên Quân -, Nxb Thuận Hoá, 2009)Giữa những đổ nát hoang tàn quá khứ và hiện tại, khi mà thang giá trị bị đảo lộn, những mảnh vỡ đang vung vãi mọi nơi, tác giả lại tìm đến Hộ Thành hào để nhìn ngắm cõi lòng đang hỗn hênh mọi thứ và như chợt nhận ra niềm hy vọng mỏng mảnh, anh đã Viết bên Hộ Thành hào.

  • HOÀNG DIỆP LẠCBất chợt giữa một ngày mưa gió, nhìn những hạt nước toé lên từ mặt đất như những đoá hoa mưa. Một loài hoa của ảo giác. Có thể trong tâm trạng như vậy, Lê Tấn Quỳnh chợt hỏi:Hoa vông vangCó hay không