Giếng loạn

17:06 08/02/2010
HỒNG NHUỞ vồng cau giữa của khu vườn nhà tôi cạnh gốc vả có một vũng nước nhỏ, rộng chỉ bằng cái mẹt, không biết có từ khi nào và do ai đào, gọi là cái "giếng loạn".

Nhà văn Hồng Nhu - Ảnh: voque.org

Khi tôi lớn lên, bắt đầu đi học và biết suy nghĩ đôi chút, tôi đã chú ý đến nó. Ban đầu do cái tính tò mò cố hữu của con gái, sau nữa là do bóng mát của cây và có thể gọi là khá um tùm, là nơi hai chị em chúng tôi thường ngồi chơi chuyền chơi ô hay bày hàng bán chợ bằng những cái vỏ sò vỏ ngao lớn nhỏ trong đó đựng nào cát, mẩu búp hoa giâm bụt, nào hạt bời lời, lá chè tàu... giả vờ làm gạo, thịt, cá, rau vân vân...

Gọi là giếng nhưng chả có vẻ gì là cái giếng cả. Nó bé một cách kỳ lạ đã đành, lại còn nông nữa, nông choèn nông choẹt, bẻ cái que dài vài ba gang thò xuống dò đến đáy cũng không ướt tay. Nhưng cái kỳ lạ nhất là mực nước của nó không bao giờ thay đổi, dù cho hạn cùng hạn kiệt hay mưa tầm mưa tả cũng thế. Nói không ngoa là nó không thêm vào một giọt, không bớt đi một giọt, cứ như giếng thần giếng tiên vậy. Một hôm tôi hỏi anh Vũ, anh trai thứ của chúng tôi:

- Anh ơi, cái giếng loạn ở vườn nhà mình là giếng gì vậy? Sao lại gọi như thế?

Anh Vũ trố mắt nhìn tôi như chưa nghe rõ, hỏi giật giọng:

- Em hỏi cái gì? Cái gì?...

- Cái giếng loạn! Ở dưới nương đó, anh không biết à?

Anh Vũ không nói gì, kéo tay tôi ngồi xuống bậc thềm, giọng nghiêm trọng:

- Này Lệ, Lý! các em không được nghịch ngợm gì ở nơi đó, nghe chưa?

- Sao?

- Cha mà biết thì chết đòn! Chỗ đó là chỗ linh thiêng, đàn bà con gái không được bén mảng tới!

Tôi sửng sốt, thấy hơi lạnh sau xương sống. Chị Lệ ấm ức ngước lên, hỏi dồn:

- Sao con gái lại không được tới? Chỉ con trai mới được à? Con gái không phải là người à?

Anh Vũ nhìn khuôn mặt đang bừng bừng của chị Lệ, mỉm cười đứng dậy ôm lấy hai vai chị, dỗ dành:

- Đừng tức giận thế, con gái mà nhăn nhăn nhó nhó cái mặt, xấu lắm. Thôi, để lớn lên chút nữa các em sẽ biết. Chơi thì chơi những đừng đào bới, xả rác, làm bẩn... và đừng để cha biết, cha mắng.

Tôi gật đầu:

- Vâng. Nhưng mà anh đã nghe hết câu chuyện của chúng em đâu? Cái giếng đó nó lạ lắm anh ơi!

Anh Vũ xoa đầu tôi:

- Được, được, để lúc khác. Giờ anh bận, phải đi cái đã!

Cha mẹ tôi sinh được bốn người con, hai trai hai gái. Nghe mẹ kể lại, có mấy lần sinh nở đầu, nhưng đều phải bỏ không nuôi được. Hai anh tôi sàn sàn, cách nhau năm một. Đến đó thì mẹ tôi dừng lại, không đẻ nữa. Một năm, ba năm, rồi tám chín năm, cha tôi tưởng thế là thôi. Đến năm thứ mười bỗng nhiên mẹ tôi lại có bầu, và  lần này hai chị em sinh đôi chúng tôi ra đời. Cha tôi chép miệng thở dài sườn sượt, những tưởng trời cho thêm hai “cán rựa” nữa cho đủ tứ quý, không ngờ vớ phải hai “cái ngao”! - ông nói thế.

Cách nhau xa như vậy nên khi chúng tôi còn ở truồng ở lỗ chạy khắp sân khắp vườn thì anh Vũ tôi đã là một trang thiếu niên khôi ngô tuấn tú, đỗ tiểu hiện xong lên tỉnh hiện tiếp bậc trung học. Chị em chúng tôi giống nhau như hai hạt sương, đến cha tôi và các người trong nhà nhiều khi nhầm lẫn Lý thành Lệ, Lệ thành Lý, cứ lung tung cả lên. Chỉ có mẹ và anh Vũ không nhầm. Anh nói: “Cứ nhìn vào mắt. Cái hồn con người ở trong mắt!” Mẹ thì bảo: “Cả hai đứa đều có nốt ruồi son ở dưới vành tai. Con chị tai trái, con em tai phải”. Cả nhà nghe giải thích, ai cũng cười. Nhìn vào mắt thấy hồn người thì chỉ có anh Vũ thôi, duy nhất. Còn phân biệt chị em như mẹ, chả lẽ mỗi lần như thế lại vạch tai chúng tôi ra xem? Rốt cuộc ai nhầm cứ nhầm, ai không cứ không…

Chúng tôi đậu yếu lược xong, lên lớp nhì nhất niên thì nghỉ, ở nhà giúp mẹ. Thời bấy giờ ở làng tôi, con gái học đến đó đã danh giá lắm, và cũng đã lớn lắm. Cha tôi bảo học thế đã quá  đủ, ở nhà vài năm rôi lấy chồng, thế là xong!

Nghe ông nói, mẹ tôi tủm tỉm cười nhìn chúng tôi âu yếm, còn tôi xấu hổ cúi đầu, hai má tự dưng đỏ rần như vừa từ bếp ra. Chị Lệ im lặng như không nghe gì cả, khều tay rôi ra sau hè. Chị nhìn lơ lửng đâu đó, xa xôi buông từng tiếng:

- “Thế là xong!” Ôi chao, đời con gái tụi mình chỉ như vậy thôi sao? Bỗng chị quay lại, chụp ôm lấy hai má tôi, dọi nhìn vào mắt, giọng đanh lại:

- Chưa xong! Chưa xong đâu! Xong hay chưa là do tự mình, phải không Lý?

Tôi hơi hoảng trước vẻ quyết đoán của chị, không biết phải trả lời chị ra sao cả. Lát sau, tôi kể lại với chị những bí mật về cái giếng loạn mà chị chưa được nghe anh Vũ nói. Rằng khi ông nội tôi để lại mảnh vườn cho cha tôi, đã có cái giếng ấy rồi. Hình như trời sinh ra nó chứ không phải ai đào. Cha tôi chỉ là người đã sửa sang nó cho tròn trặn, đắp cỏ xung quanh miệng giếng cho gọn gàng sạch sẽ. Ông còn thả vào đó một đôi cá thia nhỏ bằng ngón tay út “cho giếng nó có bạn, nó vui, không bao giờ buồn nản” - ông nói thế. Bây giờ đây đôi cá ấy vẫn còn, vẫn lượn lờ trong giếng, và có điều không sao hiểu được là đôi cá không lớn thêm, mãi mãi bé và xinh bằng ngón tay út. Đặc biệt là ông đã chôn những cuống rau của anh chị em chúng tôi xuống quanh đó, mỗi cuống cho vào một cái niêu đất nung nhỏ có nắp đậy. Vì thế, ông không cho phép đàn bà con gái bước chân tới, sợ “ô uế”, làm “động” giếng! Riêng cái khoản mức nước, anh Vũ giải thích: Chắc chắn ở dưới lòng đất, nó thông với một dòng chảy ngầm nào đó, rồi nối với ngọn khe gọi là khe Ồ Ồ gần như ngoằn ngoèo chảy suốt chiều dài không lấy gì làm thẳng thớm suôn sẻ của làng tôi, xuôi ra sông ra biển…

Chị Lệ nhướn lông mày, hỏi:

- Thế sao gọi nó là “giếng loạn”? Loạn giặc loạn giã, loạn âm loạn dương hay loạn tiền loạn gạo?

Tôi ngớ ra “à nhỉ?” và tịt cứng. Chị Lệ tiếp:

- Đừng tin Lý ạ. Chẳng qua các cụ lòng thành mà bày ra thế thôi. Cũng không có gì ghê gớm. Chị em mình chẳng tin nhưng cũng lòng thành, thế là được! Đừng sợ sệt, lo lắng chi cho mệt. Vả lại, giờ chị em mình đã lớn rồi, không chơi những trò trẻ con ở đó nữa!

Năm đó, gia đình tôi xảy ra một việc hệ trọng.

Anh cả tôi, cha bắt lấy vợ từ rất sớm, xây thêm một ngôi nhà bên cạnh cho ra ở riêng, đã yên một bề, không nói làm gì. Anh Vũ học trên tỉnh, đến năm sửa soạn thì lấy bằng đíp-lôm thì bỏ dở vào Đà Lạt làm ăn. Anh đánh giấy về nói là làm thư ký cho một đồn điền ở đó; ông chú là cha người bạn học thân thiết của anh: ông này là người bà con bên họ mẹ tôi, gọi mẹ tôi bằng chị. Chuyện anh Vũ thế cũng đành đi một nhẽ, chưa có gì phải quá bận tâm. Tất cả ở chỗ người chị sinh đôi với tôi. Cha tôi có một người bạn học từ nhỏ ở làng bên cạnh cách một con sông nhỏ. Ông này làm nghề bốc thuốc bắc ở chợ bên kia, mọi người thường gọi là ông Tú Nhơn. Đúng cái hôm được tin anh Vũ , ông Tú Nhơn đến nhà tôi chính thức hỏi xin chị Lệ cho anh con út là Luân đang dạy học bên huyện. Hóa ra từ lúc chúng tôi còn nằm trong bụng mẹ, cha tôi và ông Tú đã hứa hẹn gả con cho nhau.

Chị Lệ đi chợ về thì mọi sự đã xong xuôi, cha mẹ tôi đã nhận trầu rượu của ông Tú. Chị kêu “trời ơi!” một tiếng rồi vò đầu bứt tai ngồi rũ xuống. Tôi thương chị quá mà không biết làm gì, đứng nhìn chị, nước mắt cứ chảy ra. Anh cả tôi bên nhà chạy qua, thấy cảnh đó lắc đầu than vãn: “Một thằng thì bất nghĩa, một con thì bất hiếu, cha mẹ chắc rồi khô héo mòn mỏi mất thôi!” Nói xong , quày quả vào. Chị Lệ ngẩng phắt đầu đứng dậy:

- Việc gì mà phải khổ sở, Lý? Chị không khóc lóc thì thôi, em khóc lóc làm gì?

Tôi nhìn khuôn mặt bình thản và ráo hoảnh của chị, ngạc nhiên quá đỗi. Tôi bỗng sực nhớ đến là cha tôi “Thế là xong!” Chuyện rồi ra thành sự thật ư? Ôi thôi là cuộc đời con gái chị em tôi! Hình ảnh cái giếng loạn lại hiện lên trong tâm trí. Hay là chúng tôi đã làm nó “động” rồi? Nếu vật, tất cả tội lỗi đều do tôi, tôi chính là thủ phạm đã lôi kéo chị Lệ đến chơi bời vầy đất vầy cát ở đó; giờ đây chuyện tình duyên ép buộc của chị cũng do tôi nốt à…? Chao ôi!

Thương chị thì nghĩ đau nghĩ khổ như vậy nhưng trong thâm tâm , tôi thấy chị Lệ và thầy Luân là một đôi chẳng đến nỗi nào. Thầy Luân được học hành tử tế, lại con nhà gia giáo, làm thầy học trong huyện ai cũng khen là người tốt người giỏi… Cầu mong cho ngày qua tháng lại, chuyện của hai người êm đẹp mọi điều…

Bây giờ đang là mùa cau. Vườn cau nhà tôi lâu năm, có thể gọi là toàn cây cổ thụ. Cứ cao vút, thẳng ro, chọc mãi lên trời như không kiêng nể cái gì, kiêng nể ai. Để trèo lên hái những buồng cau trĩu qua từ trên cao xuống, phải là những tay có nghề. Anh Giành người xóm dưới là một trong những người có nghề ấy ở làng tôi. Anh không cha không mẹ, nghe nói họ đã mất từ hồi anh còn bé tí. Anh ở một mình, lớn lên một mình, làm thuê để nuôi sống bản thân. Cực khổ là thế nhưng lạ, nom anh rất dễ thương; mặt mày cân đối, vóc dáng nho nhã như học trò, tính tình lại hiền hậu, hơi rụt rè như con gái. Lại nghe nói ngày ngày anh thường ghé chỗ trường làng, đứng ngoài dòm vô, chỉ học lỏm mà biết đọc biết viết, thế mới đáng khen… Thường lệ mỗi kỳ thu hái cau, cha tôi lại bảo chị em tôi xuống gọi anh lên. Anh cởi trần, mặc độc chiếc quần đùi, ngang lưng thắt một chiếc dây dừa, tay cầm chiếc nài bện bằng gân sống lá chuối mốc khô dấp nước cho dịu. Anh ngoắc nài vào hai bàn chân, tay bíu thân cau, leo thoăn thoắt lên, móc túi sau lấy con dao nhíp nhỏ sắc ra, rạch một đường chỗ ngàm buồng cau ôm thân, bóc cái xoẹt. Đoạn , anh khéo léo gài buồng cau vào thân cây cho trượt xuống gốc. Từ trên ngọn, anh co mình lấy đà, nhún một cái mạnh và dẻo queo tựa như xiếc. Vút vút! Thoắt cái, thấy anh đã bám vào một ngọn cau khác. Và một buồng tiếp theo lại được trượt xuống gốc. Cứ thế, hết ngọn này đến ngọn khác, anh Giành như con vượn cần mẫn và tài tình, chỉ cần một lần lên và một lần xuống, cho đến lúc buồng cau cuối cùng của một vụ thu hái vườn nhà tôi được gọn.

Chúng tôi thu gom những buồng cau lại và chuyển vào nhà. Anh Giành mở vòng dây dừa ở thắt lưng luồn vào ba bốn buồng, thắt lại, mỗi bên vai ngoắc thêm mấy buồng nữa, trên cổ lại một buồng, rồi cứ thế thậm thịch, thậm thịch từ nương lên nhà, chuyển kỳ hết các đống cau chị em tôi đang làm dở. Mẹ tôi trả tiền công cho anh xong, anh ra về. Ngang qua chỗ vại nước, anh dừng lại múc một gáo rửa chân. Tôi thoáng nghe anh hỏi chị Lệ nho nhỏ:

- Nghe nói là…

Chị Lệ trừng mắt. Anh im bặt ngay. Tôi liếc nhìn hai người, chẳng hiểu gì cả.

Một đêm, khuya lắm chị em tôi vẫn còn thầm thì trong chăn đủ các thứ chuyện trong làng ngoài xóm. Chị Lệ ghé sát vào tai tôi:

- Lý ơi, sáng nay chị đã lén mua trầu rượu qua bên kia sông gặp thầy Luân.

- Ôi , trả lễ à? Chị bạo gan thế à?

- Chị đã nói thật hết lòng mình. Rằng chị rất quí trọng thầy nhưng không thể lấy thầy, thầy hãy thưa lại dùm với hai bác. Trong lòng chị đã có một người rồi!

Tôi giật mình:

- Người nào vậy? Thấy Luân nói sao?

- Người nào sau em sẽ biết. Còn thầy Luân, nghe chừng rất hiểu chị. Thầy nói:

"Tuy vậy nhưng đã có gì ràng buộc nhất thiết không cởi được đâu, Lệ cứ tùy lòng mình mà làm. Tôi không ép Lệ phải yêu tôi lấy tôi khi mà Lệ không muốn. Để rồi tôi tìm cách thưa lại với cha mẹ tôi. Lệ hãy tin tôi đi".

- Không ổn đâu chị ơi! Thầy Luân hiểu bụng chị, nhưng ông bà Tú cứ một mực không hiểu, chị tính sao? Rồi còn cha mẹ mình nữa...!

- Chỉ cần bên ấy họ lờ đi, họ không xin cưới thì thôi chứ gì? Người ta không xin cưới, chả lẽ cha mẹ mình trói mình lại mang dâng cho người ta à? Thôi ngủ đi, việc của chị để chị lo. Ngủ đi, gà sắp gáy rồi đó!

Không biết chị tôi thu xếp ra sao, tính toán điều gì, còn tôi nghĩ đến tính nghiêm khắc của cha mà lo thắt ruột. Tình cảnh này cha tôi chắc chắn không để cho chị được yên ổn rồi. Trong phút chốc, cái giếng loạn với những cuống rau của anh chị em tôi chôn xung quanh đó lại trở về ám ảnh tôi. Giá mà chị Lệ... Giá mà tôi có thể... Tôi thiếp đi trong một nỗi thấp thỏm nặng nề, đầu cứ ong ong, ong ong như tò vò đang xây tổ...

Chợt tỉnh giấc, tôi quờ tay sang bên cạnh. Tay tôi bị hẫng. Tôi vùng ngồi dậy, giụi mắt nhìn. Không thấy chị Lệ đâu cả. Linh tính có chuyện không hay, tôi vặn to ngọn đèn vẫn để tù mù góc phản bên cạnh. Một mảnh giấy gấp nhỏ chặn dưới chân đèn. Tôi lập cập mở ra, đọc. Trời! Tôi vội vàng chạy lên nhà trên, khua cha mẹ tôi dậy, kể hết sự tình...

…Thấm thoắt mấy năm đã trôi qua. Trong thời gian ấy có biết bao nhiêu thay đổi, mà lớn lao nhất là nước nhà thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, dân mình được sống trong không khí mới độc lập, tự do.

Còn nhớ cái hôm chị tôi bỏ nhà ra đi, tôi cứ đinh ninh cha tôi sẽ nổ ra một trận lôi đình, nhưng cũng rất lạ, sau khi nghe tôi kể hết mọi chuyện, ông nín thinh, trên vầng trán cao xương xương của ông thoáng vờn mấy nếp nhăn trầm tư suy ngẫm. Vốn là một nhà nho kiêm người làm vườn, trong ông trộn lẫn các tính cách có phần trái ngược nhau: vừa nghiêm khắc nền nếp, giấy rách phải giữ lấy lề, không có gì làm cho suy suyển được, vừa thực tế tùy cơ như người nông dân theo mùa màng, thời tiết biến động mà bón chăm cây quả sao cho thu hái được nhất, ít thất bát nhất. Một tiếng hú dài cất lên ngoài động cát của người đi biển gọi nhau, và một tiếng khác ngắn hơn đáp lại từ bìa làng đang lặng chìm trong giấc sáng, báo hiệu là một đêm sắp qua, một ngày đang tới kéo chúng tôi về với hiện tại. Trong lúc hai mẹ con tôi đang ôm nhau buồn bã ngồi không biết phải nói gì làm gì thì cha tôi đằng hắng một tiếng:

- Hừm... ừm! Thôi, số đã vậy thì cứ chịu vậy. Nó đã quyết trốn đi, có thắp đuốc soi cũng chẳng tìm ra. Mẹ nó đừng buồn lo, sinh bệnh. Giờ như thế này: Không được ồn ào chộn rộn gì cả, coi như yên ổn hết, không để làng xóm biết. Con Lý từ giờ phải đóng hai vai: khi là chị, khi là em, tùy cơ ứng biến. Để hàng xóm láng giềng khỏi nghi ngờ, đàm tiếu. Gì thì gì, phải tránh cho được cái tiếng gia phong nhà mình suy bại, nghe chưa?

Nói rồi, ông đứng lên, thong thả bước ra sân. Tôi biết thế là mọi chuyện đã được quyết định, không bàn cãi nữa. Hai mẹ con đi xuống bếp. Tôi nhóm lửa đặt chảo cát lên, sửa soạn rang ngô. Mẹ tôi buông thỏng hai tay, ca cẩm:

- Cũng tại cha mày! Trước khi nhận trau cầu của người ta, phải hỏi nó ưng hay không ưng đã chớ! Ép dầu ép mỡ chứ ai lại nỡ ép duyên! Khổ chưa...?

Tôi vừa đảo ngô trong tiếng nổ lép bép vừa cố làm cho mẹ vui:

- Chà chà, từ giờ trở đi con phải nhận lãnh cả hai vai tuồng cải lương đây, phải múa may quay cuồng đây! À mà phải làm thế nào, mẹ?

- Làm thế nào kệ cha con mày, tau không biết!

- Khó thật, khó quá! À mẹ này, đúng là cái số như cha nói. Anh Vũ tuổi Ngọ cho nên phải chạy. Còn con tuổi Mão, mèo chỉ quanh quẩn ở nhà thôi!

- Mày méo đúng rồi, con chị mày sinh đôi với mày, không tuổi mèo thì tuổi gì, hả? Sao nó lại trốn đi, hả? - mẹ tôi vặn.

Tôi chống chế, huyên thuyên:

- Chị Lệ mèo nhưng là mèo đực. Mèo đực có đi hoang thỉnh thoảng, rồi cũng lại về!

- Nói thế cũng nói được! - mẹ tát yêu vào má tôi - còn mày nữa, liệu cái thần hồn!

Ngày hôm sau, cha tôi bảo:

- Sửa soạn mau, đi với cha! Lấy cái áo dài màu trứng sáo con chị mày vẫn ưa, mặc vào!

Tôi vừa mặc áo vừa run, bụng nghĩ: "Thế là cha bắt mình nhập vai ngay bây giờ đây!"

Vào đến nhà ông Tú Nhơn, thấy ông đang ngồi uống trà ở gian ngoài. Chủ khách vừa kịp chào nhau, chưa kịp ngồi, cha tôi đã chấp hai tay lại:

- Tôi qua đây để tạ lỗi cùng anh . Tôi sinh con ra nhưng không dạy được con, nó đã dám làm trái là cha mẹ - ông ngoảnh lại, quát tôi: “Lệ! Đến quì trước mặt bác Tú đi!” Tôi hốt hoảng quì xuống, cúi đầu; ông quát tiếp: “Nằm sấp xuống! Được!” - ông quay lại, hướng về pháp ông Tú - Tôi đã thất hứa với anh, vì đứa con mất nết. Trước mặt anh đây, tôi xin trừng phạt nó! Để nó nhớ đời, và cũng để mong anh bỏ quá cho tôi!

Nói rồi, nhanh như chớp ông bước đến tấm liếp bên cạnh, rút cây roi mây của nhà ông Tú Nhơn vẫn giắt sẵn ở đó, bước tới dang thẳng cánh quất vào tôi ba roi đau điếng người, đau quằn quại…

Sự việc diễn ra quá nhanh, quá liên tục, làm cho ông Tú Nhơn không kịp can ngăn, dù chỉ là một cử chỉ nhỏ…

Trở lại chiều hôm nay. Cha tôi từ ngày chính quyền mới của xã bầu làm ủy viên ủy ban phụ trách an ninh trật tự, ông bận liên miên, đi suốt cả ngày lẫn đêm. Công việc ở địa phương những ngày đầu của cuộc sống mới quá bề bộn đã lôi cuốn ông vào guồng máy quay không ngưng nghỉ. Rồi anh Vũ tôi gửi thư về báo tin đã gia nhập Giải phóng quân, công tác tận chót Bạc Liêu, Cà Mau. Anh nói anh đã theo Việt Minh hoạt động bí mật từ hồi ở Đà Lạt. Cả nhà ai cũng mừng, nhất là cha tôi. Có lẽ vì những điều đó nên tính ông dường như có phần thay đổi. Ông đỡ nghiêm khắc cứng nhắc hơn, đỡ “gia trưởng” hơn, đối với con cháu và người làm trong nhà, ông thể tình mềm mỏng hơn mỗi khi có gì ông không vừa ý.

Mùa xuân năm đó đến thật rộn ràng. Trong  làng ngoài xóm nhà nào cũng náo nức sắm sanh, trang hoàng lộng lẫy để ăn cái Tết đầu tiên trong không khí nước nhà độc lập , tự do. Thường lệ nhà tôi gói bánh tét từ hăm tám, tháng thiếu thì từ hăm bảy. Năm nào cũng vậy, cứ dịp này là mẹ tôi như đứng ngồi không yên, bà luôn chân luôn tay nhưng trong cử chỉ của bà vẫn ẩn giấu một nỗi bồn chồn mong ngóng. Mà ai trong nhà cũng vậy chứ, ai cũng mong xum họp chứ ai lại muốn chia ly, nhất là trong những ngày như thế này.

Nồi bánh vừa nổi lửa xong thì trời chập choạng tối. Cả nhà ngồi ăn cơm trong hơi ấm của đêm cuối năm, mỗi người một ý nghĩ nhưng chắc ai cũng đang hy vọng, đang khấp khởi mơ hồ với những gì tốt đẹp sắp đến, sẽ đến trong năm mới.

Tôi đang thu dọn, rửa bát đĩa thì nghe tiếng thằng cháu con anh cả hỏi to:

- O Lý đi đâu về tối vậy? Bồng con ai đó?

Tôi ngoảnh sang phía nhà anh cả:

- O đang ngồi rửa bát ở đây! Con vừa nói cái chi?

Bỗng như một luồng gió thốc qua, tôi vụt nghĩ ra, quăng cái đĩa đang rửa trên tay, chạy nhào ra cổng.

- Ôi chị Lệ! chị Lệ! Cha ơi mẹ ơi! Chị Lệ về rồi!

Chị tôi cũng nhào tới. Hai chị em ôm riết nhau làm đứa bé trên hông chị khóc ré. Chị chuyền đứa bé cho người nào đó đi phía sau trong bóng tối tôi chưa nhìn rõ mặt. Mẹ tôi chạy ra, khóc khóc cười cười:

- Tổ cha mày! Mày bỏ cha bỏ mẹ đi đâu mấy năm nay, giờ mới chịu đâm mặt về…!

Chị Lệ nước mắt nước mũi giầm giề:

- Con xin mẹ, con xin mẹ! Vào nhà, con sẽ thưa chuyện cùng cha mẹ. Đây là anh Giành, mọi năm vẫn hái cau cho nhà ta, chắc mẹ còn nhớ.

Tôi nhìn lại. Thì ra đúng là anh Giành! Anh im re, mồm há ra, muốn nói câu gì đó nhưng cứ ngẩn tò te, không nói được, và có lẽ không biết nói sao cho phải.

Tôi thoáng thấy bóng cha tôi bước ra, nghĩ sao đó ông lại bước vào, gióng lại một câu:

- Mấy mẹ con buồn cười chưa? Sao cứ đứng ngoài cổng mếu mếu máo máo thế hử?

Cả nhà anh chị cả tôi cũng kéo sang. Chị Lệ mời cha mẹ ngồi lên trên sập , xong kéo anh Giành cùng quì xuống trước mặt, sụp lạy. Xong chị đứng lên, nhỏ nhẹ, rành rọt:

- Thưa cha mẹ. Con là đứa con hư hỏng, đứa con bất hiếu. Con tự tiện xây dựng gia đình cùng anh Giành mà không được phép cha mẹ. Chúng con thương yêu nhau từ hồi còn ở nhà, nguyện cùng nhau gắn bó suốt đời. Nay đã có cháu đầu lòng vừa tròn một tuổi, chúng con về để tạ tội cùng cha mẹ và gia đình ta. Cha mẹ có thương thì chúng con nhờ, ghét bỏ chúng con đành chịu.

Cha mẹ tôi chưa kịp nói gì thì hai vợ chồng chị đã bồng cháu đến, chắp hai tay bé xíu của bé lại, cúi đầu nói thay con:

- Con lạy ông ngoại lạy bà ngoại ạ!

Rồi quay qua chúng tôi:

- Cháu lạy cậu mợ cả, lạy dì Lý ạ!

Đã đến nước này thì cả nhà còn ai nói gì được! Và cũng chẳng ai dám nói trước cha tôi. Cha tôi như biết được điều đó, ông thở hắt ra một hơi dài:

- Thôi , được rồi. Đâu còn có đó. Đánh kẻ chạy đi chớ ai đánh người chạy lại, bà nhỉ? Bà bồng cháu để hai đứa đi tắm táp, rồi nghỉ ngơi. Lý nấu cơm quàng lên dọn cho anh chị ăn kẻo đói. Chuyện chi sẽ nói sau, kể sau! - ông hạ giọng, lẩm bẩm như tự nói với chính mình - Tái ông thất mã, vậy đó!

Cả nhà tôi thoắt như trút được một gánh nặng . Mẹ tôi đưa hai tay ra đón cháu. Thằng bé chừng như bắt được hơi máu mủ ruột rà, nó theo ngay… Đêm hôm đó, hai chị em tôi rủ rỉ bên bếp lửa nồi bánh tét sôi sùng sục cho đến sáng… Thì ra hai anh chị trốn vào Đà Lạt từ năm đó, tìm đến anh Vũ tôi. Anh Vũ thương tình, giúp hết lòng, rồi đưa cả hai người vào hoạt động bí mật cho đoàn thể cách mạng. Bây giờ, chị Lệ làm ở cơ quan phụ nữ, anh Giành là cán bộ tự vệ của huyện. Ăn Tết xong, anh chị sẽ trở lại cơ quan trong ấy.

Chiều hôm sau, nhân lúc chị Lệ giảng giải cho chồng nghe tích Tái Ông mất ngựa mà cha tôi nói hồi đêm anh không hiểu, tôi bỗng nảy ra ý định hỏi cha tôi về cái giếng loạn mà bao lâu nay tôi vẫn thắc mắc. Cha tôi , với nét rạng rỡ chưa từng có, nói:

- À à… Gọi như thế nhưng chính là để mong ngược lại như thế. Giếng loạn tức là giếng yên đó con! Cầu cho được yên bình mà! Gia nhà quốc nước. Nước mình cũng thế. Có giặc giã, cướp bóc, xâm lược, nhưng cuối cùng là được tự do, độc lập, hòa bình. Cũng như nhiều bà con nông thôn vùng ta, đẻ con ra, trong giấy khai sinh thì khác, còn gọi thường ngày thì nào là thằng Vện con Vàng, nào là con Mèo thằng Chó vân vân… Người ta đặt tên xấu vậy, là để mong cho con được sống mạnh khỏe, nên người, được cơm no áo ấm. Có điều con cần hiểu rằng, những điều tốt đẹp, vẹn tròn đó không phải tự trên trời rơi xuống mà con người phải tự tìm lấy, tự giành lấy!...

1999
H.N.
(120/02-99)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG1. Từ Huệ nằm thiêm thiếp bên cạnh án thư. Tóc râu chàng bạc trắng. Đêm qua, ngoài trời mưa gió to quá. Chàng không làm sao ngủ được. Từ Huệ sợ mưa, sợ phải nghe thấy những âm thanh cuồng nộ của trời đất. Điệu luân vũ ấy là nỗi ám ảnh khi chàng còn là một anh khóa vô danh.

  • PHAN TUẤN ANHLớp Lý trong một chiều nhốn nháo. Vài đứa con gái ngồi sụt sùi cho nhân vật nữ trong phim trên ti vi chết sớm và nguyền rủa đạo diễn như một tay giết người. Những đứa con trai thì tiếc rẻ cho một vài pha bóng hụt tối qua, để lại hậu quả là mất hẳn một "tháng lương" mà nhẽ ra đã có thể lĩnh sáng nay tại... chủ quán.

  • NGUYỄN VIỆT HOÀLGT: Khi ánh sáng phản chiếu từ mặt trái đồng tiền ùa vào cánh cửa làng mở rộng, “sức nóng” của nó gần như thiêu rụi mọi nền tảng đạo đức một bộ phận không nhỏ đám thượng lưu gồm cả quan viên hương lý. Căn bệnh mà tác giả Nguyễn Việt Hoà mổ xẻ trong truyện ngắn dưới đây, dẫu chưa cao tay để diệt bằng hết những vi-rút-làng, song việc ngăn chặn một đại dịch bắt đầu là có thể...S.H

  • TRẦN HẠ THÁP1/ Người đàn ông đang huơ rìu. Liên tục những bi củi tươi bị xé phanh, toang toác. Gió lạnh một buổi tàn đông, sắp Tết nhưng trên khuôn ngực mồ hôi loang lổ như mưa. Xóm lò heo. Buổi sáng chưa mở mắt đã hỗn độn, mù trời hơi nước. Cái thế giới được khoanh vùng bằng tiếng kêu bi thiết các con vật thảm tử. Mùi phân chuồng phát tán, nghẹt thở. Tiếng người lê la trả giá, mặc cả. Tiếng cười rộ lên đắc ý trộn lẫn tiếng chửi thề tục tằn đe doạ. Đâu đó, mơ hồ giọng trẻ con khóc và tiếng ru hò ngái ngủ xa xôi…

  • NGUYỄN NGỌC LỢITôi diện bộ "téc gan" quân nhu, dắt súng vào người, dặn dò cậu lái xe rồi hoà vào dòng người đi ra sân bay. Được giao nhiệm vụ về nước sắm hàng, gặp một sự kiện quan trọng, tôi không muốn bỏ lỡ dịp được chứng kiến. Thị xã Lộc Ninh năm 1973 đã trở thành thủ đô của chính phủ cách mạng.

  • THÁI BÁ TÂN…Con chim hung dữ màu đen là trọng tâm của bức tranh, được ông giành hết tâm sức miêu tả rất sống động. Trong tranh, nó đang bám chân vào ngực Prômêtê, xoè hai cánh giữ thăng bằng, chiếc mỏ khoặm ngậm một miếng tim vừa moi từ lồng ngực khổng lồ của chàng…

  • NGUYỄN ĐỨC SĨ TIẾNMọi người đến Huế với những lí do khác nhau. Riêng các văn nghệ sĩ thì thường đến để tìm cảm hứng sáng tác. Tuy nhiên ý tưởng của mỗi người thì mỗi khác, chẳng ai giống ai. Họa sĩ Vĩnh Trung và nghệ sĩ Hải Lý là một trong những trường hợp như vậy.

  • XUÂN ĐÀIChuyện thằng Thanh con cô Ngoan ở làng Đông cuối tháng này tổ chức đám cưới với con Thuý con cô Lâm ở làng Nổi, dân xã Vĩnh Sơn ai cũng tỏ tường. Cái đận cô Lâm có chửa, điều tiếng khắp làng, người ta đoán già đoán non về cha của đứa bé. Đoán vụng đoán trộm, thì thầm nhỏ to sau lưng, chứ thấy bóng cô đi ngang qua là họ im bặt. Nó mà nghe được nó tế cho! Nó vén mồm, vén váy, réo tên cúng cơm ba đời nhà mình ra mà chửi.

  • PHẠM THỊ XUÂNChị Xoan trở mình nhè nhẹ, sợ làm đứa cháu giật mình thức giấc. Chị quay mặt  vào tường như cố tránh cái ánh sáng xanh dịu phát ra từ ngọn đèn ngủ. Chị nhắm kín mắt nhưng vẫn không sao ngủ được. Đầu óc chị rối bời bao ý nghĩ. Có một cái gì day dứt, một cái gì tiếc nuối, một cái gì hẫng hụt vừa đi vào cuộc đời chị. Chị bỗng thấy lòng mình trống trải đến vô vị...

  • PHẠM THỊ XUÂNLGT: Ấn tượng của một nữ tác giả mới lần đầu tiên gửi tác phẩm đến cho TCSH thật khá đậm đà. Ấy là Phạm Thị Xuân, một phụ nữ ở độ tuổi đã qua thời thanh xuân, đang công tác tại một đơn vị y tế huyện Quảng Điền.

  • QUÝ THỂCó ai đến nhà chơi, bà cụ Tuần chỉ mép tấm phản gỗ mời ngồi, bà nói:- Giang sơn của "bầy choa" (chúng tôi) chỉ có chừng ni. Không ghế bàn, xa lông, sập gụ tủ chè chi cả, chịu khó ngồi đỡ, ông bà mô áo quần trắng trẻo sạch sẽ sợ dơ, thì ngồi lên đây. Bà cụ xoè cái quạt giấy cũ đã rách, lộ ra mấy cái nan tre lót cho khách ngồi. Nhưng không ai nỡ ngồi lên cái quạt giấy của cụ.

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO...Sáng hôm ấy bà con xóm đạo đi lễ rất đông. Người ta nhìn thấy một vệt sao băng vào lúc trời tảng sáng. Họ cho rằng Chúa thấu hiểu được nỗi đau đang dày xéo trên thân thể Xoan. Nhưng cũng chính vì thế mà bố cô lại quay về làm chính con người liêm khiết hồi xưa. Thiên đường cũng có những con đường riêng để người ta sám hối.

  • XUÂN ĐÀI 1. Mỗi lần từ quê trở về Sài Gòn, sống bên chồng và hai đứa con, tôi không nguôi nhớ đến chị. Năm nay chị đã ngoài bốn mươi, không chồng, không con, lủi thủi ra vào trong ngôi nhà một gian hai chái. Ngôi nhà vừa được xây dựng cách đây gần ba năm bằng số tiền chị tằn tiện, chắt bóp mười mấy năm và tiền vợ chồng tôi phụ giúp chút đỉnh. Vài ba năm, vợ chồng con cái chúng tôi mới về thăm chị một lần. Chị mừng, chị vui, trò chuyện với các cháu suốt ngày. Chị quấn quýt lũ trẻ, lũ trẻ cũng quấn quýt chị.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNGNgày trăng tròn lẻ. Tháng Trung Thu năm Đại Bảo thứ 3.Người hai lưỡi bảo là ngày Sao Thổ phạm vào Thái Âm.Người ngắn lưỡi nói Sao Chổi mọc ở phương Tây.Người dài lưỡi bảo có tinh vượn đen ăn mặt trời, ngày Nhật thực, nếu không yểm kỹ sông Nhị đang nảy vàng ròng sẽ ngừng.Động đất.

  • VIỆT HÙNGTrước đây, anh là người lừng danh, một tay "cua - rơ khét tiếng" trên xa lộ. Đã một thời anh chỉ biết chiến thắng. Người ta từng mệnh danh, anh là người sinh ra để đua xe đạp, anh không hề có đối thủ. Anh xem thường sự chiến thắng của mình, cho nó là điều hiển nhiên. Anh coi ánh hào quang của vòng nguyệt quế chỉ có tác dụng tô điểm thêm cho vẻ đẹp của mình mà thôi. Bởi, không có nó, anh vẫn là một thần tượng chẳng gì "khuất phục nổi".

  • NGUYỄN THÁNH NGÃĐêm nay trăng nhão, không biết là đêm trăng gì. Ở xa nhìn về đồi Kà Mạ vẫn một khối đen sì. Nếu có ai nhướn mắt nhìn thật kỹ sẽ thấy cái khối đen sì ấy nhô lên như một cái đầu người đôi mắt lấp láy đom đóm. Thỉnh thoảng gió hất cái đầu tóc rối bù xù bay về phía ruộng. Tiếng chim cú kêu mỗi lúc một thê lương, ớn lạnh từng đốt xương sống...

  • THÁI BÁ TÂNTháng trước, ở phường B. thị trấn Đức Giang, huyện Gia Lâm, nơi tôi về nghỉ hưu mấy năm nay, đã xẩy ra một vụ trọng án có nhiều tình tiết rất kỳ lạ, có thể nói bí ẩn không sao giải thích nổi, đến mức cuối cùng người ta quay sang cho rằng nhất định phải có yếu tố thần linh ma quỷ trong vụ này.

  • PHẠM THỊ ANH NGA                  Truyện ngắn...trái tim có những lý lẽ mà lý trí không thể nào biết được...

  • PHAN VĂN LỢIBuổi giao lưu và trao giải thưởng cho các tác giả đoạt giải trong cuộc thi viết truyện ngắn do Hội Nhà văn tổ chức đã tiến hành được gần nửa giờ. Gã nhấp nhỏm trên chiếc ghế kê phía sau cánh gà sân khấu, bồn chồn không yên. Chừng thông cảm với tâm trạng của gã, cô gái phục vụ mặc áo dài đỏ bưng tới cho gã ly nước, nhẹ nhàng nói: "Chú cứ yên tâm ngồi nghỉ cho khoẻ. Giải A bao giờ cũng trao cuối cùng, chú ạ!"