Giao thừa

09:37 09/06/2023


HỒNG NHU

Ảnh: tư liệu

Đã lâu lắm tôi mới được nghỉ phép vào đúng những ngày giáp Tết. Công việc buộc tôi phải thế; khốn khổ, những lúc người khác ngủ thì mình phải thức, người khác ở trong nhà thì mình phải ra ngoài đường, người khác vui mừng hồ hởi thì mình căng thẳng lo lắng... Nhưng từ nay thì ngon lành rồi. Tôi được điều về cơ quan mới, tuy vẫn theo nghề cũ nhưng công việc thì khác hơn nhiều; nói tóm lại là dễ thở hơn, không phải chịu những cảnh trái khoáy như lâu nay. Vì vậy, trong dịp nghỉ phép này, tôi mới có thì giờ thong thả đi thăm thú bạn bè cũ, chuyện trò lai rai với nhau đủ thứ trên trời dưới đất. Người bạn mà tôi đến chơi nhà hôm nay là anh Cường, một cán bộ làm nghề hành chính lâu năm ở cơ quan văn hóa tỉnh, nhà ở phía bên kia truông, trước đây cùng một tỉnh nhưng từ lâu đã tách ra làm ba như cũ. Cũng là một dịp để hỏi thêm bạn dăm ba điều, giúp cho công việc mới của tôi...

Anh Cường kể:

“... Đêm ba mươi Tết năm đó, tôi có một kỷ niệm khó quên. Khoảng bốn giờ chiều, tôi mới thu xếp xong công việc ở cơ quan, đạp xe về nhà. Trời mưa lâm thâm, lại ngược gió. Cái xe của tôi lúc thường thì không sao, đến lúc gấp gáp thì dở chứng, không biết thế nào mà cứ tuột xích xoành xoạch. Đã thế, trời lại mau tối, các quán nhỏ chữa xe dọc đường đều đã đóng cửa; cũng phải thôi, giờ này ai còn ngồi đấy để có thể giúp mình nữa! Thế là tôi đành vừa đi vừa tự sửa lấy, cứ đạp, lúc nào trục trặc lại nhảy xuống lần mò, lắp gỡ, rồi kéo bộ... Có vài chục cây số chứ mấy, vậy mà gần tắc thở tôi mới về đến nhà, xem đồng hồ tay đã chín giờ đêm. Đã thế nhà lại vắng tanh vắng ngắt, chả thấy đèn đóm lửa củi gì sất. Trời ôi! đêm giao thừa mà thế này ư? Tôi nhào vào sân, quẳng chiếc xe đạp của nợ vào góc hè, gọi vợ con:

- Mình ơi!... Mấy đứa ơi!... đâu cả rồi?

Vợ tôi từ sau giếng khom người luồn qua cửa bếp bước vào, nhìn vẻ ngơ ngác lấm lem của tôi, cứ đứng tủm tỉm cười. Tôi hơi bực:

- Các con ngủ cả rồi à? Nhà chưa thu xếp được gì ư?

- Ôi dào ôi, lại còn hỏi! Bây giờ mà chưa thu xếp xong có họa mà “chết giấc” chứ “tết nhất” cái gì! Mấy đứa vừa chợp mắt trong kia, chốc đến giờ sẽ đánh thức chúng dậy. Thế anh đi với dì nào mà đến giờ mới mò về?

- Khốn khổ! Có dì nào mà đi thì đã may! Ra mà xem cái xe “đời mới” ngoài hè kia kìa!

Nói xong, tôi thở phào, quên hết cả mệt nhọc khi nhìn lên bàn thờ đã thấy đủ mọi thứ, hoa quả, hương đèn, bánh trái...

Có thế chứ! tôi nhủ thầm, vợ tôi tuy chẳng được như ai song vốn là người lo toan thu vén mọi chuyện, rất có “đầu óc”, trông bề ngoài có vẻ ung dung, chẳng ồn ào gì mà được lắm việc, tính lại hay đùa...

- Anh đi tắm đi. Nước nóng em đã pha sẵn trong buồng tắm. Tắm xong vào ăn uống tí chút rồi sửa soạn các thứ là vừa.

- Năm nay mình gói được bao nhiêu bánh?

- Khoảng bảy tám cân nếp. Được gần hai chục chiếc to!

- Còn thịt?

- Em nuôi chung với thím và mấy người nữa. Tính ra lời, được chia một chân, hơn yến. Xem như chẳng bỏ ra đồng nào cả!

Chà chà, tôi vui đến nỗi muốn ôm chầm lấy cô nàng mà hôn một chập, may sao kịp nhớ mình chẳng còn trẻ mỏ gì nữa và người ngợm thì đang như ma lem. Tôi làm nghề hành chính, anh biết rồi đấy, việc chả lấy gì làm nặng nhọc nhưng lại bận như con mọn, nhà tuy gần nhưng không mấy khi về được, mà có về thì cũng như chuồn chuồn giấp nước, chả giúp vợ được gì cho nên cơm nên cháo. Thành ra mọi chuyện thượng vàng hạ cám đều đổ lên đầu vợ. Của đáng tội, tôi nhiều khi cũng đâm ra ỷ lại, lười nhác nữa là đằng khác.

Tôi vào buồng tắm sau giếng, vừa cởi quần áo ra thì nghe bên ngoài có tiếng lép kép như tiếng đánh kéo của mấy người bán kẹo kéo quay số ở chợ tỉnh. Thình lình vợ tôi xông vào buồng tắm, tay cầm chiếc kéo sáng loáng huơ lên. Tôi hốt hoảng giật giọng:

- Cái gì thế? Cái gì thế?

Vợ tôi toét mồm cười, nắm tay tôi kéo ra:

- Trời đất ôi, còn cái gì nữa! Khoan hãy dội nước, ra đây tí đã! Anh định để cái đầu bờm xờm như đống rơm thế kia mà đón xuân à? Để em cắt cho!

Tôi phá ra cười, đưa tay sờ tóc, sực nhớ đã lâu chưa cắt. Công việc cơ quan những tuần cuối năm túi bụi đã làm tôi quên khuấy cái việc nhỏ nhặt nhưng lại khá “quan trọng” này. Tôi vừa ngặt nghẽo cười vừa nhìn vợ tôi như thể nhìn một kỳ quan thế giới!

- Ối chao, “để em cắt cho!”, học được cái lối hài hước bao giờ thế?

Trong phút chốc, tôi vụt nhớ đến Liêm, người bạn cùng làng, đồng đội của tôi hồi đầu cuộc chiến tranh chống Mỹ. Bây giờ Liêm là trung đội phó, lại là một tay cắt tóc nổi tiếng trong đơn vị; nổi tiếng không phải vì anh ta cắt tóc giỏi cắt đẹp mà vì cái lối đặt tên các kiểu tóc mà anh ta đã cắt cho anh em.

Cậu nào thong thả được cắt tỉa cẩn thận, gọn gàng có phần thêm điển trai, anh ta gọi là kiểu “Đợi chờ anh!” Cậu nào vì vội quá mà hơi nham nhở như vạt rừng phát không sạch cỏ, anh ta gọi là kiểu “Hoàng hôn núi”. Có lần giặc dội bom vào nơi trú quân, mất cả dao kéo, anh ta đã dùng một lưỡi lam cạo râu để xén từng túm tóc một cho cậu Hạc, tiểu đội trưởng trinh sát. Mái tóc Hạc cứ nhấp nhô như sóng, được anh ta gọi là kiểu “Bí ẩn đại dương”... Lần ấy chúng tôi được lệnh hành quân cấp tốc. Hạc soi mặt bằng cái gương bỏ túi nhỏ xíu bằng cái nút bi đông, lắc đầu, mắng Liêm:

- Này, tôi chưa biết ông chỉ huy đánh đấm ra sao, nhưng nội riêng cái khoản để mất dao kéo, ông chả đáng mặt là một thằng lính đâu nhé!

Liêm vặc lại:

- Thằng giặc nó ném mất chứ tao đánh mất à? Làm thằng lính, giữ được vũ khí để “chơi” với giặc, giữ được cái gáo để hòa bình trở về với “em” nguyên lành mái tóc là đẹp rồi! Dao kéo có cũng tốt, không có cũng chả chết ai!

- Ông nói ngu bỏ mẹ! Hôm nay ông bỏ mặc dao kéo, ngày mai ông có thể bỏ mặc vũ khí, ngày kia ông lại có thể bỏ mặc anh em đồng đội đấy! Tôi hỏi ông nhé: nếu ông cắt xong, bỏ dao kéo vào một cái túi nhỏ, thắt luôn vào người thì có bị bọn chúng hất tung được không?

Liêm đuối lý, đưa bàn tay vuốt vuốt mái tóc Hạc, an ủi:

- Thôi, đi đánh nhau trận này về tao sửa lại cho. Đảm bảo với mày là “mô đen” trình độ, hết ý!

... Lần đó, Hạc không bao giờ về nữa. Chúng tôi cắn môi tưởng đến bật máu, thương bạn quằn quại mà không hiểu sao chẳng rơi được giọt nước mắt nào... Từ đó, tôi để ý thấy Liêm thỉnh thoảng lại đưa bàn tay lên vuốt vuốt mái tóc mình nhè nhẹ, ngắc ngứ một giây rồi bỗng khựng lại nửa chừng như một hành động vô thức. Tôi cảm thấy hết nỗi đau đớn dội lên trong lồng ngực Liêm. Một cái gì đó - chả phải do anh gây ra - giống như niềm ân hận, không bao giờ có thể sửa chữa được nữa, đã làm anh dằn vặt khôn nguôi...

Tôi vừa ngồi xuống chiếc ghế, trong lúc vợ tôi tìm chỗ đặt cây đèn soi cho rõ; bất giác đưa tay lên vuốt tóc. Tôi hỏi vợ:

- Ông Liêm năm nay có về không?

- Có. Về lúc sáng, nghe bà con đi chợ về nói. Hình như đã năm sáu năm nay rồi, ông ấy mới về đúng dịp Tết.

- Ô-tô con đưa về tận nhà chứ?

- Không. Anh ấy đi bộ từ quốc lộ vào làng. Nghe nói cho chú lái xe đánh xe về nhà ăn Tết, mạn trong Tuần. Mồng ba ra đón anh ấy!

- Thế à?

Vợ tôi quàng tấm ni-lông vào người tôi, tay đánh kéo một cách thành thạo, cười:

- Anh chẳng biết cái gì cả. Hồi còn ở Thanh niên xung phong Trường Sơn, em vẫn cắt tóc cho anh chị em trong đơn vị; có nhiều cậu chàng đi cả nửa ngày đường đến nhờ em đấy, đừng có tưởng! Ở nhà, em cắt cho các con, có tốn đồng nào cho thợ đâu!

Một bóng người hiện lên ở cửa ra vào, gõ đế dày lộp bộp. Chúng tôi nhìn lên. Như trong chuyện cổ tích, Liêm lù lù đứng đó, tay xách một chai rượu. Thằng con út của anh lấp ló sau lưng bố, ôm bụng một gói quà khá to bọc bằng giấy bóng. Liêm vào nhà, oang oang, liến thoắng:

- Chào hai ông bà. Năm nay tôi có dịp về, lại có chút ít thời gian, tôi sang thăm hai ông bà để xem hai ông bà chuẩn bị đón giao thừa thế nào đây. Chao, bạn bè sống chết có nhau mà bao nhiêu năm mới gặp nhau được một lần... Có chút quà mừng hai ông bà và các cháu đây!

Vợ chồng tôi hơi bị bất ngờ, cứ ớ ra.

Liêm cũng ngơ ngác. Anh nhìn lướt qua người tôi, rồi nhìn kéo lược trên tay vợ tôi, hiểu ngay cơ sự, cười ha hả. Đoạn giơ tay xem đồng hồ, kêu:

- Để việc này cho tôi. Gần mười giờ rồi! Nhưng khỏi lo, kịp chán, tôi sẽ thao tác kiểu nã pháo vào Dốc Miếu ngày nào! Đưa kéo lược đây! Thắp cây đèn tọa đăng lên!

Vợ tôi chỉ biết tủm tỉm cười, trao đồ nghề cho anh. Và tôi lại ngồi vào ghế.

- Kiểu gì đây, ông bạn quý mến? - Liêm lại ha hả cười.

- “Đợi chờ em!” - tôi trả lời.

Lâu ngày không cầm kéo, có lẽ đã gần hăm lăm năm rồi, Liêm lúng túng mãi. Sau rồi ngọt tay dần. Cực một nỗi mái tóc bờm của tôi thuộc loại vô kỷ luật, nên Liêm cứ xoay qua trở lại, chải xuống lật lên, huỳnh huỵch như đánh vật. Thằng con út của anh bỗng trở thành như ngọn hải đăng. Nó bế cây đèn, theo lệnh bố giơ lên, hạ xuống, lúc tiến qua lúc lùi lại, soi cho bố. Tôi không nhìn thấy mặt Liêm lúc bấy giờ nhưng cảm thấy rất rõ bàn tay anh run run trên mái tóc tôi hoàn toàn không phải vì ngượng ngập...

Rốt cuộc thì “khu rừng rậm rạp” của tôi cũng được phát dọn sạch sẽ, tinh tươm. Liêm ngồi xuống ghế ngắm nghía mái tóc tôi như chiêm ngưỡng một kỳ công vừa lập được.

- Hì hì! Quả đúng kiểu “Đợi chờ em!”, tuyệt! Nào bà chủ đâu, người ta đang “đợi chờ” đây này, vào mà coi!

Rồi anh bỗng im lặng, trầm tư đưa tay lên vuốt tóc. Bàn tay anh khựng lại nửa chừng...

Chúng tôi ngồi trong hơi ấm của đêm trừ tịch, nhớ đến bao nhiêu chuyện, nhắc đến bao nhiêu bạn bè. Nhớ nhất vẫn là các đồng đội đã nằm xuống, vĩnh viễn không bao giờ còn gặp lại. Hạc, người trinh sát lừng danh của trung đoàn chúng tôi năm ấy là một trong những người đó. Sau cái hôm cắt tóc mà Liêm gọi tên kiểu “Bí ẩn đại dương” nọ, Hạc hy sinh sau khi đã mang về cho sư đoàn một bản đồ bố trí pháo của địch ở cụm Đèo Cau, tài liệu vô cùng quý giá làm nên chiến thắng lẫy lừng của đơn vị chúng tôi trong chiến dịch mùa khô năm ấy...

Nhớ đến Hạc, chúng tôi không sao ngăn được những giọt nước mắt vốn rất hiếm rỏ của mình. Tôi thì không nói làm gì nhưng Liêm, anh ta giờ là một cán bộ cao cấp, tôi không ngờ... Có phải thế này không, khi nước mắt người đàn ông rơi xuống, ta có thể tin cậy được, đúng chứ anh? Hồi còn nhỏ đi học ở làng, bọn trẻ con chúng tôi thường trêu Liêm là “Liêm toét”; chả nhớ được bấy giờ vì Liêm hay cười toe toét với bạn bè hay vì đôi mắt anh thường bị đau, kèm nhèm luôn. Còn giờ đây thì Liêm ngồi đó, đôi mắt của tuổi năm mươi vẫn trẻ trung, trong suốt... Lát sau, anh giật mình đứng lên: “Thôi, mình về nhé. Mười một giờ hơn rồi, về để còn đón giao thừa với vợ con, kẻo bà xã lại “ca cải lương” cho đêm ba mươi thì nguy to!” ”.

Cường ngưng lời. Tôi hỏi:

- Anh bạn Liêm của cậu giờ làm gì, ở đâu?

- Ủa, tôi tưởng anh biết rồi! Chính là anh Hội, bộ trưởng, nơi anh mới về nhận công tác đấy thôi! À, còn một chi tiết này cũng hay hay tôi kể nốt anh nghe. Bấy giờ vợ tôi đang soạn sửa ở nhà trong, nghe hai chúng tôi im lặng, tưởng có chuyện gì, chạy ra. Thấy chúng tôi ngồi trầm ngâm, mắt hoe đỏ, cô ta lắc đầu: “Các ông buồn cười thật! Chả mấy khi gặp nhau, lại ngày Tết, không vui thì chớ lại mau nước mắt như đàn bà!” Khốn khổ, nhà tôi đâu có biết chúng tôi xúc động vì sao...!

Tôi đứng lên, tạm biệt Cường. Tự dưng tôi cũng thấy mi mắt mình hơi cay cay... Thế ra là ông Hội đấy! Ai chứ ông ấy thì tôi tuy mới về nhưng lại khá gần gũi. Cái động tác vuốt vuốt tóc của ông nửa chừng khựng lại như chạm phải bậc thang, thỉnh thoảng tôi vẫn thấy, vẫn thắc mắc không hiểu do đâu... Đã có lúc tôi nghĩ bụng rằng, có lẽ ông ta làm đỏm! Ông ta có kiểu vuốt vuốt tóc hơi vô duyên; mái tóc của ông lúc nào cũng được cắt tỉa đẹp đẽ, đàng hoàng; chải chiếc cũng láng lẩy, có gì đâu mà cứ vuốt vuốt mãi thế...?

Ôi, giá tôi biết được vì sao...!

Xuân 1998, Mậu Dần
H.N
(TCSH108/02-1998)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGÔ DIỆU HẰNG 

    Ngày ngày nhìn qua cửa sổ, thấy bạn bè tung tăng đến trường, những tà áo trắng bay thướt tha trên đôi bánh xe đạp xinh xinh tôi lại ngồi co rúm mình vào góc phòng.

  • NHỤY NGUYÊN

    Cô hướng dẫn viên trẻ, giọng mềm và nhẹ, cho hay động Thiên Đường được phát hiện nhờ một người dân tộc. Từ thời điểm động được đưa vào khai thác, những hang động khác giảm hẳn lượng du khách. Người ta chỉ muốn đến thiên đường. 

  • ĐÔNG HÀ

    Dịu nói nàng sẽ đi.
    Tôi ậm ừ qua chuyện. Tôi nhủ Dịu rời nơi này cả chục bận, lần này thứ bao nhiêu, tôi không buồn đếm, nhưng biết chắc nàng chưa đủ can đảm bước đi, dẫu chỉ là bước thứ nhất. Chặp đâm ra chỉ biết ậm ừ.

  • THÁI NGỌC SAN

    Người đàn ông ôm cái cặp da to tướng bước nhanh vào phòng khách vận nhà ga. Cái cặp to gần bằng nửa người ông ta so với chiều cao. Thế nhưng mọi động tác của ông đều nhanh nhẹn, linh hoạt đến láu lỉnh. Có lẽ đó là đặc tính bẩm sinh của những người lùn.

  • VŨ MẠNH LẬP

    Cây ngô cao vồng lên giữa bãi, lạ lắm.
    Già A-nông thầm đặt cho nó cái tên: cây ngô chướng.

  • VÕ MẠNH LẬP 
                 Truyện ký 

    Ông nội tôi nghèo của, nhưng giàu con. Ông có những hai mươi hai người con, tài sản của những ba bà. Tất cả theo nghiệp con trâu đi trước cái cày theo sau. May mắn thầy tôi rẽ ngang theo con đường học chữ Hán, chí thú tìm thầy học bạn, mở hiệu bán thuốc bắc, bắt mạch, đoán bệnh.

  • PHẠM PHƯƠNG  

    Đỉnh núi dựng đứng, lởm chởm cây bụi và những vỉa rêu xõa xượi dưới không gian trầm buồn sương. Buổi sớm, con chó to lớn tập tễnh bước trên đường.

  • HOÀNG NHẬT TUYỀN

    - Nhắn chú ấy chiều nay vào ngay. Vào ngay đây! Tôi chẳng sống được mấy ngày nữa đâu thím Đóa à!

  • NGUYỄN THỊ KIM THOA

    Em có cái tên mộc mạc như củ khoai củ sắn, như trái thơm trái cà ở nhiều vùng quê thôn dã: Lê Thị Sim.

  • NGUYỄN LAM THỦY

    Người Hung gọi chị ta là “thiếu phụ quàng khăn đỏ”. Nhưng chị ta chẳng bao giờ quàng khăn đỏ, bởi tên chị ta là Piroska. (Piroska tiếng Hung khi còn bé gọi một cách trìu mến có nghĩa là “cô bé quàng khăn đỏ”, khi lớn lên đi lấy chồng thì gọi “thiếu phụ quàng khăn đỏ”).

  • DẠ NGÂN

    Tờ giấy màu vàng rơm. Đã khá xa cái thời giấy hoàn toàn tái chế, thỉnh thoảng ngòi viết vấp phải một ít cặn bột cứng sảng. Thùy vẫn nhớ độ thô vàng vàng của tờ giấy, như nhớ một kỷ niệm buồn, nhớ mùi vị ngậm ngùi từ ký ức xộc ra. Tờ thư là dấu hiệu của nghèo khó nhưng nó có cái uy của sự áp đặt. Thô và vàng. Không chỉ thư mời, nó có hơi hướm giấy triệu tập hơn.
     

  • LÊ MINH KHUÊ

    Xe vừa dừng thì từ phía ghế lái phụ có tiếng đập cửa gấp gáp. Vĩnh chồm dậy, mắt nhắm mắt mở. Nhưng không. Có phải báo động máy bay đâu? Vĩnh quay sang tôi nhe răng cười và mở cửa.

  • ĐINH DUY TƯ

    Tin ông Khòa từ chức bay ra như một ổ mối cánh lúc trời mưa. Người này nói với người kia, truyền vào tai nhau lượng thông tin nóng hổi nhất. Họ đánh giá, phân tích và bình phẩm, kèm theo những kết luận theo cách nhìn nhận của mình.

  • PHẠM DŨNG

    Thay xong bộ đồ ngủ, định đi nằm thì Diễm Trinh thấy trên bàn có một tờ giấy đánh máy.

  • ĐỖ HÀN

    Bân trằn trọc mãi không ngủ được. Thế là lại mất toi con hổ mang nữa. Bữa trước vợ Bân cho rắn ăn, quên không đóng cửa chuồng. Một cặp hổ mang và một con hổ chúa bò ra ngoài. Dân làng đi xem văn công về, nhìn thấy một cặp rắn, họ kêu ầm lên. Bố con Bân phải vất vả lắm mới túm được đôi hổ mang. Con chúa chuồn đi mất.

  • LÝ THỊ MINH CHÂU

    Con đường len lỏi qua những cánh rừng nối các buôn bản vùng cao lại với nhau giống như con rắn khổng lồ trên lưng có vệt vảy trắng.

     

  • PHÙNG PHƯƠNG QUÝ

    Cuối buổi họp, “Thừa tướng” còn cho Trưởng ban Văn-Xã lên có đôi lời phát biểu. Thanh than thầm: “Thôi rồi Lượm ơi!”. Thằng lùn này nó nói dai còn hơn trâu đái.

  • NGUYÊN QUÂN

    Những giọt nước mắt lăn tròn rơi xuống giữa lòng chén ngọc. Từng giọt... từng giọt xóa nhòa dần hình bóng con thuyền. Chén vỡ tan ra từng mảnh nhỏ, hồn thoát khỏi tình yêu hóa ngọc, bay vút vào không gian mang theo điệu sáo não nùng, cõi lòng oán uất.

  • TRẦN HƯƠNG GIANG Trong sân chùa chỉ còn lại Hương và chú tiểu. Cây liễu rũ thả những nhành lá lắc lay, qua ánh nắng lấp loáng hình dáng chú tiểu đang quét sân, lâu lâu chú nhìn Hương cười đầy thiện cảm.

  • MƯỜNG MÁN Những ngọn đèn mầu ẩn dưới tán lá phả xuống mặt đất thứ ánh sáng vàng nhạt, xanh dịu, tím loãng tạo khung cảnh huyền hoặc giả. Những chiếc bàn vuông thấp kê rải rác dưới các vòm cây.