Giáo sư Nguyễn Lân - Đốc lý người Việt đầu tiên của thành phố Huế

08:45 25/02/2015

DƯƠNG PHƯỚC THU  

Kể từ lúc thị xã Huế được nâng lên cấp thành phố, cho đến khi người Nhật làm cuộc đảo chính hất chân người Pháp khỏi đông Dương vào ngày 9/3/1945 thì Huế vẫn là thành phố cấp 3, nhưng là thành phố của trung tâm chính trị, văn hóa, nơi đóng kinh đô cuối cùng của nhà nước quân chủ Việt Nam.

Bài đăng trên Việt - Nam Tân báo

Những năm ấy chức danh đứng đầu bộ máy hành chính thành phố Huế do người Pháp lập ra gọi là đốc lý, và họ độc quyền nắm giữ chức vụ này, viên Công sứ Pháp ở phủ Thừa Thiên trực tiếp kiêm nhiệm. Giúp việc cho đốc lý có Phó Công sứ. Ngoài ra, còn có một Hội đồng thành phố được lập nên cũng do viên đốc lý người Pháp làm chủ tịch.

Sau cuộc đảo chính của người Nhật, chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập vào tháng 4/1945; theo sự đề cử của Nội các ấy, vua Bảo đại đã ký Chỉ dụ bổ nhiệm Giáo sư Nguyễn Lân tức nhà văn Từ Ngọc, đang dạy học ở trường Khải định sung làm đốc lý thành phố Thuận Hóa. Theo Chỉ dụ số 78 ngày 24/5/1945, thì “Ông Nguyễn Lân, tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm, hiện là Giáo sư trường Trung học Khải Định, sung lãnh chức Đốc lý thành phố Thuận Hóa và ông Bửu Hiệp, Y khoa Bác sĩ sung lãnh chức Phó Đốc lý”.

Hiểu như lối nay thì Giáo sư Nguyễn Lân là người Việt Nam đầu tiên làm Chủ tịch của thành phố Huế. Mặc dù Giáo sư đảm nhận chức vụ này mới chỉ gần ba tháng thì Cách mạng tháng Tám thành công; dưới vai trò của một nhà trí thức đứng đầu thành phố Giáo sư đã làm được khá nhiều việc ích lợi cho Huế.

Buổi nhậm chức đốc lý, Giáo sư Nguyễn Lân đã có bài phát biểu tâm huyết với nhân dân Thuận Hóa, ông cam kết nhanh chóng thiết lập bộ máy điều hành, chấn chỉnh đô thị, đổi những đường phố mang tên Tây sang tên danh nhân người Việt, sửa sang cầu cống, thuế khóa, cải cách tư pháp, lập nhà tế bần giúp người nghèo khó, kiên quyết xóa bỏ những tệ nạn xã hội, đồng thời ban hành những chủ trương tiến bộ nhằm đưa Thuận Hóa từng bước đi vào ổn định, nhân dân có cuộc sống tử tế hơn. để bạn đọc hiểu thêm về một giai đoạn lịch sử đầy biến động ở Huế, chúng tôi xin giới thiệu nguyên văn “Lời tuyên bố của ông Đốc lý mới thành phố Thuận Hóa”, tư liệu vừa tìm thấy được in trên Việt Nam Tân Báo(1) xuất bản tại Huế.

“Lời tuyên bố của ông Đốc lý mới thành phố Thuận Hóa”

“Bản chức, mới mang ơn Thánh Thượng giáng Chỉ cho làm đốc lý thành phố Thuận Hóa.

“Khi bắt đầu nhận việc bản chức muốn tuyên bố bản chương trình tối thiểu sau đây, mong bà con trong thành phố, sẽ giúp bản chức làm tròn phận sự, để khỏi phụ lòng tín nhiệm của đức Kim Thượng, lòng ủy thác của Nội các và lòng mong mỏi của nhân dân:

1. Tẩy trừ các dấu vết của người Pháp: đổi tên các đường phố; sửa lại đài trận vong tướng sĩ thành một đài kỷ niệm ngày tuyên bố độc lập;

2. Bài trừ nạn cờ bạc: trong lúc này, dù là đàn ông hay đàn bà dù ở bất cứ địa vị nào, mà tụm năm tụm ba say mê với con bài lá bạc thì sẽ bị bắt giải tòa, và sẽ bị nghiêm trị;

3. Bài trừ nạn chợ đen;

4. Bài trừ nạn ăn mày: sẽ cộng tác với Hội đồng Cứu tế trung ương làm những nhà dục anh và tế bần, để bắt kẻ nghèo học nghề và làm việc;

5. Bài trừ nạn hối lộ: người nào định đút lót kẻ thừa hành chức vụ cũng như những kẻ ăn tiền hối lộ đều bị giải tòa, kết án rất nặng;

6. Tổ chức lại ngạch cảnh sát để giữ gìn trật tự;

7. Chăm lo việc vệ sinh chung: đặt chỗ đổ rác; sửa các cống, rãnh, cấm phóng uế ở vệ đường, ở bờ sông và ở các hầm trú ẩn (những kẻ tầm bậy sẽ bị phạt tiền, và, nếu tái phạm sẽ bị đeo biển dẫn đi qua các phố;

8. Sửa lại đường sá, tùy theo ngân sách;

9. đặt một Hội đồng thành phố gồm có những người nhiệt tâm ở các giới;

10. Phân phát các thực phẩm cho công bằng; người nào khai gian thẻ hạn chế khẩu lương sẽ bị giải tòa kết án thực nặng;

11. Kiểm soát việc đánh thuế chợ cho công bằng;

12. Tổ chức lại các phạn điếm bình dân;

13. Nhờ các bạn thanh niên dùng thì giờ rảnh làm các việc công ích: đào lỗ trú ẩn từng người; trồng khoai sắn ở hai bờ sông và ở các đất hoang để nuôi kẻ nghèo, đi khất thực giúp Ban Cứu tế; làm đồ thủ công bán lấy tiền giúp kẻ nghèo.

14. Kiểm soát việc đo lường trong thành phố cho được công bằng và khuyên nhân dân nên theo mét hệ;

15. Tổ chức lại việc phòng thủ thụ động.

Những công việc ấy, bản chức sẽ tùy theo quyền hạn mà cố gắng làm cho đầy đủ. Nhưng có kết quả hay không cũng nhờ ở tấm lòng thành thực và sốt sắng của dân thành phố đối với việc công.

Không lúc nào bằng lúc này, nhà cầm quyền và nhân dân phải đứng vào công tác; không lúc nào bằng lúc này, ta phải khuyên nhau: hăng hái làm việc và tuân theo kỷ luật!

Riêng phần bản chức, bản chức sẽ lấy câu sau này của đức Trần Hưng đạo làm câu châm ngôn cho việc cai trị: “Phép nước không nể tình thân!”.

Thuận Hóa, ngày 28 tháng 5 năm 1945 đốc lý Nguyễn Lân”.

Cũng theo Việt Nam Tân Báo công bố, kể từ ngày 6/6/1945, đốc lý Nguyễn Lân đã cho đổi 40 đường phố và công viên mang tên Tây sang tên Việt, như rue Paul Bert thành đường Trần Hưng đạo, rue Bobillot thành đường Nguyễn Tri Phương, rue Chaigneau thành đường Lý Thường Kiệt… Sau thành phố Huế chừng hơn một tháng, các thành phố đà Nẵng, Hà Tĩnh, Vinh, Thành Hóa, Hà Nội cũng lần lượt đổi tên như vậy.

70 năm sau có dịp đọc lại lời Tuyên bố này của Giáo sư Nguyễn Lân người ta thấy có nhiều điểm tiến bộ giàu tính nhân văn mà nay vẫn còn nguyên giá trị đối với việc quản lý đô thị và văn hóa Huế.

Giáo sư Nguyễn Lân và vợ - bà Nguyễn Thị Tề - Ảnh: internet


Vài nét về Đốc lý Nguyễn Lân

Giáo sư, nhà văn Nguyễn Lân, bút danh Từ Ngọc, sinh ngày 14/6/1906, ở Ngọc Lập, xã Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.

Thuở trẻ ông học ở Hưng Yên, rồi lên trường Bưởi, Hà Nội, năm 1929 vào Trường Cao đẳng Sư phạm đông Dương.

Năm 1932, ông tốt nghiệp Ban Văn chương trường sư phạm này, rồi vào Kinh đô Huế dạy tại các trường Quốc Học, đồng Khánh, Bách công Kỹ nghệ cho đến đầu năm 1945.

Sau Cách mạng tháng Tám ông được giao trọng trách giữ chức Trưởng ty Giáo dục tỉnh Thừa Thiên kiêm Phó Giám đốc Nha học chánh Trung Bộ. Khi toàn quốc kháng chiến ông chuyển ra dạy ở miền Bắc. Năm 1951 làm Giám đốc Giáo dục Liên khu X, Liên khu Việt Bắc rồi sang dạy ở Trường Sư phạm cao cấp khu học xá Nam Ninh ở Trung Quốc.

Sau Hiệp định Genève về Việt Nam, hòa bình được tái lập, Giáo sư về dạy tại Trường đại học Sư phạm Hà Nội, giữ chức Chủ nhiệm bộ môn Tâm lý giáo dục đến năm 1971 mới về hưu.

Ngoài chức phận một nhà giáo, nhà báo, Nguyễn Lân còn là một tiểu thuyết gia sớm nổi tiếng trên văn đàn ngay khi tiểu thuyết Cậu bé nhà quê xuất bản năm 1925 với bút danh Từ Ngọc.

Nguyễn Lân là chủ nhân của những tác phẩm, công trình chính:

Về sáng tác: Cậu bé nhà quê (1925); Khói hương (1935); Ngược dòng (1936); Truyện ngắn Từ Ngọc (gồm một số truyện ngắn, 1936); Hai ngả (1938)...

Về biên khảo: Nguyễn Trường Tộ (1941); Để tìm hiểu Gorki (1958); Khảo thích truyện Trê Cóc (1959); Ngữ pháp Việt Nam (1959); Lịch sử Giáo dục học thế giới (1958); Người thầy giáo xã hội chủ nghĩa (1960); Giảng dạy trên lớp (1961); Giáo trình giáo dục học (1961); Quy chế thực tập sư phạm (1962)…

Về từ điển: Từ điển chính tả phổ thông (1963); Từ điển Tiếng Việt (1967); Từ điển Pháp Việt (1981); từ điển từ và ngữ Hán Việt (1989); Từ điển Việt Pháp (hợp soạn, 1989); Từ điển thành ngữ và tục ngữ (1989); Từ điển thành ngữ, tục ngữ Pháp Việt (1994); Từ điển từ và ngữ Việt Nam (2002)…

Giáo sư Nguyễn Lân suốt đời tận tụy gần 70 năm với thiên chức cao quý của một nhà sư phạm, một nhà văn, nhà biên soạn từ điển và có lẽ toàn diện và đầy đủ hơn khi gọi ông là một nhà văn hóa.

Do thành quả và lao động học thuật của mình, Giáo sư được đảng, Nhà nước Việt Nam tặng thưởng một số huân chương cao quý, trong đó có danh hiệu Nhà giáo Nhân dân Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Giáo sư qua đời ngày 7/8/2003, tại Hà Nội, thọ 97 tuổi.

Cũng xin được nói thêm về một giai đoạn lịch sử sau tháng 8/1945, mà có lẽ ít người biết rằng Giáo sư Nguyễn Lân đã từng đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng của chính quyền cách mạng còn non trẻ ở Huế. Riêng với lĩnh vực văn học nghệ thuật, thì tại đại hội họp ngày 6/11/1945, tổ chức ở Phủ Tôn Nhơn cũ, đã bầu nhà văn Nguyễn Lân Từ Ngọc làm Chủ tịch Liên đoàn Văn hóa Cứu quốc Trung Bộ(2).

Như vậy, Giáo sư Nguyễn Lân là người Việt Nam đầu tiên đảm nhận chức vụ Chủ tịch tịch thành phố Huế; sau Cách mạng tháng Tám, ông là Trưởng ty Giáo dục đầu tiên của tỉnh Thừa Thiên và cũng là vị Chủ tịch đầu tiên của Liên đoàn Văn hóa Cứu quốc Trung Bộ.

D.P.T
(SH312/02-15)


...................................................
(1) Việt Nam Tân Báo xuất bản hàng ngày tại Huế. Chủ bút: Bác sĩ Thái Can. Số 1 ngày 23/3/1945 và dừng phát hành vào ngày 21/8/1945, được 124 số. Việt Nam Tân Báo chủ yếu công bố các chỉ dụ của vua Bảo đại và các hoạt động của Nội các Trần Trọng Kim. Chỉ dụ bổ nhiệm Giáo sư Nguyễn Lân công bố trên số 54, ra ngày 29/51945.
(2) Báo Quyết Chiến, cơ quan Thành bộ Việt Minh Thuận Hóa, số 78, ra 23/11/1945.  





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO        (Đọc tập thơ ''Độc thoại trước mặt trời'' của Trần Lan Vinh- NXB Văn học Hà Nội- 2003)Trên thi đàn văn học Việt Nam hiện đại, sự thiếu vắng những cây bút nữ đã trở thành một vấn đề cần được chú trọng. Hầu như mỗi khi phụ nữ cầm bút, điều họ quan tâm nhất đó là sự giải bày tâm sự với ngàn ngàn nỗi niềm trắc ẩn. Nếu viết là một cách để sẻ chia tâm sự thì Trần Lan Vinh là một trường hợp như thế.

  • NGUYỄN THANH TÚMùa đông năm ngoái, anh Đoàn Tuấn từ Hà Nội vào Huế giảng dạy lớp đạo diễn điện ảnh. Dù công việc khá bận rộn nhưng anh vẫn dành cho tôi không ít thời gian tâm sự, bởi ngoài tình cảm thân thiết anh còn là cấp trên của tôi ở toà soạn tạp chí Thế Giới Điện Ảnh. Trong những lần trò chuyện ấy, tôi thật sự bất ngờ khi nghe anh kể chuyện về cuốn sách anh sắp in ở Nhà xuất bản Trẻ mà nội dung của nó là câu hỏi hơn 20 năm nay vẫn luôn canh cánh trong tôi. Vốn dĩ Đoàn Tuấn là nhà biên kịch điện ảnh tên tuổi, anh đã có nhiều kịch bản phim nổi tiếng như: Chiếc chìa khoá vàng (1998), Ngõ đàn bà (1992), Đường thư (2003)...

  • MAI VĂN HOANNguyễn Khoa Điềm đến với thơ hơi muộn nhưng đã sớm định hình một phong cách riêng. Qua các tập Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990), Cõi lặng (2007) ta bắt gặp những suy ngẫm của anh đối với nhân dân, đất nước; những chiêm nghiệm của anh về đời sống xã hội, nhân tình thế thái. Những chiêm nghiệm và suy ngẫm đó được thể hiện bằng một giọng thơ trầm tĩnh, bình dị, sâu lắng và khá hiện đại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ       (Đọc Nỗi niềm để ngỏ của Lê Lâm Ứng - Nhà xuất bản Văn học 2002)Đọc thơ Lê Lâm Ứng để tìm những câu mượt mà thì hơi khó. Thảng hoặc lắm mới bắt gặp ở anh tâm trạng thư thái này:                Biết rằng trong cõi nhớ thương                Lạc nhau âu cũng lẽ thường vậy thôi

  • MAI VĂN HOANNguyễn Đắc Xuân không chỉ có chân trong Hội Nhà văn Việt Nam mà anh còn là hội viên Hội Lịch sử Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam... Nhưng dù ở cương vị nào thì điều mà anh tâm huyết nhất vẫn là lịch sử và văn hóa Huế.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG   (Nhân đọc sách "Gió về Tùng Môn Trang" của Nguyễn Xuân Dũng)Tác giả cuốn sách này là một võ sư đệ bát đẳng huyền đai thuộc phái không thủ đạo, vừa là một nhà hoạt động thương trường nổi tiếng ở Mỹ. Nhưng cuốn sách này không hề bàn đến chuyện đấm đá hơn kém hoặc là chuyện mua bán lời lỗ mà bàn về cái TÂM. Tác giả tỏ ra hết sức chú trọng vũ đạo; nhất cử nhất động đều phải xuất phát từ cái TÂM, cái TÂM viết hoa.

  • TRẦN THUỲ MAI            (Đọc Uẩn khúc, tiểu thuyết của Hoàng Văn Bàng, NXB Thuận Hoá 2002)Câu chuyện xảy ra ở một vùng quê không xa lắm, với một tầm mức tai hại không lớn, gây một ảnh hưởng mới xem qua tưởng chừng không đáng kể. Một ông trưởng phòng ở huyện tham ô vài chục triệu thì đã thấm gì so với những câu chuyện động trời hàng ngày trên các báo, mà thủ phạm mang những chức tước lớn lao hơn, với những số tiền khổng lồ tới hàng nghìn tỉ!

  • MAI VĂN HOAN         (Giới thiệu các tác giả thuộc chi hội nhà văn Việt Nam tại Huế)Ngô Minh là một trong những nhà văn Việt Nam ở Huế được Đài truyền hình Cáp Việt Nam chọn giới thiệu tới 45 phút trong chương trình “Người của công chúng”. Tôi cũng được mời nói đôi lời về anh. Với tôi, Ngô Minh là người làm việc “tới số” và chơi cũng... “tới số”!

  • PHẠM XUÂN NGUYÊNCùng một kiếp bên trời lận đận                  (Bạch Cư Dị - Tỳ bà hành)Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa cho ra mắt tác phẩm Rừng xưa xanh lá (Mười chân dung văn nghệ sĩ) tại Nhà xuất bản Hải Phòng (1/2003).

  • TÔ VĨNH HÀNhững trang viết sau cùng của một con người luôn luôn là điều thiêng liêng và không bao giờ hết bí ẩn. Vì sao lại dùng từ ấy chứ không phải là chữ kia; đề cập đến cái này chứ không phải là cái khác..? Rất nhiều câu hỏi sẽ đến với người đọc khi trước mắt ta là những ý tưởng hiện hữu sau cùng của một đời người - đặc biệt ở con người vĩ đại như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là cái tên mà mỗi người Việt lúc đọc hay nói, không chỉ diễn đạt một quan niệm gần như vô hạn của nhận thức, mà hơn nhiều thế nữa - là âm sắc tuyệt vời của sự kết tụ những tinh hoa quý giá nhất của trái tim mình.

  • NGUYỄN TỐNGQuê hương đất nước và con người luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau trong suốt chiều dày của lịch sử dựng nước và giữ nước. Nó tự nhiên chan hoà đến mức như cá bơi quẫy giữa đại dương, chim tung cánh vô tư giữa bầu trời bát ngát. Đến lúc nào đó, khi con người rơi vào cảnh cá chậu chim lồng, tình cảm, ý thức về đất nước thiêng liêng mới trở nên ám ảnh day dứt.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ           (Đọc “Thân Trọng Một – con người huyền thoại” của Nguyễn Quang Hà)Đã từ lâu, tên tuổi anh hùng Thân Trọng Một trở nên thân quen với mọi người, nhất là với quân dân Thừa Thiên Huế; những “sự tích” về ông đã thành truyện “truyền kỳ” trong dân chúng và đã được giới thiệu trên nhiều sách báo. Tuy vậy, với “THÂN TRỌNG MỘT – CON NGƯỜI HUYỀN THOẠI”, lần đầu tiên, chân dung và những chiến công của ông đã được tái hiện một cách đầy đủ và sinh động nhất.

  • Nhà văn Nguyễn Quang Hà tâm sự với tôi rằng anh có hai món nợ rất lớn mà chắc đến khi nhắm mắt xuôi tay cũng không thể nào trả xong. Hai món nợ mà anh đang gánh trên đôi vai của mình là món nợ đối với nhân dân và món nợ đối với đồng đội. Gần bốn mươi năm cầm bút, anh đã viết 9 tập tiểu thuyết; 7 tập truyện ngắn, ký, truyện ký; 2 tập thơ cùng với hàng trăm bài báo cũng chỉ mong sao trả được hai món nợ ấy.

  • XUÂN CANGNhờ cuốn hồi ký nhỏ Ngày ấy Trường Sơn (Nxb Hội Nhà văn - Hà Nội - 2000) của Nguyễn Khoa Như Ý- tên khai sinh của Hà Khánh Linh, bạn đọc được biết đây là một nhà văn nữ có khí chất không bình thường. Một người con gái mảnh dẻ, nhưng có chí, mơ mộng, ham hành động, vì nghĩa lớn mà dấn thân vào nơi nguy hiểm.

  • Sau Vị giáo sư và ẩn sĩ đường, Ba lần đến nước Mỹ, trong năm 2002, GS. Hà Minh Đức tiếp tục ra mắt bạn đọc tác phẩm Tản mạn đầu ô. Vậy là trong khoảng 5 năm, bên cạnh một khối lượng lớn những tác phẩm nghiên cứu, lý luận, phê bình, ông đã sáng tác 3 tập thơ và 3 tập bút ký. Đó là những con số mang nhiều ý nghĩa thể hiện sự "đa năng" của một đời văn tưởng đã yên vị với nhiều danh hiệu cao quý và hơn 30 tập sách nghiên cứu, lý luận, phê bình. Tản mạn đầu ô ra đời được dư luận chú ý, quan tâm. Sau đây là cuộc trao đổi giữa PGS. TS Lý Hoài Thu với GS. Hà Minh Đức xung quanh tập sách này.

  • HUỲNH HẠ NGUYÊN         (Đọc tập thơ "Khúc đêm" của Châu Thu Hà - Nxb Thuận Hoá - 11/2002)...Thơ Châu Thu Hà mang đậm nữ tính. Khi trái tim biết cười, hay khi giàn giụa nước mắt, ta bỗng thấy quý sao những phút sống chân thành với cuộc đời, với mọi người. Châu Thu Hà không để trái tim mình tuột xuống phía bên kia triền dốc, chị cố bước tới và neo lại, để thấy mình được xẻ chia, được yêu chiều, xoa dịu...

  • LÊ MỸ Ý (L.M.Y):  Thưa nhà thơ, là một người có thể tạm gọi là thuộc thế hệ đi trước nhưng lại luôn "gây sốc" bằng những tác phẩm tìm tòi mới, chắc hẳn ông có quan tâm nhiều đến thế hệ thơ trẻ? Có thể có một nhận xét chung về thơ trẻ hiện nay chăng?NHÀ THƠ HOÀNG HƯNG (H.H): Tất nhiên là tôi rất quan tâm. Nhận xét chung của tôi về thơ trẻ bây giờ là đa số vẫn mang tính phong trào. Có thể nói là những người làm thơ trẻ vẫn đi theo một vết mòn của thế hệ trước, chưa thấy rõ những bứt phá, chỉ nổi lên một số tác giả theo cách lẻ tẻ.

  • Tại sao cô chỉ làm thơ tự do?- Trước hết, bởi tôi thích tự do. Tự do ở đây, được hiểu là: nói, làm, dám mơ ước và tham vọng tất cả những gì mình muốn, không bị tác động và chi phối bởi ai, bởi bất cứ điều gì.

  • NGUYỄN THỤY KHA Đã là lạ tên một tác phẩm khí nhạc mang tực đề "Eo lưng" của nữ nhạc sĩ Kim Ngọc. Lại thu thú khi đọc tập thơ "Nằm nghiêng" của nữ thi sĩ Phan Huyền Thư. Một thế kỷ giải phóng của Việt Nam thật đáng kính ngạc.Cái cách giải phóng mình, phái yếu trong đó có mình của Phan Huyền Thư là sự độ lượng với cũ kỹ, là mỉa mai sự nửa vời, là quyết liệt lặng lẽ vươn tới cách tân theo một thế của “Nằm nghiêng”.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOCòn nhớ mùa Huế mưa 1992, Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đến nhà tôi chơi, mang theo bản thảo đánh máy tập thơ đầu tay của một tác giả mới 20 tuổi có tên là Văn Cầm Hải. Một cái tên lạ mà tôi chưa nghe bao giờ. Những bài thơ của anh cũng chưa hề xuất hiện trên mặt báo. Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đều nói rằng; "Thơ tay này lạ lắm. Ông xem thử".