Giáo sư Lê Khả Kế, người lao động không ngừng nghỉ

09:02 29/03/2010
PHONG LÊTết Dần năm 1998, vào tuổi 80, bác Kế yếu đi nhiều lắm. Sự thay đổi quá chóng khiến tôi bất ngờ.

GS Lê Khả Kế - Ảnh: cpd.vn

Đi đứng chậm chạp, đầu tóc càng thưa, dẫu đã rất lơ thơ, giọng nói có phần run run, không còn rành rõ, và nhất là quên nhiều, chuyện vừa nói xong đã lại quên, cái mà chính ông cũng thừa nhận là lẫn. Cả ông và bà đều lẫn - ông nói vui. Lẫn là quên, là có thể bỏ qua cho nhau các khuyết điểm, các va chạm của tuổi già. Cũng tốt! Vợ chồng tôi chúc Tết hai bác và dặn đi dặn lại: Có bất cứ việc gì cần, bác cho gọi tôi ngay (ngầm hiểu về sức khỏe), tôi - dẫu có bận rộn đến đâu vẫn có thể giúp bác mọi việc ngay lập tức ở cả ba tư cách: học trò kiêm đồng nghiệp, láng giềng và đồng hương. Tôi nhắc đi nhắc lại điều đó đến dăm bảy lần cho đến khi ông bà tiễn chúng tôi ra ngoài cửa.

Thế mà cuối tháng ba 1998 lại bất ngờ gặp giáo sư Lê Khả Kế ở bệnh viện. Tôi có việc phải ở viện, bỗng thấy một người mặc chiếc áo bộ đội cũ, đầu đội chiếc mũ cối sờn rách hết các mép chậm chạp đi vào. Không thể ngờ đó là giáo sư Lê Khả Kế! Vậy là bác đã vào bệnh viện lúc nào mà không báo cho tôi biết? Lại còn biết chúng tôi ở đây mà sang thăm. Mà đường từ khu A sang khoa ngoại không ngắn, lại phải leo ngược tầng hai, phải dò dẫm hỏi han nhiều người... Tôi ái ngại quá, cảm thấy mình có lỗi!

Bác Kế cùng ở một chung cư với tôi, tôi tầng ba, bác tầng hai, trên mười năm nay. Tôi nghe tên bác từ bé, làng tôi và làng bác cách nhau mấy quãng đồng. Đến 1963 tôi và bác ở cũng cơ quan mẹ là Ủy ban Khoa học Nhà nước, rồi gần nhau hơn khi bác về Viện Ngôn ngữ. Từ nhiều chục năm nay bác đã là người nổi tiếng ở nhiều lĩnh vực, và càng nổi tiếng ở tư cách chủ biên nhiều từ điển hai thứ tiếng cỡ lớn: Pháp- Việt- Việt- Pháp, Anh Việt- Việt Anh. Trung- Việt- Việt Trung (còn chưa xong). Biết bác làm từ điển đã nhiều chục năm nay, lại là láng giềng chẵn 10 năm, tôi quen với cách nghĩ đại khái đó là việc bác thường làm với một tập thể lớn nhỏ. Thế nhưng ngồi buồn mở ra hai bộ trong số các bộ có sẵn ở nhà thì thấy đây còn là công trình của cá nhân chứ không là tập thể. Cuốn Từ điển Việt- Anh, Nhà Khoa học xã hội in năm 1987, 797 trang là do bác và Đặng Chấn Liêu (đã mất) cùng làm. Cuốn Từ điển Anh- Việt (bản mới), Nhà Khoa học xã hội in cuối 1997, 2205 trang, gồm 350.000 mục từ đứng riêng tên bác biên soạn. Và đây là bản mới, sau nhiều lần tái bản. Nhìn khối chữ đồ sộ như cả một cái gối lớn trong tay, càng thấy việc bác ngồi như dính vào bàn và một mình, hàng chục năm là có lý. Tôi tự nhận có chút ít quen biết với độc giả, nhưng không thể so với bác được, vì từ điển là mối bận tâm của toàn xã hội, của mọi tầng lớp, mọi nghề nghiệp, mọi thời gian, mọi lứa tuổi, từ trẻ đến già. Thế mà người có khối công chúng cực kỳ rộng rãi ấy, láng giềng của tôi, lại sống hết sức thầm lặng. Cả hai vợ chồng bác đều rất ít khi ra ngoài. Có thể nói suốt ngày, và ngày này sang ngày khác, bác chỉ ngồi ở bàn, với chung quanh là mọi loại từ điển... Còn bác gái thường chỉ ra khỏi nhà hai lần mỗi ngày, vào sáng và chiều, sáng, mua cái ăn sáng và đi chợ, và chiều, đi đổ rác. Những khi bác gái mệt hoặc đi vắng thì hai loại việc đó bác trai thay.

Hồi còn khỏe, bác Kế hết sức tránh gây mọi phiền hà cho người khác. Cho đến khi yếu, ngay cả lúc ốm mệt, bác cũng tự lực giải quyết mọi việc cho mình.

Như thường lệ, tôi hỏi bác đến bệnh viện bằng gì? Bác chỉ cười, và tôi hiểu bác đã đến đây bằng xích lô. Tôi nhăn nhó “ Tôi đi xe máy đến bệnh viện mất gần nửa giờ, vậy xích lô phải hằng giờ...”

Những lần trước, vào hoàn cảnh này, tôi thường hỏi bác với giọng gay gắt “ Sao bác không gọi Viện Ngôn ngữ hoặc Uy ban (nay là Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn) cho ô tô đón bác? Hoặc bác bảo tôi để tôi gọi” Thì đều bị bác vưa xua tay, vừa lắc đầu... Tôi không nói gì thêm, càng không tranh luận, mà chỉ buồn!

Về thói quen không thích sự phiền lụy đến cố chấp này, tôi cũng đã từng thấy ở nhiều người, nhất là những người xứ Nghệ, nhưng không ai đến mức quyết liệt như bác Kế. Cứ nghiệm qua tôi, và qua quan hệ giữa tôi và bác cũng đủ hiểu.

Toàn bộ cuộc đời giáo sư Lê Khả Kế cho đến tuổi 80 vẫn chỉ là sự làm việc, không phân biệt trước và sau nghỉ hưu. Và làm việc, đối với bác, có nghĩa là ngồi vào bàn, và một mình. Làm cho đến khi không thể làm, có nghĩa là phải ngừng, và ngừng có nghĩa là để vào bệnh viện, và vào viện có nghĩa là thôi không làm được gì nữa. Không có khoảng đệm nào ở giữa. Tôi cùng bác bỗng dưng đi đến cùng một tổng kết rất lôgic như thế, và thấy cần sớm rút ra kinh nghiệm: Phải chi nên có sự ngừng nghỉ dần dần và sớm hơn, ở tuổi 75 hoặc 70... Nhưng khi nhận ra điều này thì đã muộn - bác cười buồn với tôi. Còn tôi, vẫn hết lòng khích lệ “ Bây giờ thì dứt khoát phải nghỉ ngơi thôi. Vẫn cứ kịp. Ra viện kỳ này bác phải có một phương thức sinh hoạt khác”

Nhìn bác, rồi ngẫm nghĩ cho cái tuổi của tôi: “ thể thao đã qua, thể dục chưa tới” mà vừa vui, vừa lo. Kinh nghiệm, có chắc ai cũng rút được không? Bác đã vậy, còn thế hệ tôi?

Ông già mặc cái áo bộ đội cũ và đội chiếc mũ cối tàng ấy ở bệnh viện cũng khác nào ở nhà với bộ bà ba đen và chiếc áo vệ sinh Đông Xuân màu cỏ úa thời chiến tranh, y chang các cụ lão nông quê tôi. Tôi thật không hiểu nổi vì sao mà bác còn giữ được loại áo ấy, loại áo một thời cả đất nước cùng mặc, rất xứng đáng để vào bảo tàng! Không phải ông thiếu tiền. Nhuận bút Từ điển với tia - ra hàng nhiều vạn bản, tái bản đến bảy, tám lần phải nói là rất lớn, khiến ông có thể biếu tặng mỗi lúc hàng chục triệu đồng cho nhiều nơi: Trường Phổ thông Phan Đình Phùng Hà Tĩnh, nơi ông là hiệu trưởng đầu tiên, Công đoàn Cơ quan Viện Ngôn ngữ. Rồi vài triệu đồng cho Quỹ phường... Thế nhưng ông vẫn rất chặt chẽ trong những tính toán để không bao giờ phí phạm chỉ mươi nghìn hoặc chục nghìn. Chẳng hạn đến bệnh viện bằng xích lô chứ không là tắc xi. Chẳng hạn có thứ thuốc chống lão hóa, chống lẫn của Pháp nghe đâu rất hiệu nghiệm, ông đã thử dùng, nhưng mới uống ngót trăm viên thấy không hiệu quả, ông lại thôi. Tôi hỏi ông, ra chiều băn khoăn: “ Sao bác lại ngừng uống sớm thế? Giá cả thuốc ấy ra sao? - “ Bốn đồng rưỡi viên”. Tôi ngờ ngợ vì nghĩ là thuốc ấy phải rất đắt. Hóa ra bốn đồng rưỡi tức bốn nghìn rưỡi, vậy bốn trăm rưỡi nghìn đã có gì làm nhiều!... Căn hộ tập thể ông được cơ quan cấp cùng tôi, ông tuyệt không có sửa chữa hoặc thay đổi gì, mười năm trước đã thế, bây giờ vẫn thế, trong khi tất cả các hộ đều phải bỏ ra nhiều chục triệu để nới rộng thêm chút ít diện tích và thay đổi chút ít tính chất chung cư. Hai ông bà cũng đã già với những đồ đạc cũng cũ kỹ theo lối xưa, từ chiếc phản gụ, cái bàn mộc, đôi guốc gỗ, bộ ấm chén cọc cạch... Nếp sống giản dị, nói vậy cũng là một cách nói sang cho giáo sư Lê Khả Kế, bởi có cái gì đó còn thua cả sự giản dị. Dùng chữ khắc khổ, hoặc khổ hạnh thì e không hẳn đúng, và không phải lẽ với bác, nhưng như thế đấy, gần như cả hai ông bà đều không có bất cứ nhu cầu gì theo mốt của đời sống tiện nghi hiện nay.

Thế là Tết Dần 1998, giáo sư Lê Khả Kế đã phải vào - ra bệnh viện. Và đến giữa 1999, bác đã phải vào ở luôn trong bệnh viện. Đến thăm bác, lần đầu còn có thể cùng bác đi ra cửa. Lần thứ hai, bác còn có thể ngồi dậy tiếp chuyện. Và lần thứ ba, chỉ nằm.

Rồi nằm bất động, từ Tết Thìn này.

Một đời cần lao, ít có niềm vui nào khác ngoài công việc. Loại công việc chỉ có thể thực hiện ở mặt bàn ngổn ngang sách báo, và một mình. Loại công việc cần thiết cho biết bao người, khiến bao người biết ông và kính trọng ông. Còn ông, ông đang vĩnh biệt chúng ta.

P.L
(134/04-00)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Rất nhiều hoa, rất nhiều nụ cười đã hiện diện một cách cởi mở và đầm ấm trong buổi chiều ngày 18.7.2008 tại Trung tâm Du lịch và Dịch vụ Festival - Huế, nơi diễn ra Lễ kỷ niệm 25 năm Tạp chí Sông Hương phát hành số báo đầu tiên (1983-2008).

  • HỒ THẾ HÀĐến nay, Tạp chí Sông Hương đã tròn một phần tư thế kỷ (1983-2008) kể từ số đầu tiên được ra mắt bạn đọc. Hai mươi lăm năm đủ để vui buồn ôn lại những chặng thác ghềnh và phẳng lặng của một dòng sông từ nguồn ra biển.

  • ĐẶNG VĂN VIỆTKỷ niệm 63 năm Cách mạng Tháng TámSau ngày đảo chính (9-3-1945), Nhật lật đổ Pháp. Phong trào Việt Minh như một luồng gió mạnh, thổi từ miền Bắc vào miền Trung, miền Nam, thức tỉnh lòng yêu nước, thương nòi của người dân đất Việt, thúc giục mọi người sẵn sàng để chớp thời cơ, giành lại chính quyền về tay nhân dân.

  • TRẦN THÙY MAIThuở trước, mỗi đêm cuối năm, anh Hải Bằng bao giờ cũng đến thăm trụ sở Hội Văn nghệ, rồi túc tắc ngự trên chiếc xe babeta màu đỏ, ghé thăm nhà bạn bè thân hữu đó đây trước khi quay về để kịp đón giao thừa.

  • NGUYỄN QUANG HÀCuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cả nước xôn xao về vụ án Trần Dụ Châu.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTrong một cuộc vui gần đây, nhân nhắc đến việc bình chọn các nhân vật, sự kiện nổi bật trong năm trên báo chí, có ý kiến phong cho nhà văn Hồng Nhu là người đạt nhiều cái “nhất” nhất trong làng văn ở Huế.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG - Chúng ta lại thắng rồi. Thỉnh thoảng lão lại reo lên như thế khi bất chợt gặp một người mà lão coi là bạn. Lão nói câu ấy cả khi lão đang thoi thóp trên giường bệnh, miệng méo xệch lão nói một cách khó khăn nhưng vừa nói lão vừa cười khiến cho người ta yên tâm là lão bắt đầu sống trở lại, cái chết còn lâu mới quật được lão.

  • PHẠM QUANG TRUNGAnh Cao Xuân Hạo kính mến!Trước tiên, xin thú nhận, tôi là người mê say tên tuổi anh đã từ lâu. Tuổi trẻ và sau đó là những năm tháng trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu, phê bình văn chương đã đưa tôi đến những trang dịch văn xuôi Nga – Xô viết đầy sức cuốn hút của anh, như Chuyện núi đồi và thảo nguyên, Chiến tranh và hòa bình, Truyện ngắn Gorki, Con đường đau khổ, Tội ác và trừng phạt…

  • VINH HUỲNHLTS: Có bạn đọc gửi thư đến Toà soạn chúng tôi đề nghị nếu chọn topten sự kiện nổi bật trong làng báo chí năm 2001 thì không nên bỏ qua “hội chứng” đánh vào các trường đại học, trong đó có Đại học Nghệ thuật Huế và trường Viết văn Nguyễn Du.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCH(Tham luận đọc trong hội thảo)Cho đến đầu thế kỷ 21 này, chúng ta vẫn đang đứng trước nguy cơ tụt hậu về mặt kinh tế đã là điều đáng sợ nhưng cái đáng sợ hơn là nguy cơ vong bản về mặt văn hoá. Xu thế toàn cầu hoá đang xâm nhiễm và xâm thực vào đời sống chúng ta một cách ngọt ngào mà chua cay, dịu êm mà đẫm máu.

  • TRẦN HOÀNLTS: Từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 12 năm 2001 đã diễn ra cuộc tập huấn - hội thảo báo chí văn nghệ địa phương tại thủ đô Hà Nội. Nhạc sĩ Trần Hòan, Phó Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Phó Chủ tịch UBTQ.LH các Hội V.H.N.T Việt Nam đã đọc báo cáo đề dẫn hội nghị. Sông Hương xin trích đăng một phần trong báo cáo đó (đầu đề do chúng tôi đặt).

  • NGUYỄN KHOA ĐIỀM(TBT: 1983 - 1986)Bây giờ nhìn lại những số Sông Hương đầu tiên (số 1 ra mắt tháng 6-1983) không khỏi cảm thấy tờ tạp chí như một… cô gái quê, giản dị, khiêm nhường, có vẻ… tồi tội. Giấy đen. Bìa mỏng. Bát chữ typo chỗ đậm chỗ nhạt. Sông Hương làm sang cho in ảnh tác giả, khốn nỗi, ảnh loè nhoè, không rõ mặt. Giá bao cấp 7 đồng/số, vẫn bị chê đắt. Được cái lượng bản in ngay số đầu là 4.000 bản. Trông khí sắc cuốn tạp chí vẫn chưa xa cái thời tranh đấu chống Mỹ, in sách báo trong gác trọ sinh viên.

  • TÔ NHUẬN VỸ(TBT: 1986 - 1989)Có năm kỷ vật của Hải Bằng tặng tôi và gia đình, từ ngày anh còn sống cho đến nay, sau 10 năm anh mất, tôi vẫn nhìn ngắm và chăm sóc hàng ngày. Đó là bức tranh hồ sen, là hai câu thơ anh viết trên giấy đặc biệt, là tất cả các tập thơ anh in từ sau 1975, là đôi chim hạc anh tạo bằng rễ cây và con chó Jò bé xíu.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ(TBT: 1991)Tôi có may mắn được làm Phó Tổng biên tập nhiều năm cho hai “đời” Tổng biên tập nổi tiếng là Nguyễn Khoa Điềm và Tô Nhuận Vỹ, nhưng đến “phiên” mình được gánh vác trọng trách thì chỉ đảm đương được một thời gian ngắn. Đã đành do tài hèn sức mọn, nhưng cũng vì đó là giai đoạn khó khăn sau “Đổi Mới”, chúng ta đang phải tìm đường, nhiều quan niệm - nhất là về văn học nghệ thuật chưa dễ được nhất trí…

  • HỒNG NHU(TBT: 1992 - 1997)Thời gian như bóng câu qua cửa. Mới đó mà đã một phần tư thế kỷ, tờ tạp chí Sông Hương có mặt cùng bạn đọc trong và ngoài nước.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCH(TBT: 2000 - 2008)Vậy là đã tròn một phần tư thế kỷ. Ngày ấy, cũng vào mùa “Hạ trắng” nắng lên thắp đầy như nhạc Trịnh, tờ Tạp chí Sông Hương - tạp chí sáng tác lý luận phê bình nghiên cứu văn học nghệ thuật của xứ Huế được ra đời và đi qua cái ngưỡng “vạn sự khởi đầu nan” một cách kỳ diễm, đầy ấn tượng.

  • MAI VĂN HOANSáng 8 - 5 - 2008, ghé quán  26 Lê Lợi (trụ sở Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế) ngồi uống cà phê với hai nhà thơ Kiều Trung Phương và Ngàn Thương, tôi vô cùng sửng sốt khi Ngàn Thương cho biết người suốt đời đi tìm chân dung Hàn Mạc Tử là anh  Phạm Xuân Tuyển đã mất cách đây gần 7 tháng tại Phan Thiết.

  • I.Con người ấy từng mang tên Nguyễn Sinh Cung, và tên chữ Nguyễn Tất Thành, trước khi đến với tên Nguyễn Ái Quốc, đã trải một tuổi thơ vất vả vào những năm kết thúc thế kỉ XIX, để bước vào thế kỉ XX với một niềm khao khát lớn: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ: tự do, bình đẳng, bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thủa ấy tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn sau những chữ ấy...” (1)

  • Từ rất nhiều năm nay tôi rất muốn bày tỏ đôi điều về những bi kịch cuộc đời mà nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) từng chịu đựng và trăn trở, từng nén vào lòng để sống và sáng tác.

  • Chiều 17.11 vừa rồi, ở địa chỉ 26 Lê Lợi đã diễn ra cuộc tọa đàm giữa đoàn nhà văn Trung Quốc với Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Huế. Nhà thơ Phạm Tiến Duật, Phó Ban đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ đã tháp tùng đoàn nhà văn bạn từ Hà Nội tới Huế.