Giấc mơ bay 1. Giấc mơ bay của chiếc lá khi ngọn gió mang đến một lời thì thầm bí ẩn từ phía chân trời Nhưng chiếc lá làm sao có thể rời cành khi không thể tự mình bứt ra khỏi cành cây? Giấc mơ bay là sự khốn cùng của nhân loại Anh đã viết đến tiều tụỵ cả hai bàn tay Sự sợ hãi níu giữ những linh hồn khổ hạnh Anh buông mình vào chỗ tối Nấp giữa những bóng đen của khói Và ... 2. Chiếc lá vẫn thèm khát bầu trời và liếm vào trong gió Nụ hôn mang đi cảm giác về sự hiện hữu trên những giấc mơ bay Anh vẫn ngồi trong chỗ tối Và nhớ em. 3. Ở một nơi rất vắng Cơn gió bồn chồn xoáy vào khoảng không tra hỏi về ngọn nguồn của những giấc mơ Anh ngồi trong chỗ tối Trời đổ mưa và lạnh Vòng tay ôm xa lắc. 4. Chiếc lá vẫn liếm vào bầu trời và nụ hôn của em mang giấc mơ bay về đóng đinh trên bức tường thời gian Anh kịp hát những khúc ru hời máu Và kịp đạp chân đến chỗ tận cùng của số phận Cuối cùng thì anh biết, cách vượt ra khỏi thế giới này là yêu em. Mùa hoan lạc Khi chúng ta yêu nhau Mặt đất lún xuống vì nặng Những con gà trống xấu hổ chui vào chuồng Nhưng lũ gà mái lại hốt hoảng vì mùa hoan lạc đã tận trên cánh đồng người Một cánh hoa run rẩy và bật thốt những âm thanh mờ mịt như sóng dội từ xa thẳm nơi những ngọn gió đang tụ lại chuẩn bị cho một mùa mưa giông đắm đuối. Đi Trong sương âm mù mịt Những phế tích trồi lên khỏi mặt đất mỗi lúc một cao và mỗi lúc một dày đặc Dưới ánh sáng huy hoàng của những ngọn nến Những linh hồn ẻo lả đang dán mình vào bức tường đổ nát Niềm hoan lạc rên rỉ trên những câu kinh dồn đuổi về phía siêu thực Anh cúi nhặt những viên đá trong thành quách cũ để biểu thị chuỗi thời gian trong muôn vạn kiếp người Và dưới ánh sáng huy hoàng của những ngọn nến Những viên đá biến thành kim cương Những linh hồn ẻo lả biến thành tượng Trong khi tiếng chuông vẫn ngân nga mãi vào trong những thế giới sâu thẳm. NGUYỄN VIỆN (nguồn: TCSH số 143 - 01 - 2001) |
Tải mã QRCode
Tôn Phong - Nguyễn Thất Hanh - Bùi Tấn Xương - Trần Thị Ngọc Mai - Nguyễn Tuất
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà