Chức Phó giám đốc một Nhà xuất bản cấp tỉnh thì thiếu chi thứ để bày vẽ kiếm... tiền? Thế mà dài dài ngày lại nuôi chí dựng một bảo tàng bằng cách dành tiền để mua hiện vật đến nỗi thường xuyên phải gặm mỳ gói...
Hiện vật chum, chóe trong bảo tàng Ảnh: XB.
Ky cóp
Tôi biết Nguyễn Hữu Ngôn cũng lâu lâu... Dịp Huế tổ chức hội thảo về Đạm Phương nữ sử, anh Ngôn vừa đáp tàu đêm từ Thanh Hóa vô Huế, quần ống thấp ống cao lên bục trình bày một tham luận về bà Đạm Phương. Tham luận có tên Nữ sử Đạm Phương nhà hoạt động xã hội, nhà giáo dục, người bà người mẹ tôn kính.
Ngạc nhiên ông này, đành nhẽ là dân tuyên giáo đa sự đa ngôn (anh Ngôn đang làm việc ở Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa) sao lại quá rành về một nhân vật đất thần kinh như bà Đạm Phương và cả đề tài vốn chưa hẳn là địa hạt sở trường?
Có dịp ngồi với Hữu Ngôn mới bật ra lắm cái à...
Năm 1946 mặt trận Huế vỡ, nữ sử Đạm Phương, tên thật là Công nữ Đồng Canh, sinh năm Tân Tỵ (1881) cháu nội vua Minh Mạng, con gái Hoàng tử thứ 66 - Hoằng Hóa Quận công Miên Triện (1833 - 1905). Một gương mặt nổi bật trong lĩnh vực văn chương và là người đầu tiên ở Đông Nam Á đặt ra vấn đề giải phóng phụ nữ với những hoạt động tích cực vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX) cùng 6 người con lên đường theo kháng chiến. Trong đó có người con trai thứ Nguyễn Khoa Văn, tức Hải Triều. Sau này Hải Triều được coi là nhà lý luận và phê bình văn nghệ Mác-xit đầu tiên ở Việt Nam. Hải Triều là thân phụ của ông Nguyễn Khoa Điềm - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương.
Gia đình nữ sử Đạm Phương tản cư về Triệu Sơn (Thanh Hóa) được dân làng Lạc Lâm che chở cưu mang. Năm 1947 bà mất ở Lạc Lâm.
|
Lắm hôm chứng kiến lão tay phải biên biên chép chép, tay trái đưa gói mỳ sống lên cạp rau ráu...
|
Muốn tìm hiểu, muốn học điều gì thì hãy viết về điều ấy. Cảm phục tấm gương bà nữ sử cùng nhiều lần về Triệu Sơn tìm hiểu thời gian bà Đạm Phương lưu lại xứ Thanh đã khiến Hữu Ngôn có nhiều bài viết và có hẳn một cuốn sách về bà Đạm Phương.
Khúc nhôi anh cán bộ Tuyên giáo Nguyễn Hữu Ngôn cùng gia đình ông Nguyễn Khoa Điềm tìm được phần mộ nữ sử Đạm Phương và cất bốc đưa về Huế là cả một câu chuyện dài...
Bẵng đi một dạo không gặp Hữu Ngôn. Rồi nghe tin anh chuyển công tác, là Phó GĐ Nhà xuất bản Thanh Hóa. Nhiều cú điện thoại bạn bè xứ Thanh gọi ra kèm thông tin lão Ngôn dạo này lạ quá...
Lạ là không biết tự khi nào, ngôi nhà 3 tầng của anh ở phố huyện Hoằng Hóa từ tầng trệt giăng lên chót thượng la liệt những thứ... lạ! Chao ôi chật ních vướng víu những nơm giậm, cối xay lúa, quạt thóc, cày bừa, giần sàng và cơ man nào là các loại cối đá... Thứ gọn nhẹ hơn là bát đĩa cổ, bình lọ, sắc phong, gia phả...
Có lẽ chẳng lạ bởi những vật dụng thân thương một thuở một thời. Có điều lâu quá không dùng không gặp nên mắt đâm lạ đi đó thôi? Khá bắt mắt khi tỉ mẩn lướt qua hàng ngàn thứ vật dụng hiện vật... Riêng một loại đĩa thôi, đã tròm trèm 500 cái. Cối xay bằng đá hơn 300...
|
|
| Anh Hữu Ngôn bên các hiện vật . |
Nghe nói anh đang lập một bảo tàng tư nhân. Cánh bạn bè thì khẳng định chắc khừ rằng, anh đang lập dựng một bảo tàng... nông nghiệp?
Bảo tàng chi lạ? Đất đai để dựng chưa có lại đặt ngay nhà mình?
Không biết đồn đại thế nào mà người trong tỉnh Thanh có, dân Hà Nội lại nhiều hơn cùng tỉnh khác nữa ùn ùn kéo đến nhà Hữu Ngôn tham quan.
Mái tóc rễ tre như xác hơn, duy cái cười vẫn tươi tắn như mọi bận. Hữu Ngôn lắc đầu quầy quậy khi nghe tôi nhắc đến bảo tàng nông nghiệp! Ngôn cho biết, tên ấy thì chưa hẳn.
Câu chuyện với chủ nhà nối dài. Đầu tiên là thích cái đã! Thứ hên may, ấy là đương nói về hiện vật bảo tàng của anh, xin hoặc người ta cho cũng kha khá. Nhưng thứ mua mới là đáng kể. Bởi xin mãi, nguồn cũng cạn và cùng chai mặt. Anh có điều kiện lang thang đây đó. Qua những thông tín viên, người ta đánh tiếng cho Ngôn theo phương thức thuận mua vừa bán.
Có lẽ Ngôn không thuộc loại tháo vát, năng động trong việc kiếm tiền? Chỉ trần sì lương cơ quan. Vậy nên rinh về nhà mấy ngàn hiện vật đương bày kia, anh phải bỏ tiền túi ra. May mà anh có người vợ hiền ngoan. Ngoan bởi lâu rồi, vợ không ỏ ê chi đến lương của đức ông chồng. Và hiền thục lẳng lặng chiều cái sở thích mà vợ Hữu Ngôn nói vui là mặc kệ cho lão tha rác về bầy đầy nhà. Cánh cơ quan với anh nói rằng tội lão này lắm... Có đồng nào là chi chút chăm chắm sắm sanh những thứ trời ơi đất hỡi. Mải mê những việc mua sắm sưu tầm như thế, tiền lẫn thời giờ đều eo hẹp, lão thường xuyên qua bữa bằng mỳ gói cho tiện. Lắm hôm chứng kiến lão tay phải biên biên chép chép, tay trái đưa gói mỳ tôm sống lên cạp rau ráu...
Bảo tàng nông nghiệp Việt Nam, tại sao không?
Hữu Ngôn lắc đầu quầy quậy khi nghe tôi nhắc đến bảo tàng nông nghiệp mà anh đang gây dựng! anh bảo, tên ấy thì chưa hẳn.
Anh bộc bạch rằng việc sưu tầm tích cóp lâu nay, những hiện vật những chứng tích ấy như một cú hích để anh đạt được một cái đích lớn hơn nhiều. Đó là việc xây dựng một bảo tàng nông nghiệp (BTNN) Việt Nam!
Tại sao không? Tóc xõa, cặp mắt vẫn nét cười nhưng thoáng ánh lên những tia quyết liệt ...
Anh thẳng tưng rằng, qua tìm hiểu Việt Nam có tới 138 bảo tàng. Số lượng ấy gây ra một băn khoăn, thắc mắc thậm chí trăn trở. Vì sao? Chúng ta là quốc gia nông nghiệp có tới hơn 70% là nông dân, sản phẩm chủ yếu là nông nghiệp, ai ai cũng thụ hưởng văn minh nông nghiệp, cớ sao lại không có BTNN?
|
|
| Một góc bảo tàng . |
Hữu Ngôn rành rẽ như một chuyên gia thực thụ. Đơn cử một vài việc: Đó là hệ thống các công cụ sản xuất bao gồm: Công cụ làm đất (mảnh tước, rìu đá, rìu đồng, cày, bừa, cuốc, mai, vồ...) công cụ làm cỏ (các loại cào, nạo, dao phạt, liềm...) công cụ thủy lợi (gầu giai, gầu sòng, kênh mương, cọn nước, đê điều...) công cụ chế biến sản phẩm nông nghiệp (các loại cối xay, cối giã, các loại nồi, chõ, niếng...) công cụ lưu giữ, bảo quản lương thực, thực phẩm (đồ sành, gốm, sứ như vò, âu, ang, vại, chum, xồm, kiệu...) sản phẩm của các ngành nghề, các làng nghề (sản phẩm đan lát, nghề đúc, nghề mộc, nề...). Phải có không gian, môi trường thực cho hiện vật phô diễn hết ngôn ngữ cùng giá trị của nó... Tóm lại phải làm một cách khoa học nghiêm túc cẩn trọng.
|
Bảo tàng Nông nghiệp Việt Nam xét về thể loại phải là bảo tàng tổng hợp: bảo tàng lịch sử nông nghiệp Việt Nam, bảo tàng văn hóa và bảo tàng nhân học. Cách làm này sẽ đem lại những hiệu ứng nhiều mặt... Thú thực với nhà báo, những thứ đang bầy kia chỉ là một sự gợi ý mà thôi. Một mình tôi không làm được. Một bộ, một ngành, một địa phương lớn như Thanh Hóa có lẽ cũng không xuể bởi chưa đủ điều kiện mà phải là một tầm cấp quốc gia!
|
Chưa hết! Văn hóa nông nghiệp Việt Nam là sự kết tinh những giá trị truyền thống nông nghiệp như sự hình thành, cơ cấu tổ chức tồn tại của làng xã, của văn hóa làng, in dấu trong các thiết chế văn hóa, trong văn hóa phi vật thể như các lễ hội truyền thống... BTNN Việt Nam ở giác độ này cần một cách thể hiện sinh động qua các tác phẩm viết về nông nghiệp, các cách trình diễn, sân khấu hóa, điện ảnh hóa, số hóa... trình chiếu trên phương tiện thông tin, phương tiện nghe nhìn. Các hiện vật phải được giới thiệu ở cả hai chiều: Chiều không gian và chiều thời gian của đời sống vật chất.
Nghe anh biện giải mà ù cả tai. Có lý và lọt tai đấy chứ? Mà như trong sâu thẳm ký ức mỗi người Việt, dường như đã có một bảo tàng nên lâu nay ta đã nhãng đi? Ấy là cái trật tuổi sồn sồn... Còn lớp trẻ bây giờ, ly nông lẫn ly hương? Nhớ bữa đưa đứa cháu ngoài về thăm quê, con bé gọi con bò con trâu bằng con ngựa? Ruộng lúa nó nói là ruộng cơm! Tầm cấp của việc tập hợp ký ức mà Hữu Ngôn vừa phác họa có lẽ không chỉ nhắm vào thế hệ trật tuổi cháu ngoại tôi?
Sự đam mê cùng những ấp ủ dự định của anh liệu có lạc bước? Cuối buổi gặp có một lúc tôi phải nhổm người lên để nghe cho rõ hơn. Số là ngày 24/5/2012, anh viết đơn đề nghị Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về việc xây dựng BTNN Việt Nam. Thì ngay ngày 31/5, Văn phòng Bộ có công văn trả lời “Bộ cảm ơn và ghi nhận sự quan tâm của ông để xem xét chỉ đạo trong phạm vi quản lý nhà nước Bộ được giao”. Ngày 8/6/2012, Bộ VHTT&DL cũng đã có công văn ghi nhận những đóng góp quý báu của ông Ngôn, đồng thời cho biết sẽ tích cực tham mưu với Bộ NN &PTNT về vấn đề này.
Gạn hỏi thêm năm 2013 có tín hiệu gì chưa? Anh cười lắc đầu...
Rời phố huyện Hoằng Hóa chập chờn nghĩ đến âm thanh rào rạo mỳ gói sống tạm qua bữa của anh cứ gai gai thế nào? Liệu lão có đơn côi trong hành trình tìm và tiếp cận với điều tử tế hoành tráng là một BTNN Việt Nam?
Cầu cơ chế cho dự định của anh cùng với thời gian đừng vô ngôn phải trở thành hữu ngôn?
Theo Xuân Ba ( TPO)
Tải mã QRCode
Món xôi ống tưởng chừng như đơn giản này lại chứa đựng trong nó tất cả tinh hoa miền núi.
Được Bộ VH-TT (nay là Bộ VH,TT&DL) công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia từ năm 1991, nhưng suốt nhiều năm qua, di tích Tuy Lý Vương nằm ở phường Đúc, TP Huế, bị nhiều hộ dân xâm hại một cách nghiêm trọng. Mặc dù các cơ quan chức năng tỉnh Thừa Thiên - Huế đã vào cuộc, tuy nhiên, do cách xử lý “nửa vời”, thiếu cương quyết nên đến nay, khu di tích này vẫn ở trong tình trạng “kêu cứu” từng ngày...
Ngược lên thượng nguồn sông Hương vào một ngày đầu năm 2014, chúng tôi đến thăm cụ ông Nguyễn Lô (82 tuổi), ở thôn Kim Ngọc, xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên - Huế, trong một căn chòi tạm bên cạnh lăng chúa Nguyễn Phúc Thái (Vị chúa thứ 5 của triều Nguyễn). Gần 40 năm qua, ông lão đã một thân một mình chống lại những kẻ đào trộm mộ để bảo vệ lăng chúa Nguyễn được vẹn toàn; đồng thời cũng khai hoang đất đồi phát triển kinh tế gia đình…
Kế Môn (Điền Môn, Phong Điền, TT- Huế) là quê hương của hàng ngàn người giàu có trên cả nước và thế giới. Bởi là quê quán của nhiều người giàu nên Kế Môn sở hữu lắm chuyện đặc biệt.
Năm 2010, tôi được về dự đêm thơ Quê Mẹ của nhà thơ Tố Hữu tổ chức tại TP Huế - quê mẹ của ông và có dịp được về thăm quê ông, một làng nhỏ bên dòng sông Bồ trong xanh. Thật thú vị vì đây cũng chính là quê hương của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Nguyên ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Chính ủy Quân giải phóng miền Nam.
Những ngôi nhà vườn, nhà rường cổ ở Huế không chỉ có giá trị về mặt di sản kiến trúc mà còn thể hiện một cách sống động và chân thực nhất về đời sống của người Huế xưa. Nhưng vì nhiều lý do: tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, người dân thiếu tiền trong việc trùng tu bảo tồn …mà giờ đây, những ngôi nhà cổ nguyên bản đặc trưng xứ Huế đang mai một dần.
Ðồng chí Nguyễn Chí Thanh sinh ngày 1-1-1914, tên thật là Nguyễn Vịnh, là một nhà lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, Quân đội kiệt xuất; nhà chính trị, quân sự mưu lược, tài trí, dũng cảm, kiên quyết; một người con ưu tú của quê hương Thừa Thiên - Huế. Ðồng chí đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Ðảng, của dân tộc.
Từ một địa phương không có bệnh viện tuyến tỉnh, mọi hoạt động trong lĩnh vực y tế chuyên sâu chủ yếu dựa vào Bệnh viện Trung ương Huế là chính nên thường xuyên gây ra vấn đề quá tải. Để khắc phục tình trạng trên, thời gian qua, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tập trung nhiều nguồn lực để xây mới 03 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh. Đến nay, sau thời gian ngắn đi vào hoạt động, các bệnh viện này đã làm rất tốt công tác khám chữa bệnh, thu hút ngày càng nhiều bệnh nhân đến khám và điều trị.
Múa bao giờ cũng gắn kết với âm nhạc (nhạc đàn và nhạc hát), vì thế, người ta thường gọi tên là “Múa hát cung đình”. Múa hát cung đình của vua chúa Việt Nam không giống như hình thức vũ hội phương Tây. Nó chủ yếu phục vụ cho vua chúa, lễ lạc trong triều đình, mang hình thức lễ nghi phong kiến vương triều.
Hội đồng chung khảo Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô lần thứ V đã lựa chọn được 40 tác phẩm, công trình (trong tổng số 45 tác phẩm, công trình do Hội đồng sơ khảo giới thiệu vào xét vòng chung khảo) đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh trao giải thưởng A, B, C.
Bác sĩ Trương Thìn sinh năm 1940 tại Thừa Thiên Huế . Từ năm 1961 ông là sinh viên Trường đại học Y khoa Sài Gòn .Ông học giỏi, nhiệt tình tham gia phong trào học sinh, sinh viên yêu nước, là trưởng đoàn văn nghệ sinh viên học sinh Sài Gòn trong phong trào đấu tranh “Hát cho dân tôi nghe” những năm trước giải phóng.
Với người Tà Ôi ở miền rẻo cao A Lưới (tỉnh Thừa Thiên - Huế), từ xa xưa, những chuỗi mã não là biểu tượng của quyền lực, sự giàu có, sang trọng và có địa vị trong cộng đồng.
Chứa đựng trong mình cả một giai đoạn lịch sử thông qua các di tích, nét trầm mặc cổ kính, điệu hát cung đình Huế âm trầm cùng với sông Hương, núi Ngự… Huế vẫn sừng sững nghiêng mình tồn tại với thời gian qua sự thăng trầm của lịch sử, với thời gian và sự chống trọ trong chiến tranh.
Thời thượng, đâu cũng piano, ghi ta thì có một người vẫn ngày đêm lưu giữ và phục chế hàng ngàn cây đàn cổ quý báu của tổ tiên để lại.
Khi chọn Huế làm đất đóng đô, các vua chúa nhà Nguyễn đã quên mất một yếu tố quan trọng và cơ bản của phong thủy.
Tác phẩm “văn sử bất phân” Xứ Đàng Trong - Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17 - 18 (Nguyễn Nghị dịch, NXB Trẻ tái bản lần thứ nhất, quý 3/2013) của Li Tana, đã được trao giải Sách hay 2013..
Ngày 1-1-2014, chúng ta kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Ðại tướng Nguyễn Chí Thanh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Ðảng, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Bí thư T.Ư Cục miền Nam kiêm Chính ủy Quân giải phóng miền Nam - Người con ưu tú của đất nước và quê hương Thừa Thiên - Huế, nhà lãnh đạo kiệt xuất, kiên trung, mẫu mực của Ðảng; vị tướng đức tài trọn vẹn, trí dũng song toàn của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.
Bên tả ngạn của sông Hương, cách thành phố Huế chừng 15 km về hướng tây, có một ngọn đồi người ta quen gọi là “Đồi thiên thần”, nơi nương náu của gần 50.000 thai nhi bị phá bỏ.
Vào một buổi chiều, tình cờ đi quanh làng Dã Lê Thượng, phường Thủy Phương, tôi thấy chú Dương Văn Thọ (56 tuổi) ở tổ 01 (phường Thủy Phương, thị xã Hương Thủy) đang quét dầu cho chiếc ghe mới đan của mình. Trong trí nhớ của mình và những gì mình biết, tôi chợt nhận thấy bóng dáng của một cái nghề mà ngày xưa người làng mình đã làm: nghề làm, đan ghe thuyền.