Đường xưa lối cũ

09:31 12/01/2017

VÕ CÔNG LIÊM
     Tặng: Mai Ninh

Buổi mãn khóa ra trường ở Đại học Văn Khoa vào một sáng trời trong, gió từ sông thổi lên, len vào những mái tóc thề lả lướt, ướt mượt trông gợi cảm.

"Hôn" - Tranh Võ Công Liêm

Đêm liên hoan mừng tốt nghiệp, trai gái đan vào nhau xếp lên từng hàng như đợt sóng. Họ lộ nét hớn hở, vui tươi và cảm thấy hạnh phúc yêu đời, một cuộc đời đầy hứa hẹn. Tiếng cười, nói xôn xao át cả tiếng loa. Trang Thư ngồi cạnh Đức, lần này Đức nắm chặt tay nàng khác hơn mọi khi. Cả hai không còn nhớ là họ nắm tay nhau giữa lúc nào và ở nơi nào nhưng lần này họ cảm thấy rung động và nôn nao như thể báo cho nhau điềm lạ sắp đến. Trang Thư nghiêng đầu và mỉm cười âu yếm bên người yêu. Đức nhận được điều đó ở chính mình và qua đôi mắt đằm thắm, dịu dàng ở Trang Thư. Bao lần hò hẹn là cả ước mơ. Cuộc tình trôi theo thời gian một cách nhẹ nhàng và chẳng có một biến cố nào xẩy ra. Cả hai yêu nhau đậm đà và đầy hứa hẹn. Hôm hẹn nhau ở Ngự Bình là một dâng hiến cho tình yêu vào một buổi chiều mùa đông đầy mây xám, mờ cả lối đi về...

Rồi cuộc chiến bùng nổ, xẩy ra khắp nơi và ở nội thành. Phố xá khép cửa và nằm ngủ trong nỗi lo. Con sông đi ngang thành phố tuồng như tắt thở chờ vận nước. Không còn nghe tiếng ồn ào của xe cộ. Số phận con người giờ ở đầu ngọn súng, đâm ra nghi ngờ, mặc cả cuộc đời. Người ta hoang mang cho một cuộc chiến triền miên và dai dẳng khủng khiếp. Sau đó, dân tình trở nên bi quan cho phận số, kẻ còn người mất không biết rồi đây sẽ ra sao và ra sao. Tình cảm của con người cũng chi phối đôi phần và ảnh hưởng đến cả vật chất; bởi khi thiệt thòi một điều gì thì tình cũng thiệt thòi theo. Trang Thư mất liên lạc với Đức từ ngày vỡ mặt trận và không biết nay chàng ở đâu, sống chết ra sao, không một lý do. Mỗi người mỗi phương trời cách biệt. Họ rơi vào tuyệt vọng và không còn thấy nhau, chia xa nghìn trùng hay là cuộc đời đã dẫn độ họ vào ngõ cụt. Giờ đây chỉ còn tiếng vọng của nỗi nhớ.

Hai năm sau gia đình Trang Thư chuyển vào Nam. Nhờ đổi đời, gia đình nàng tạo dựng cơ nghiệp. Trang Thư có việc làm sau đó. Đất mới, người mới là tạo điều kiện thích nghi cho những ai vừa từ đáy vực trồi lên để đi vào tân thế giới mang lại sinh khí lạ hơn. Trang Thư lần hồi quên đi những quá khứ hồng và bắt đầu nhập cuộc ở một thị trường lắm thứ bon chen, xảo trá. Thế nhưng, đôi khi nàng quay về hoài niệm cũ của mối tình đầu. Những lần gợi nhớ là những lần mong được trở về nơi con đường xưa mà nàng đã đi lại lắm lần, có lẽ; gợi nhớ của một chiều đông năm nào ở quê cũ. Trang Thư nhìn vào gương trang điểm mỉm cười rồi lặng cười đứng dậy. Nhìn lại mình đã tới độ hai mươi tám. Về làm dâu nhà họ Đái được hai năm thì có một mụn con. Nhờ vậy mà nàng cảm thấy hạnh phúc, yêu đời. Bên đời nàng có Đái Đức Thúy là người chồng tốt và bình yên. Ra khỏi buồng ngủ; Trang Thư thở nhẹ nhõm. Căn nhà thu mình trong cô độc và nàng cảm thấy vắng đi một cái gì xung quanh mình.

Trang Thi sống ở đô thị và đuổi theo đời sống mới, học văn minh Âu Mỹ, tiếp giao đủ mọi thành phần trong xã hội. Ra trường; nàng là nhân viên tiếp thị thị trường. Trang Thi thường được mời dự những dạ tiệc có tính cách trao đổi thị trường xuất, nhập khẩu. Trong lần dự tiệc ở đại sảnh Hoàng Gia, nàng vụng tay đánh rơi ly rượu đỏ vào người thanh niên điển trai và lịch sự đứng cạnh nàng. - Ông không sao? Trang Thi nói. - Không! Không sao. Chàng thanh niên nói. Họ đã chạm vào nhau trong tình cờ đó. Cả hai có một cảm nhận lạ lùng, tợ hồ như đã quen nhau. Họ chào nhau bằng mắt rồi mỗi người mỗi góc. Hình ảnh người thanh niên vướng víu trong hồn nàng. Nàng đã tiếp xúc nhiều giới đàn ông trong bình thường nhưng họ nhìn Trang Thi là một ước ao chiếm đoạt. Nhưng, chưa một lần phục lụy ai. - Thế mà chàng này lại có một hấp lực và lôi cuốn lạ thường. Trang Thi tự nhủ. Người đàn ông trẻ tuổi lấy khăn lau những vết rượu loang trên áo, ngoảnh cổ nhìn người thiếu nữ trong bộ nhung phục màu hoa cúc cánh mối, màu tím hồng và trắng như một thỉnh cầu. Màu sắc và vóc dáng lôi cuốn chàng. Một ấn tượng lạ lùng, ghi sâu vào mỗi người như lời nhắn gởi. Họ nhận ra nhau với nụ cười đồng lõa rồi biến mất.

Không bao lâu, tình cờ họ gặp nhau ở cửa hàng ăn uống. Một bàn, một ghế. Và, một bàn, một ghế. Trong tư thế đó đưa họ đến gần hơn với những cảm thông mà tình yêu chờ đợi bấy lâu nay. Từ đó, giữa họ không còn ngại nghi, những lần gặp gở là những lần để lại dấu yêu. Họ thực sự rơi vào tình yêu.

Trần Trí, phó giám đốc công ty hải sản Miền Nam lên xe trực chỉ hướng về miền Trung để giỗ cha sau mấy năm vắng bóng, nơi sanh ra và lớn lên của Trí. Nơi đây người mẹ đã tần tảo nuôi Trí ăn học. Thành nhân thì mẹ qua đời. Trí nhận công tác xa cố hương là để quên đi những đau đớn mà gia cảnh Trí vấp phải, quên tất cả những gì chớm nở rồi vụt tắt. Trí tự tin ở chính mình như lời cha mẹ dạy thuở lên năm, lên bảy và từ đó Trí phấn đấu để đi vào đời bằng đôi tay, đôi chân trần trụi. Với Trí tình yêu trên tất cả. Về quê là lên nguồn đời mình. Trí đã tìm thấy những kỷ vật của cha trong hòm rương đầy bụi bám. Trong số kỷ vật để lại chỉ có tấm hình cha Trí chụp với người yêu hồi còn là sinh viên ở đại học. - Người tình của cha sao giống người tình của mình, như hai giọt nước. Nụ cười đó, vóc dáng đó và mái tóc lả lơi đó, sao có sự tương hợp lạ kỳ đến thế. Trần Trí ngẫm trong đầu. Nhớ lại, trong tai nạn lật xe, cha đã ôm Trí vào lòng và chết tức tưởi khi đầu cha đập vào tảng đá lớn. Theo lời kể: -Người không chịu buông tay để lấy tôi ra khỏi vòng tay siết đó. Hình như ông không muốn rời tôi. Giữa đêm tối trời người ta thấy vì sao xẹt ngang qua thi thể của ông. Trí nhớ lại. Trong số kỷ vật có một thư chưa gởi cho người mang tên T.T. Chữ viết đã xóa mờ, chữ mất chữ còn khó đọc. Trí cầm trong tay tấm hình cha chụp với người yêu Trí cảm thấy sung sướng và hình dung cuộc tình của cha mình thơ mộng và lãng mạn. So ra tình xưa của cha và tình của Trí hôm nay như có một sự gần kề. Tâm tư Trí chao động. Thật lạ lùng và khó tin.

Mùa hè ở miền Nam có sắc màu khác hơn ở chốn khác. Một thứ không khí lôi cuốn, hấp dẫn, một cái gì vừa úp mở vừa huỵch toẹt. Bản chất hay thói đời? Nhưng, Trang Thi và Trần Trí vẫn tồn tại đặc chất truyền thống cố hữu của lễ nghi trong tâm hồn họ. Lạ một điều bọn họ là những kẻ đồng hương xa xứ tợ như sếu đi kiếm ăn giữa đồng không mông quạnh. Con sếu có hồn cho nên Trang Thi mới có cái duyên kỳ ngộ này. Trần Trí như kẻ tái sinh từ cõi chết trở về trong hiện thực cuộc đời. Thế nhưng, cả hai chẳng tin vào điều này. Họ lấy tình chân làm kim chỉ nam vào đời. Vật chất có thể tìm ra được nhưng tình yêu thực sự khó tìm ra được. Đó là nghĩa vụ đối với cha mẹ nàng. Trang Thi không thể để mất người mẹ giống mình và mình giống mẹ. Đem tâm sự kể cho nhau nghe vừa bày tỏ, vừa dò xét. Họ đi bên nhau, đếm bước trên vỉa hè dưới những cao ốc vút cao, những ngọn đèn cúi đầu làm nhân chứng tình yêu. Trang Thi kê đầu vào vai Trí. Mỉm cười hài lòng. Trí đón nhận và mãn nguyện tình yêu đem đến. Tay cầm tay đi vào đêm; chỉ còn lại con đường trước mắt, hàng cây cơm nguội hai bên đường đang ngủ, những ngọn đèn chong mắt chờ sáng. Họ trao nhau nụ hôn say đắm. Hương của hoa từ đâu thổi tới, đêm đầy sao trên trời. Họ thật sự hạnh phúc hơn bao giờ. - Cuối tuần đưa anh về thăm gia đình em. Trang Thi nói. - Hiện diện của anh làm cho ba mẹ em không hài lòng? Chàng nói. - Em đã nói hết.

Hay tin con gái đến thăm. Đôi vợ chồng già mong đợi và sắp xếp một bữa ăn gia đình. Tiếng còi xe ở ngoài sân vọng vào. Ba mẹ Trang Thi đứng ở cửa đợi con. Họ mừng thấy con về trong tinh thần phấn khởi. Cây cối tươi vui, người tươi vui. - Thưa ba mẹ đây là bạn trai của con. Tụi con quen nhau đã lâu nay có dịp về thăm và giới thiệu ba mẹ. Tất cả đón chào trong niềm hân hoan. Phút chốc thấy sắc mặt mẹ nhợt nhạt, choáng váng. - Mẹ có bề gì? Trang Thi nói. - Không sao, mẹ bình thường. Bà mẹ nói. Cả nhà ngồi vào bàn, những món ăn bốc hơi thơm ngon. Trí ăn ngon miệng. Không thấy bà mẹ ăn chỉ ngồi nhìn Trí. Mắt bà sụp xuống trầm tư. Thúy tỏ ra nghi ngại, dục bà ăn, e sợ rằng món ăn không mấy ngon miệng. - Tôi nghĩ món bò xào hành là hợp khẩu tôi. Cha nàng nói. Ông tiếp tục pha trò, cả bàn ăn cười thích thú. - Cháu tên là Trí, vậy họ gì và sanh quán nơi đâu? - Cháu tên Trần Trí. Cha mẹ cháu gốc Huế. Sinh cháu ở Quảng Trị. Cả hai đã qua đời. Mẹ nàng tỏ ra bàng hoàng nhưng chưa rõ ngọn nguồn. - Tôi thấy cháu giống người tôi yêu cách đây gần bốn mươi năm. Người đó tên là Đức trước học cùng lớp với tôi. - Vâng, cha cháu tên Trần Đức, học ở Huế, có để lại nhiều kỷ vật. Trí nói. Tiếng cửa lớn đánh rầm, gió tuôn vào chao đi một số đồ trong nhà. Bà chủ nhà cảm thấy lạnh, đứng dậy đi vào buồng trong. Vì cơn gió thổi mà làm cho bữa ăn tẻ nhạt hay tại cái bàng hoàng, nhợt nhạt của bà mẹ già? Họ dọn bàn và ngồi uống trà. Đái Đức Thúy đứng dậy vào buồng cùng vợ. Ngoài bàn ăn Trí đã đưa tấm hình của cha cho Trang Thi xem. Nàng vô tư cười một cách hồn nhiên. - Người giống người là chuyện thường có chi lạ đâu. Nàng nói. - Nhưng người tình của ba anh giống em từ mọi chi tiết. Xem lại đi. Trí nói.

Đêm ở ngoại thành trông hiền lành và êm đềm. Chẳng một ai để tâm tới chuyện gió mưa. Mọi ngày như mọi ngày, chào nhau như đã biết nhau, thế thôi. Mẹ nàng đưa Trí đi thăm vườn nhà. Mộc mạc, đơn sơ nhưng tình tự. Trí luồng người xem chuồng nuôi gà, heo. Vô tình gai nhọn xé toạt vai áo. Bà hốt hoảng đưa tay xem có trầy da người bạn trai con gái mình. Bà chợt nhận ra trên vai trái của Trí có nốt ruồi ‘son’ to lớn. Bà khựng người nhận ra Trí giống người tình xưa, cũng hình hài đó, tiếng cười nói đó của một chiều đông cách mấy mươi năm ở Ngự Bình… có nốt ruồi son đó đậu trên vai trái của Đức. Sao có sự giống nhau đến thế hay tại mơ về mối tình đầu? Không! Sự thật đã cho thấy dấu vết của chốn cũ và giờ đây con mình đi lại trên con đường xưa đó. - Ôi nhân thế! Sao cuộc đời lại có những cái bên trong của cuộc đời kỳ bí mà ít ai biết tới. Đứng lặng trong đêm tối bà lẩm bẩm: - Đức ơi, đường tình đã dứt chưa hay là nhân quả của duyên nghiệp? Bà Trang Thư lặng lẽ đi vào nhà dưới bóng đổ dài trên nền đất.

Năm sau, Trần Trí thành hôn với Trang Thi. Đứng bên cạnh có cha mẹ nàng với một số người thân và đồng nghiệp của hai họ tươi cười chụp hình lưu niệm. May thay, lúc đó trời chưa mưa, mây đục đậu đợi trận mưa rào kéo tới của mùa mưa miền nhiệt đới. Mùa tưới mát cho những hàng cây chờ nước đứng hai bên đường của một thành phố rộn ràng, ồn ào xe pháo. Mọi thứ gần như đứng lại trong giây lát.

V.C.L  
(SHSDB23/12-2016)


 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.

  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.