PHẠM GIAI QUỲNH
Họ tập hợp ở cảng Cá Mập của thị trấn S. Thị trấn này nằm bên Địa Trung Hải, nhỏ và hầu như không mấy xuất hiện trong tầm mắt của các du khách có mong muốn thám hiểm hoặc vãn cảnh. Bởi ở đây không có gì ngoài cá và muối.
Minh họa: Nguyễn Thiện Đức
Mùi tanh giống như hương nước hoa đặc trưng của S, nếu bạn đã ngửi thấy một lần thì sẽ chẳng thể quên và món cá sẽ chẳng bao giờ xuất hiện lại trong thực đơn món ăn nhà bạn một lần nữa. Thêm vào đó, nắng ở đây rất gay gắt, thảng hoặc chỉ có đêm là các cơn gió mát thổi từ biển vào mới khiến cho các mỏm đá quanh thị trấn dịu lại đôi chút. Đây là nơi dành cho những thương nhân, những người đánh bắt, những người phải gắn liền cả cuộc đời mình với biển khơi. Họ đến và đi, giống như con thuyền đang giương buồm trở về sau khi thả những vị tân khách kia vậy.
Gã quen một người ở S. Anh ta tên là Adop, mới lấy vợ năm ngoái, cả hai vợ chồng đều từng là những ngư dân rất cừ. Nhóm của gã có cả thảy ba người: Gã, mi và Adop. Adop đã quyết định sẽ dừng công việc đánh bắt một thời gian để kinh doanh quán cà phê nên hiện tại đang rảnh rỗi. Đây sẽ là quán cà phê đầu tiên được mở ở cảng Cá Mập, Adop nói với ánh mắt lấp lánh. Dời hành lí vào nhà, điều đầu tiên mà mi ngửi được là mùi bánh mì nướng thơm lừng.
Gã - Một kẻ vô gia cư đúng nghĩa gặp được mi khi đang đi dạo trên đường sau khi bản thảo bị từ chối. Gã - Một nhạc sĩ thất bại không đưa được những bài ca của mình tới tay các ca sĩ nổi tiếng, đành ôm đàn du ca khắp nơi, gặp được mi cũng là kẻ đang mong tìm cách trốn tránh hiện thực. Chính xác hơn, mi bảo, là tránh khỏi nơi đây vì từng hàng cây góc phố đều khắc tạc sự bất lực trong sâu thẳm mi.
“Tìm tháp Babel thôi”, mi nói.
Nơi đâu là tháp Babel? Tháp thánh đã biến mất trong lịch sử ấy nằm trong tấm bản đồ cổ mà mi có, nó xuất phát từ một cuốn sách bị quên lãng nơi thư viện. Mi chẳng rõ thực hư, nói với gã điều đó, gã nói rằng nếu tin nó là thực thì nó là thực, còn không tin, thì cho dù tòa tháp có đứng ngay trước mắt mi thì cái mi thấy cũng chỉ là ảo ảnh mà thôi. Mi cười nói rằng cả gã và mi đều không thích hợp với cơ chế này, toàn những kẻ salon văn chương. Gã bật cười, mi cũng bật cười, cả hai sắp xếp hành lí lên đường.
Mi và gã đã băng qua nhiều nơi, từ Việt Nam, xuyên qua Lào và Thái Lan, sau đó vòng ngược lên Tây Tạng để chiêm ngưỡng các đụn cát trắng, không quên nhờ dân bản địa của Hi Mã Lạp Sơn dẫn đi tham quan ngọn núi một lượt, sau đó vượt biển sang đây. Gã đánh đàn hầu như trong suốt chuyến đi, hát những bài hát với ca từ đẹp song dị thường. Gã hát về thảo nguyên bao la, về những cánh chim đại bàng, về những con mèo bị bỏ rơi. Mi nói, gã sinh ra để trở thành một thiên tài.
Vợ Adop rót cho họ ba cốc cà phê lớn, còn mình thì nhấm nháp trà đen trong bếp. Phụ nữ ở đây hiếm khi lộ diện khi gia đình có khách, về mặt nào đó họ khá truyền thống. Mi trải tấm bản đồ ra, chỉ vào các ký hiệu trên đó:
- Đây là mỏm Âm Vọng, còn đây là hang đá dẫn tới chân tháp.
Adop gật đầu:
- Tôi biết mỏm đá này, nó nằm cách thị trấn không xa lắm, tuy nhiên đường leo lên rất nguy hiểm. Ngay cả ngư dân muốn tới nghỉ chân cũng phải đi đường riêng.
- Cậu chỉ cần chỉ đường cho chúng tôi thôi - Mi cười.
Con mèo đen leo lên lòng gã, chẳng mấy chốc đã thiếp ngủ. Gã cũng không dám đứng lên, chỉ yên lặng uống cà phê và nghe Adop chỉ dẫn, nói tới những thứ cần chuẩn bị và những rủi ro có thể ập đến. Họ quyết định rất nhanh, thuyền thì có sẵn rồi nên ngay chiều nay sẽ khởi hành. Trong thời gian đó, Adop dẫn hai người bạn phương xa đi dạo quanh cảng, còn vợ y thì nướng sẵn bánh mì làm lương thực dọc đường.
Biển xanh thẳm, đó là điều mà mi nghĩ đến khi ngồi trên thuyền, mi không thể nghĩ ra được từ nào khá hơn từ đó cả. Đứng trước thiên nhiên, ngôn từ dù có đẹp đến đâu cũng chỉ là cái xác không hồn, mi bảo. Gã khỏa tay vớt những giọt nước mặn, nước trong lạnh, thảng hoặc có vùng ấm áp hơn. Sóng biển lăn tăn êm ả, chỉ khẽ gợn khi có gió. Đừng để bị lừa, Adop nói, nó có thể dậy sóng bất kỳ lúc nào và nhấn chìm chúng ta. Gã nằm xuống lòng thuyền, gác tay dưới đầu, trên cao là bầu trời vòi vọi.
Chỉ có ở đây, gã nói, chỉ có ở đây người ta mới có thể thoát khỏi mọi nỗi phiền hà từ thế giới bên ngoài.
Gã đã sống một cuộc đời phiền toái khi luôn luôn bị người khác nhòm ngó vào đời tư của mình. Gã từng làm công chức trong một sở văn hóa nhỏ tại thị trấn quê nhà, công việc tu thư với ngồn ngộn giấy tờ đã tặng cho gã một gương mặt mờ nhạt, gã cười với những người đến tìm tư liệu, gã cười với những người đến phàn nàn vì tư liệu, gã cười với cấp trên từ thành phố xuống vô tình ghé vào cái bảo tàng ấy dù rằng họ rất xa với gã và có lẽ cuộc đời của họ lẫn cuộc đời của gã chẳng hề giao cắt với nhau. Dần dà trên gương mặt gã lúc nào cũng đông cứng nụ cười đó, dù đã nghỉ việc nhưng vẫn chưa thể sửa chữa được. Nước mắt, gã đã gửi vào những bài ca, thôi thì gã cứ cười vậy.
Thời gian chảy trôi, hoàng hôn đỏ thẫm đậu lại trên mặt biển, pha lẫn với sắc xanh, nhấn chìm các dãy núi đá phía trước. Thuyền dần đi vào vịnh Cá Mập, các cột đá nhô lên đôi bên tưởng như có thể chạm tới trời cao.
Màn đêm buông, cơn bão ập đến, tất thảy chỉ trong tích tắc nhưng may mắn thay, Adop đã cho thuyền vào bờ kịp thời. Mi vừa nhìn sóng dữ vỗ đập không ngừng, vừa ngăn gã bước ra chiêm ngưỡng quang cảnh hiếm gặp ấy. Chiếc thuyền bị đánh dạt ra xa, nhưng họ chẳng còn tâm trí mà quan tâm tới điều ấy nữa.
- Xuống khỏi mây đi mấy ông ơi - Adop giễu, rồi bật chiếc đèn bão mang theo, đi sâu vào trong hang đá ven bờ.
Cửa hang rất thấp nên họ phải cúi đầu xuống, hơi ẩm ngập trong lồng ngực. Gã xoa xoa tay cho bớt lạnh, còn mi để ý đến những ký hiệu được khắc trên vách. Đó là hình vẽ về các cuộc săn bắn, về thảo nguyên bao la, về những con hổ răng kiếm và voi ma mút. Nơi đây đã từng là bình địa.
- Thương hải tang điền - Mi nói, bật cười - Còn chúng ta chỉ là cái móng tay.
Ra đến cửa hang phía bên kia, bóng đêm đã ngập trong đáy mắt họ. Thấp thoáng chỉ có mấy ánh điện đến từ bờ biển, song rất mờ nhạt. Adop nhổ một bãi nước bọt vào tay, xoa xoa:
- Leo lên thôi.
Gã và mi ngẩng đầu, dưới ánh đèn mờ, những cạnh đá sắc nhọn dường ánh lên sẵn sàng lấy mạng người ta. Gã lau mồ hôi lạnh, xốc lại ba lô trên vai, bấu vào gờ đá và theo chân Adop. Đá sắc bén cứa tay mi tứa máu, đá sắc bén đâm vào bọng chân gã, máu rỏ xuống đá, sóng biển đập vào cuốn các giọt máu lăn tròn ra khơi. Gió lồng lộng bên tai, sóng gầm bên dưới mang theo các xoáy nước hun hút và đá ngầm. Mi cắn răng leo, máu trơn như mỡ. Chẳng rõ bao lâu đã trôi qua, tiếng sóng mất hút vào khoảng không, chỉ còn tiếng thở dốc và tiếng các mẩu đá gãy vụn. Adop đã lên đến nơi, y đưa tay kéo họ lên. Mi chỉ thấy toàn thân tê rần.
Bão tan nhanh như khi đến. Trăng rực nơi đỉnh đầu, rọi trên biển đêm lấp lánh. Xa xa, một chiếc đuôi cá voi khổng lồ quẫy mạnh, tưởng như đã đập vỡ ánh nguyệt tròn. Mi thở phào nhẹ nhõm, nhoài người nằm xuống. Ngư dân cũng thường tới đây song họ đi bằng con đường khác, con đường mà cơn bão đã chặn đứng. Adop tìm đống củi cất trong hốc động con đã lâu, bắt đầu nhóm lửa nấu súp cá.
Babel của gã là một tòa tháp tráng lệ, hoàn mỹ, nơi ấy chỉ có những người lương thiện, họ sẽ sống một cuộc đời bình dị, tập trung thưởng thức vẻ đẹp nhân sinh. Mi bảo gã là kẻ hão huyền, Babel của mi là tòa tháp được kết bởi muôn vàn cuốn sách, mi luôn tin rằng các bản thảo thất lạc đều sẽ tập trung về đó. Nghe cả hai người nói xong, Adop bật cười, rằng anh không quan tâm hình dáng của Babel như thế nào, anh chỉ đi tìm nó mà thôi.
- Tôi đã sống ở cảng Cá Mập suốt ba mươi năm, tôi không thể rời khỏi đây, hễ mỗi lần muốn đi sang một nơi nào đó khác ngoài phạm vi này là lại có điều gì đó cản trở. Lúc thì bị bão dập, lúc thì nhà có sự vụ, lúc thì bận bịu với gia đình vợ con.
- Nếu thực sự có Babel, anh có muốn đến đó không? - Mi hỏi.
Adop lắc đầu:
- Tôi không giống như các cậu, tôi là người bình thường, một kẻ phàm phu đã có vợ và chuẩn bị đón đứa con đầu lòng. Tôi giờ này đã không thể cựa nổi nữa rồi.
Gã vỗ vỗ vai Adop, đưa cho anh chai rượu con trong người. Adop uống một ngụm, nhăn mặt vì rượu nặng, rồi im lặng ngắm biển. Ngọn hải đăng để lại một chấm sáng nơi xa, thảng hoặc xuất hiện vài chiếc thuyền đánh cá đi ngang qua tầm mắt.
Gã ném thêm một khúc củi vào đống lửa, đồng thời cời mấy cái bánh nướng mà vợ Adop đã chuẩn bị ra, trên bếp, món súp cá biển đang sôi lục bục, hương thơm của gia vị tỏa ra quện với hương của những cơn sóng rạt rào bên dưới. Mi múc súp rưới vào vỏ bánh dày cộp và bắt đầu ngấu nghiến, các ngón chân dần sưng tấy. Còn vết thương của gã cũng rớm máu dù đã được băng bó lại. Không khí lạnh dần, hơi nước luồn vào phổi sau mỗi nhịp thở.
Gã giở bản đồ ra xem lại, bên trong nói rằng chỉ có thể tìm được cánh cổng vào ba giờ sáng, hiện đã là hai giờ bốn lăm phút, còn đủ thời gian để tìm vị trí của nó. Gã lật đật đứng lên, tìm quanh quất. Một con rắn nhỏ đang cuộn mình trong hốc đá vội lẩn đi khi nghe tiếng chân người. Mi đã ngà ngà giấc, còn Adop vẫn đưa mắt nhìn về khơi xa. Adop chưa từng rời khỏi đây, dù là sang thị trấn khác, cuối cùng cuộc đời lênh đênh vô định cũng neo lại với quán cà phê ấy. Nếu là tôi thì tôi sẽ phát điên mất, gã từng nói, tôi không thể tưởng tượng ra cảnh mình bị trói ở một nơi nào đó. Lúc ấy, Adop chỉ lặng im nở một nụ cười.
Đồng hồ nhích dần, đã hai giờ năm mươi sáu phút, gã tìm thấy một viên đá đánh dấu X, bèn vội vàng nhích nhẹ nó. Đây chắc là một cơ quan đã được ai đó thiết kế, chỉ cần đúng vị trí và thời điểm, nó sẽ xoay một vòng và tách cánh cổng bằng đá ra. Tiếng rầm rầm vang lên đánh thức mi và kéo Adop trở lại với hiện thực. Ở đây, ngay lúc này, họ đang đi tìm tháp Babel, một trong các đại kỳ quan vốn chỉ xuất hiện trong truyền thuyết. Mọi dấu hiệu đang chỉ ra rằng truyền thuyết có thực, ai nấy đều cảm thấy phấn khích, mồ hôi tứa ra trên trán họ. Chỉ còn lại âm thanh tích tắc của chiếc đồng hồ đeo tay.
Ba giờ sáng. Mây tản, vầng nguyệt rạng.
Quầng sáng chói mắt vụt tỏa ra từ cánh cổng mới phân tách chia thành ba sắc vàng, lam, tím, ba người nhanh chóng tránh ra xa. Sau đó quầng sáng thu lại biến thành một tấm màng mỏng chắn ở trước cánh cổng. Gã, mi và Adop đều thất kinh vì cảnh tượng kỳ dị ấy. Xa xa có tiếng còi tàu vọng lại, mùi cá tanh phảng phất trong không khí khiến cho lông mày Adop nhíu chặt lại. Anh sải chân bước về phía trước với tốc độ nhanh đến mức gã và mi hầu như chẳng thể hiểu chuyện gì đang diễn ra. Mắt thấy Adop đang đi xuyên qua tấm màng ánh sáng, họ vội đuổi theo.
Gã chỉ cảm thấy có một lực hút hút mình vào bên trong, dường như đã rất lâu trôi qua, song gã cũng mơ hồ cho rằng thời gian đã dừng lại tại thời điểm đó.
Mi mở mắt, bỗng thấy căn phòng tập thể mà mình thuê, vẫn chiếc máy tính cũ, vẫn những cuốn sách chồng chất và vẫn con mèo mun đang nằm sưởi nắng. Mi nhìn xung quanh, không thấy Adop và gã đâu, có lẽ mi đang mơ chăng? Một giấc mơ dài đủ để biến giả thành thật? Con mèo mun ngái ngủ, trườn xuống, dụi dụi vào chân mi. Đành vậy thôi, mi thở dài, dù là mơ hay thực thì cũng vẫn phải làm công việc của mình. Mi nghĩ và ngồi vào bàn viết, trên màn hình máy tính đang hiện lên lá thư điện tử của nhà xuất bản, rằng họ muốn hợp tác in cuốn tiểu thuyết mới của mi. Năm trên thư là 2017, năm mi ra mắt tập sách đầu tay...
Gã mở mắt vì âm thanh du dương phát ra từ không gian nào đó. Phòng hòa nhạc rộng lớn với hàng trăm con người đang ở ngay đây làm gã giật mình. Gã cấu bản thân thật mạnh, vẫn cảm thấy đau, vậy đây là thực chăng? Gã đang ngây ngẩn thì bị một bàn tay kéo đi, đó là cô gái thổi flute trong dàn nhạc. Nàng mới mười chín tuổi, đẹp như đóa nhài ban sớm, lúc nào cũng mỉm cười ngọt ngào. Gã từng mơ tưởng đến nàng, song bản thân là người thực tế, gã đã sớm bóp chết giấc mộng đó rồi. Bị đặt trên sân khấu, nơi mà nhạc trưởng đứng, gã như cái máy làm các động tác mà mình quen thuộc. Và, âm nhạc lại vang lên, âm nhạc của gã, các nốt thanh của gã viết ra, hòa vào đó là tiếng nhạc cụ mà nàng dùng. Đã lâu rồi, gã không còn cảm thấy hạnh phúc như thế nữa.
Nước từ đâu tràn vào mũi và miệng Adop - mặn chát. Anh vội vàng quẫy chân theo bản năng để ngoi lên. Mặt trời bỏng gắt xói thẳng, Adop ngơ ngác nhìn quang cảnh xung quanh. Là biển. Tiếng cười giòn vang bên tai, anh ngoảnh lại, thấy vợ mình đang ngồi trên chiếc ca nô cũ đưa tay cho mình. Anh vô thức nắm lấy cô rồi leo lên. Bầu trời này, nhan sắc còn tươi trẻ này, ánh dương này - Đây là thời điểm mà Adop gặp vợ mình lần đầu.
Gã, mi và Adop cảm thấy đầu đau như búa bổ, chân tay bị đè nặng xuống. Hơi ẩm lạnh lại xông vào lồng ngực đánh thức mi dậy. Hóa ra chỉ là ảo cảnh mà thôi. Xung quanh tối om không tìm thấy ánh sáng, mi lần mò tìm theo hơi thở kéo gã dậy.
- Chúng ta đang ở đâu đây?
- Tôi không biết.
- Adop đâu?
- Chắc cậu ta ở quanh đây.
Tìm được gã, mi cảm thấy an tâm hơn. Nhưng giờ đây họ lại không dám động đậy, nhỡ bên dưới là vực sâu, là biển thẳm thì sao đây? Trong bóng tối, nếu sảy chân là tan xương nát thịt. Gã tựa lưng vào mi, mi tựa lưng vào gã, chỉ có như vậy mới có thể an tâm.
- Cậu đang sợ hả - Gã bật cười.
- Hãy tưởng tượng mà xem, nếu có con rắn hay gì đó xông ra thì chẳng phải chết cả - Mi nói.
Gã thở dài, đoạn sực nhớ ra huyễn cảnh trong mơ, bèn kể lại. Mi ngạc nhiên, cũng nói cho gã biết điều mà mình thấy.
- Babel là động tối - Mi chợt nói.
Gã lại cười, trong đầu hoàn toàn trống rỗng. Ở đây sẽ không một ai có thể suy nghĩ được điều gì khác, như thể bóng tối đã xâm chiếm dần vào khối óc và linh hồn, gã nói. Mi bảo mi nghe thấy tiếng sóng, có lẽ họ vẫn đang ở gần biển hoặc một nơi nào đó gần nguồn nước. Mi bảo mi nghe thấy tiếng cá quẫy nước, đó hẳn là một con cá lớn. Mi bảo mi đột nhiên muốn về nhà, ông của mi tuổi cao sức yếu, sợ rằng không còn nhiều thời gian nữa. Người thân của gã đã chẳng còn ai, gã là cô nhi, từ nhỏ đã lớn lên trong chùa, đến năm mười lăm tuổi thì vô tình được nhận nuôi. Sau đó, nhà gã bị cháy, bố mẹ nuôi đều bỏ mạng trong đống đổ nát.
Mi và gã nghe thấy tiếng Adop khẽ vang lên, nó xuất phát từ một nơi nào đó không rõ, như gần ngay trước mắt và cũng dường như xa vời vợi.
- Chúng tôi ở đây - Gã khẽ hô.
Adop quờ quạng tìm bật lửa mang theo bên mình. Ánh sáng lay lắt vụt lóe soi tỏ đôi mắt sâu thẳm của anh, mi thở phào. Adop đưa bật lửa xuống dưới chân, thận trọng dò bước. Cuối cùng thì họ cũng tìm thấy nhau.
- Tôi đã nhìn thấy cảnh mình gặp vợ lần đầu - Adop tắt bật lửa đi, tựa vào gã rồi nói.
- Chúng ta đều như nhau - Mi nói.
Ngoài bóng đêm kia là gì? Họ không rõ. Có thể là mặt đất, có thể là tháp cao, có thể là vực sâu, có thể là muôn vàn thú dữ đang phục sẵn rình rập, có thể là không ở một nơi nào cả. Lạc lên hoang đảo có lẽ còn đỡ hoang mang hơn, mi cười.
- Babel của tôi là cảng Cá Mập… - Adop chợt lên tiếng, giọng nhỏ như muỗi kêu.
Mi, gã không đáp lại, chỉ yên lặng nhắm mắt. Nếu đã chẳng thể làm gì thì đành ngủ thôi, hay là hát?
- Adop, tôi hát cho cậu nghe một bài hát của đất nước chúng tôi nhé?
- Cậu định hát gì? - Mi hỏi.
- Tôi không biết nữa, dù sao thì hát ra vẫn còn hơn là không có người nghe - Gã đáp.
Mi hơi chần chừ, song cũng tặc lưỡi, lấy hơi. Sau đó gã dạo một đoạn nhạc bằng miệng, tay gõ nhẹ vào nền đá dưới chân, bắt đầu hát. Đó là bài ca về cánh đồng xanh mát mắt, về những khu rừng mà gã băng qua, về những ngôi sao mà gã chẳng cách nào chạm tới, và về người con gái thổi flute trong dàn nhạc. Adop tuy không hiểu ca từ song cũng ngâm nga theo. Cuối cùng cả ba hòa thanh vào bản nhạc đó, lộn xộn, va đập, kẻ khóc người cười, kẻ đau buồn người thảnh thơi. Rốt cùng, cả ba ngủ lúc nào chẳng hay. Các giấc mộng chia thành ba ngả tìm đến mỗi một đối tượng của mình.
Họ đã ngủ rất lâu, đến khi Adop tỉnh dậy thì chỉ thấy cổ tê rần, tay chân dường mất đi cảm giác, thứ đập vào mắt anh đầu tiên là ánh sáng. Mở mắt nhìn quang cảnh trước mặt, anh lay hai người bạn của mình dậy. Gã và mi vẫn trong cơn ngái ngủ, dụi mắt, lờ mờ cảm thấy toàn thân ấm áp dần lên. Adop khẽ nói:
- Nhìn kìa.
Gã và mi mở mắt ra, chỉ thấy bình minh dâng lên trên vịnh Cá Mập. Tấm bản đồ vẫn nằm trên đất, thoáng chốc, một cơn gió sớm mai đã thổi nó lướt về phía biển khơi.
P.G.Q
(TCSH362/04-2019)
Tải mã QRCode
NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.
VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…
TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.
ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.
ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.
VŨ NAM TRỰC Truyện ngắn
TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.
XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.
NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.
PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.
NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.
CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.
NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.
LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.
NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.
MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.
MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.