Đừng lệ thuộc, đừng tự trói mình vào bất cứ “chủ nghĩa” và “phương pháp” nào

16:56 08/03/2008
NGUYỄN KHẮC PHÊTrong văn chương, cách gọi “chủ nghĩa” này hay “chủ nghĩa” khác đều không ổn, thậm chí có hại vì vô hình trung như thế là cách buộc nhà văn theo “một con đường” vạch sẵn mà từ hơn nửa thế kỷ trước, Hải Triều đã lên án...


Với ngành (nghề) lý luận phê bình thường được thiên hạ quan niệm là chốn cao sang dành cho các thầy, các giáo sư học vấn uyên thâm, tôi là một kẻ “ngoại đạo”; trong hệ thống “Trường Văn” thì bằng cấp cao nhất tôi đạt đến là tờ “Chứng chỉ” (nay đã mất) học viên Khoá 3 Lớp bồi dưỡng viết văn trẻ năm 1968-1969 do nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh phụ trách. Tuy vậy, trong “Trận Bút” thì có lẽ nhờ thừa hưởng và phát huy tinh thần can đảm (có người gọi là “gàn”) của các ông “Đồ Nghệ” và đội quân đi mở đường Trường Sơn tại một trong những trọng điểm ác liệt nhất thời chống Mỹ là đèo Mụ Dạ (Tây Quảng Bình), nên đến nay, sau gần 40 năm cầm bút (kể từ khi in cuốn sách đầu tay- ký sự “Vì sự sống con đường”, NXB Thanh Niên, 1968) tôi đã có 8 tiểu thuyết được xuất bản; mặt khác, qua 8 năm (1983-1991) làm Phó Tổng biên tập, rồi Tổng biên tập Tạp chí “Sông Hương” - một thời kỳ sôi nổi của “Sông Hương” và của công cuộc ĐỔI MỚI văn học nói chung - tôi cũng thấm hiểu được một số điều, nay xin được giãi bày:

1.
Thành tựu 20 năm đổi mới trong văn học là điều ai cũng nhận thấy và không thể tranh cãi. Chỉ xin được lưu ý thêm là hoạt động của báo chí - trong đó có tờ “Văn nghệ” với loạt bài tiêu biểu như “Cái đêm hôm ấy đêm gì?” (của Phùng Gia Lộc) và các tờ tạp chí địa phương như “Sông Hương”, “Cửa Việt”, “Đất Quảng”..., đã góp phần không nhỏ tạo nên diện mạo và không khí đặc biệt thời kỳ đầu “Đổi Mới”. Riêng tạp chí “Sông Hương”, chúng tôi đã mạnh mẽ ủng hộ các khuynh hướng tìm tòi sáng tạo nghệ thuật và mở rộng đề tài thể hiện ở nhiều tác phẩm, từ “Khối ru-bich” của Thanh Thảo, đến “Tổ quốc nhìn từ xa” của Nguyễn Duy và “Người đàn ông 43 tuổi nói về mình” của Trần Vàng Sao; từ các truyện ngắn đến trích tiểu thuyết “Những mảnh đời đen trắng” của Nguyễn Quang Lập, đến các truỵện ngắn, kịch, tiểu luận của Nguyễn Huy Thiệp... gây ra nhiều tranh cãi mãi về sau.

Có lẽ không cần biện minh sự “đúng-sai” các tác phẩm đó. Trong văn học nghệ thuật, sự “đúng-sai” nhiều khi phụ thuộc thời điểm, cách nhìn, có lúc tưởng là rất đen lại hoá ra trắng tinh. Dễ thấy hơn cả là hai bài thơ “Chống tham ô lãng phí” và “Lời mẹ dặn” của thi sĩ Phùng Quán, một thời bị quy là phản động, chống Đảng, nhưng đến năm 2003 đã được NXB Văn học trang trọng in lại và tác giả vừa được đề nghị truy tặng Giải thưởng Nhà nước. Còn nếu dùng thuật ngữ của “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” thì hai bài thơ đó có tính Đảng rất cao vì đã sớm vạch mặt bọn sâu mọt hại dân và đề cao tính trung thực (“Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét...”); có thể nói, đó là “khắc tinh” của bệnh dối trá - một tệ nạn đang đe doạ toàn xã hội, làm méo mó mọi giá trị cao đẹp mà dân tộc ta đã đổ biết bao mồ hôi và xương máu qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước mới vun đắp nên. Đó là chưa kể đến do trình độ văn hoá, đặc điểm tâm sinh lý, quan niệm về đạo đức, “gu” thẩm mỹ... - nghĩa là rất nhiều yếu tố của chủ thể tiếp nhận tác phẩm - cách đánh giá “đúng-sai” một tác phẩm khác nhau là chuyện bình thường. Hơn nữa, có những vấn đề hệ trọng, do một tập thể được gọi là tinh hoa của đất nước quyết định mà vẫn có “sai lầm chết người”, huống chi là sản phẩm của nhà văn này, nhà thơ nọ - loại người thường dễ mắc bệnh chủ quan và chỉ giỏi tưởng tượng.
Vì thế, nhìn nhận đóng góp cuả báo chí thời kỳ đầu “Đổi Mới” chính là ở chỗ nó đã khơi dậy, cổ vũ văn nghệ sĩ dám từ bỏ lối mòn, dám nói tiếng nói thật của lòng mình, kích thích sáng tạo. Có thể nói điều đó đã góp phần sinh thành nên những tác giả, tác phẩm được dư luận chú ý trong những năm về sau.

2. Chính vào thời kỳ này, tháng 4 năm 1987, tại Hội thảo “Văn xuôi những năm gần đây - Những vấn đề xã hội và sự tìm tòi sáng tạo” giữa hai Đoàn đại biểu nhà văn Việt và Liên Xô tại Mát-scơ-va, tôi đã phát biểu:
“...Tôi thiết nghĩ, những ai đã hoạt động nghệ thuật đều hiểu sự tìm tòi đổi mới trong sáng tạo nghệ thuật là lẽ sống còn của mình... Vậy mà lại có người - đáng tiếc là có khi họ là người có thế lực - họ e ngại sự tìm tòi đổi mới trong sáng tạo nghệ thuật, vì họ sợ như thế sẽ chệch đường, lệch hướng. Nhưng thử hỏi, trong sáng tạo nghệ thuật, ai là người chỉ rõ được con đương duy nhất dẫn đến thành tựu, như con đường tàu hoả dẫn đến ga? Con đường sáng tạo nghệ thuật mà đơn giản thẳng tắp như đường tàu thì không cần nghệ sĩ, nhà văn nữa. Từ nửa thế kỷ trước, ngay khi còn phải sống trong chế độ thuộc địa, nhà nghiên cứu Mác-xít Hải Triều đã viết trên báo “Dân tiến” (số 1, ngày 27/10/1938): “Bao giờ và ở chỗ nào cũng thế, nhà văn cần phải có tự do mới có thể sáng tạo được những công trình bất hủ. Gạch ra một con đường buộc họ phải theo là một sự điên rồ...

Thật đáng tiếc là cả một giai đoạn mấy thập kỷ trước thời kỳ “Đổi Mới”, có thể vì điều kiện lịch sử và hạn chế này nọ, chúng ta đã buộc phải theo (hoặc tự giác đi theo) “một con đường” mà người ta đã vạch sẵn! Vì vậy, cái gọi là “Đổi Mới” trong 20 năm qua, thực chất là để văn nghệ sĩ - những chủ thể sáng  tạo - được thực thi chức năng (nhiều khi như là “thiên chức”) đúng với đặc thù của nghề nghiệp. (Trước đây có người nói: “Đổi mới thực chất là quay về cái cũ”; thiết nghĩ, nói vậy không chính xác.) Tôi quan niệm trong văn chương, chủ yếu là “hay” và “dở” chứ không phải là “mới” và “cũ”. Truyện Kiều, Chí Phèo, Số Đỏ... đều là “cũ” mà hay. Xin miễn kê ra những cuốn sách mới viết, mới in mà dở.

Có nhiều cách (cũng có thể gọi là “thủ pháp” hoặc “mẹo” - ông Phan Ngọc đã có bài viết về “Mẹo tiểu thuyết”...) để đạt tới cái hay. Theo dòng “hiện thực” hay dòng “ý thức”, “huyền ảo” đều có tác phẩm hay, cái này không phủ định cái kia. Áp dụng “cách” nào là tuỳ “tạng” của mỗi nhà văn, tuỳ nội dung tác phẩm đòi một cách thể hiện, một hình thức thích hợp với nó. Viết về các nhà “ngoại cảm” đi tìm mộ liệt sĩ thì hẳn là có nhiều “huyền ảo” hơn cả tiểu thuyết Mỹ La tinh; nhưng nếu viết về đề tài các bệnh nhân tâm thần chẳng hạn thì có lẽ dùng “mẹo” dòng ý thức có lợi thế hơn v...v... Cũng cần nói thêm là trong cùng một cuốn sách, một đề tài, tác giả có thể dùng nhiều thủ pháp kết hợp. “Chử Đồng Tử” huyền thoại mà cũng rất hiện thực, “Truyện Kiều” hiện thực nghiêm ngặt nhưng vẫn có những trang “huyền ảo”; và theo thiền sư Thích Nhất Hạnh thì “Truyện Kiều” có nhiều “Phật tính” - dù tác giả là một nhà Nho tôn thờ Khổng-Mạnh. Nhiều tác phẩm nổi tiếng thế giới như “Nghệ nhân và Ma-gơ-rit-ta” của Bun-ga-cốp (Đoàn Tử Huyến dịch, vừa tái bản) hay “Mật mã Da Vinci”... đều rất khó “quy kết” thuộc dòng nào, “chủ nghĩa” nào.

Chính vì thế, trong văn chương, cách gọi “chủ nghĩa” này hay “chủ nghĩa” khác đều không ổn, thậm chí có hại vì vô hình trung như thế là cách buộc nhà văn theo “một con đường” vạch sẵn mà từ hơn nửa thế kỷ trước, Hải Triều đã lên án. Xin được nói ngay ở đây để các nhà lãnh đạo quản lý văn nghệ an tâm: từ “chủ nghĩa” đang bàn đến không đả động đến chính trị, mà chỉ là thuật ngữ văn nghệ như “chủ nghĩa hiện thực phê phán”, “chủ nghĩa hiện thực XHCN”...(có người gọi là “phương pháp”). Tôi mạnh dạn nêu vấn đề này vì gần đây, một số nhà lý luận vẫn bàn chuyện “Chủ nghĩa hiện thực XHCN” có còn thích hợp không, nên bổ sung, đổi mới những khía cạnh nào v...v... Xin được nói gọn: theo tôi, không chỉ “chủ nghĩa hiện thực XHCN”, mà bất cứ “chủ nghĩa” nào cũng không nên tôn thành ngọn cờ, thành “phương pháp” buộc các văn nghệ sĩ phải theo. Nói cách khác, trong văn chương, không có chuyện “chủ nghĩa” nào hết! Trước trang giấy trắng (hay trước màn hình vi tính) nhà văn không vướng bận gì đến các “chủ nghĩa” đã (hoặc sẽ) được đúc kết thành “giáo điều”. Như thế - nói theo ngôn ngữ của “chưởng” - nhà văn đã có được ưu thế “vô chiêu thắng hữu chiêu”. “Vô chiêu” thắng vì thực ra anh  được hoàn toàn tự do sử dụng mọi chiêu thức mà giới “võ lâm” trong và ngoài nước đã đúc kết từ trước, cũng như chiêu thức chưa một ai biết, chợt hiện đến trong tâm thế sáng tạo của anh.

Một bạn đồng nghiệp, sau khi nghe tôi nêu ý kiến này, đã nhiệt liệt hưởng ứng, nhưng rồi nửa thật nửa đùa bảo: “Nếu thế thì các nhà lý luận sẽ thất nghiệp à?” Không! Tôi nghĩ các vị chỉ không phải mất công bàn luận, đúc kết, viết bài giảng về các “chủ nghĩa”; chứ việc nhận ra tác phẩm nào hay, hay ở chỗ nào, nhất là việc phân tích nhà văn đã khéo léo vận dụng (hoặc tạo ra) thủ pháp nào, “mẹo” nào... nên tác phẩm mới hay, thì độc giả và cả người viết nữa, vẫn phải trông đợi chủ yếu ở các nhà lý luận từng trải, học vấn uyên thâm và khách quan.
Xin được nói thêm, tôi nêu vấn đề trên chính vì nhận ra bản thân mình và có lẽ nhiều bạn đồng nghiệp khác nữa, do đã quá tự ràng buộc, tuân theo “chủ nghĩa hiện thực” này nọ, vì ít có điều kiện tiếp xúc học hỏi những thành tựu văn nghệ thế giới,. cũng như nghiền ngẫm kinh nghiệm qua những tác phẩm lớn của dân tộc, nên nhược điểm dễ thấy là trên trang sách nặng về tái hiện cuộc sống thực tế cùng những vấn đề xã hội mà thiếu chất bay bổng của tưởng tượng và sáng tạo cùng sức nặng của tư tưởng. Tái hiện cuộc sống và những vấn đề xã hội, cho dù là “mũi nhọn- nóng bỏng”, cũng chỉ mới có thể chạm đến đề tài lớn, chứ chưa thể thành tác phẩm lớn như chúng ta mong đợi. Mặt khác, trong thời đại hiện nay, báo chí, truyền hình... có lợi thế và khả năng hơn hẳn văn chương trong việc phản ánh nhanh chóng, trực diện cuộc sống thực tế và các vấn đề xã hội.

Tất nhiên chúng ta còn có thể chỉ ra những nguyên nhân khác nữa đã hạn chế thành tựu của văn học trong những năm vừa qua. Trong nhiều lĩnh vực, tìm ra nguyên nhân là đã nắm chắc phần lớn sự thành công, nhưng trong văn chương thì còn phải có điều kiện chủ yếu là tài năng. Đó là của Trời cho, nên chắc chắn không thuộc nội dung hội thảo này. Có điều, tài năng luôn là của hiếm nên càng không thể để nó cùn mòn, lãng phí do những ngộ nhận và lầm lạc không đáng có trong quá trình hoạt động của mỗi cá thể sáng tạo và của cả cơ quan, Hội đoàn có trách nhiệm quản lý văn nghệ sĩ.
Những ý kiến nêu trên có điều gì sơ suất, rất mong được các bậc thức giả chỉ bảo cho.
  N.K.P

(nguồn: TCSH số 213 - 11 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LÝ HOÀI THUSự vận động và phát triển của một giai đoạn văn học luôn diễn ra song hành cùng sự vận động và phát triển của các loại thể văn học. Nói một cách khác: sức sống của một giai đoạn văn học được biểu hiện rõ rệt nhất qua diện mạo thể loại. Chính vì vậy, thể loại vừa là sự "phản ánh những khuynh hướng lâu dài và hết sức bền vững của văn học" (1) vừa là sự hồi sinh và đổi mới liên tục qua mỗi chặng đường phát triển.

  • INRASARA (Tiếp theo Sông Hương số 245 tháng 7-2009)

  • HÀ VĂN THỊNH Những cái tên - có lẽ không giản đơn như cách nói của người Nga - " Người ta gọi tôi là...”  Ở đây, lớp vỏ của ngôn từ chỉ diễn tả một khái niệm mù mờ nhất của một lượng thông tin ít nhất.Trong khi đó, có bao giờ ta nghĩ rằng một cái tên, không ít khi hàm chứa thật nhiều điều - thậm chí nó cho phép người khác biết khá rõ về tính cách, khả năng và ngay cả một phần của số phận của kiếp người?

  • HÀ VĂN LƯỠNG1. Ivan Bunhin (1870-1953) là một nhà văn xuôi Nga nổi tiếng của thế kỷ XX. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông trải qua những bước thăng trầm gắn với nhiều biến động dữ dội mang tính chất thời đại của nước Nga vào những năm cuối thế kỷ XIX và mấy chục năm đầu thế kỷ XX.

  • LÊ THÀNH NGHỊCâu hỏi “ta là ai?”, “ta vì ai” nổi tiếng của Chế Lan Viên tưởng đã tìm ra câu trả lời có chứa hạt nhân hợp lý của thời đại trong thơ chống Mỹ đã không còn đủ sức ôm chứa trong thời kì mới, khi nhu cầu xã hội và cá nhân đã làm thức tỉnh cái tôi trữ tình của người làm thơ. Nhu cầu xã hội thường là những gì bức thiết nhất của thực tại, do thực tại yêu cầu. Chẳng hạn, thời chống Mỹ đó là độc lập tự do của dân tộc. Tất cả những hoạt động tinh thần, trong đó có sáng tác thơ văn, nếu nằm ngoài “sự bức thiết thường nhật” này không phù hợp, không được đón nhận... và vì thế không thể phát triển. Kể từ sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, với chủ trương đổi mới, trong xã hội ta, nhu cầu bức thiết nhất, theo chúng tôi là khát vọng dân chủ.

  • LÝ TOÀN THẮNG“Văn xuôi về một vùng thơ” là một thể nghiệm thành công của Chế Lan Viên trong “Ánh sáng và phù sa”, về lối thơ tự do, mở rộng từ thấp lên cao - từ đơn vị cấu thành nhỏ nhất là Bước thơ, đến Câu thơ, rồi Đoạn thơ, và cuối cùng là cả Bài thơ.

  • INRASARA1. Đó là thế hệ thơ có một định phận kì lạ. Người ta vội đặt cho nó cái tên: thế hệ gạch nối, thế hệ đệm. Và bao nhiêu hạn từ phái sinh nhợt nhạt khác.Đất nước mở cửa, đổi mới, khi văn nghệ được cởi trói, nhà thơ thế hệ mới làm gì để khởi sự cuộc viết? Cụ thể hơn, họ viết thế nào?

  • VÕ VĨNH KHUYẾN Tiểu luận nhằm tìm hiểu thành tựu thơ ca trong khoảng 16 tháng giữa 2 cột mốc lịch sử (19.8.1945 - 19.12.1946). Bởi khi phân chia giai đoạn văn học nói chung (thơ ca nói riêng) trong tiến trình lịch sử văn học, các công trình nghiên cứu, các giáo trình ở bậc Đại học - Cao đẳng và sách giáo khoa trung học phổ thông hiện hành, không đặt vấn đề nghiên cứu thơ ca (cũng như văn học) nói riêng trong thời gian này. Với một tiêu đề chung "Văn học kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954". Đây là nguyên do nhiều sinh viên không biết đến một bộ phận văn học, trong những năm đầu sau cách mạng.

  • HỒ THẾ HÀ1. Diễn đàn thơ được tổ chức trên đất Huế lần này gắn với chương trình hoạt động của lễ hội Festival lần thứ 3, tự nó đã thông tin với chúng ta một nội dung, tính chất và ý nghĩa riêng. Đây thực sự là ngày hội của thơ ca. Đã là ngày hội thì có nhiều người tham gia và tham dự; có diễn giả và thính giả; có nhiều tiếng nói, nhiều tấm lòng, nhiều quan niệm trên tinh thần dân chủ, lấy việc coi trọng cái hay, cái đẹp, cái giá trị của nghệ thuật làm tiêu chí thưởng thức, trao đổi và tranh luận. Chính điều đó sẽ làm cho không khí ngày hội thơ - Festival thơ sẽ đông vui, phong phú, dân chủ và có nhiều hoà âm đồng vọng mang tính học thuật và mỹ học mới mẻ như P.Valéry đã từng nói: Thơ là ngày hội của lý trí (La poésie est une fête de l'intellect).

  • THẠCH QUỲThơ đi với loài người từ thủa hồng hoang đến nay, bỗng dưng ở thời chúng ta nứt nẩy ra một cây hỏi kỳ dị là thơ tồn tại hay không tồn tại? Không phải là sự sống đánh mất thơ mà là sự cùn mòn của 5 giác quan nhận thức, 6 giác quan cảm nhận sự sống đang dần dà đánh mất nó. Như rừng hết cây, như suối cạn nước, hồn người đối diện với sự cạn kiệt của chính nó do đó nó phải đối diện với thơ.

  • NGUYỄN VĨNH NGUYÊNNhững năm gần đây, người ta tranh luận, ồn ào, khua chiêng gõ mõ về việc làm mới văn chương. Nhất là trong thơ. Nhưng cái mới đâu chẳng thấy, chỉ thấy sau những cuộc tranh luận toé lửa rốt cục vẫn là: hãy đợi đấy, lúc nào đó, sẽ... cãi tiếp...

  • TRẦN VĂN LÝAi sản xuất lốp cứ sản xuất lốp. Ai làm vỏ cứ làm vỏ. Ai làm gầm cứ làm gầm. Nơi nào sản xuất máy cứ sản xuất máy. Xong tất cả được chở đến một nơi để lắp ráp thành chiếc ô tô. Sự chuyên môn hoá đó trong dây chuyền sản xuất ở châu Âu thế kỷ trước (thế kỷ 20) đã khiến cho nhiều người mơ tưởng rằng: Có thể "sản xuất" được thơ và sự "mơ tưởng" ấy vẫn mãi mãi chỉ là mơ tưởng mà thôi!

  • HOÀNG VŨ THUẬTChúng ta đã có nhiều công trình, trang viết đánh giá nhận định thơ miền Trung ngót thế kỷ qua, một vùng thơ gắn với sinh mệnh một vùng đất mà dấu ấn lịch sử luôn bùng nổ những sự kiện bất ngờ. Một vùng đất đẫm máu và nước mắt, hằn lên vầng trán con người nếp nhăn của nỗi lo toan chạy dọc thế kỷ. Thơ nảy sinh từ đó.

  • BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng dáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ , Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v.v... Đồng thời, Thơ mới là một hiện tượng thơ ca gây rất nhiều ý kiến khác nhau trong giới phê bình, nghiên cứu và độc giả theo từng thời kỳ lịch sử xã hội, cho đến bây giờ việc đánh giá vẫn còn đặt ra sôi nổi. Với phạm vi bài viết này, chúng tôi điểm lại những khái niệm về Thơ mới và sự đổi mới nghệ thuật thơ của các bậc thầy đi trước và tìm câu trả lời cho là hợp lý trong bao nhiêu ý kiến trái ngược nhau.

  • MẠNH LÊ Thơ ca hiện đại Việt Nam thế kỷ XX đã thu được những thành tựu to lớn đóng góp vào sự phát triển của lịch sử thơ ca dân tộc. Đặc biệt từ ngay sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời thay thế chế độ phong kiến thực dân hơn trăm năm đô hộ nước ta cùng với khí thế cách mạng kháng chiến cứu nước theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 12 năm 1946 đã thổi vào đời sống văn học một luồng sinh khí mới để từ đó thơ ca hiện đại Việt Nam mang một âm hưởng mới, một màu sắc mới.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCHNếu gọi Huế Thơ với tư cách đối tượng thẩm mĩ thì chủ thể thẩm mĩ của nó trước hết và sau cùng vẫn là sự hoá sinh Thơ Huế. Đương nhiên, không hẳn chỉ có Thơ Huế mới là chủ thể thẩm mĩ của Huế Thơ và cũng đương nhiên không hẳn chỉ có Huế Thơ mới là đối tượng thẩm mĩ của Thơ Huế. Huế Thơ và Thơ Huế vẫn là hai phạm trù độc lập trong chừng mực nào đó và có khi cả hai đều trở thành đối tượng thẩm mĩ của một đối tượng khác.

  • ĐỖ LAI THÚYThanh sơn tự tiếu đầu tương hạc                                  Nguyễn KhuyếnNói đến Dương Khuê là nói đến hát nói. Và nói đến hát nói, thì Hồng Hồng, Tuyết Tuyết làm tôi thích hơn cả. Đấy không chỉ là một mẫu mực của thể loại, mà còn làm một không gian thẩm mỹ nhiều chiều đủ cho những phiêu lưu của cái đọc.

  • NGUYỄN NGỌC THIỆNHải Triều tên thật là Nguyễn Khoa Văn, sinh năm 1908 trong một gia đình Nho học, khoa bảng. Năm 20 tuổi, trở thành đảng viên trẻ của Tân Việt cách mạng Đảng, Nguyễn Khoa Văn bắt đầu cầm bút viết báo với bút danh Nam Xích Tử (Chàng trai đỏ). Điều này đã khiến trong lần gặp gỡ đầu tiên, người trai có "thân hình bé nhỏ và cử chỉ nhanh nhẹn theo kiểu chim chích" (1) ấy đã gây được cảm tình nồng hậu của Trần Huy Liệu- chủ nhiệm Nam Cường thư xã, người bạn cùng trang lứa tuy vừa mới quen biết, nhưng đã chung chí hướng tìm đường giải phóng cho dân tộc, tự do cho đất nước.

  • TÔ VĨNH HÀ Huế đang trở lạnh với "mưa vẫn mưa bay" giăng mờ như hư ảo những gương mặt người xuôi ngược trên con đường tôi đi. Tôi giật mình vì một tà áo trắng vừa trôi qua. Dáng đi êm nhẹ với cánh dù mỏng manh như hơi nghiêng xuống cùng nỗi cô đơn. Những nhọc nhằn của tuổi mơ chưa đến nỗi làm bờ vai trĩu mệt nhưng cũng đủ tạo nên một "giọt chiều trên lá(1), cam chịu và chờ đợi nỗi niềm nào đó hiu hắt như những hạt mưa...

  • NGUYỄN HỒNG DŨNG1. Một cuộc đời lặng lẽ và những truyện ngắn nổi danhO' Henry, tên thật là William Sydney Porter, được đánh giá là người viết truyện ngắn xuất sắc nhất của nước Mỹ những năm đầu thế kỷ XX. Ông sinh tại Greenboro, tiểu bang North Carolina vào năm 1862. Năm 15 tuổi (1877), ông thôi học và vào làm việc trong một hiệu thuốc tây. Vào tuổi hai mươi, ông bị đau nặng và sức khoẻ sa sút nên đã đến dưỡng sức ở một nông trại tại tiểu bang Texas. Ông đã sống ở đấy hai năm, đã làm quen với nhiều người và hiểu rất rõ tính cách miền Tây. Sau này, ông đã kể về họ rất sinh động trong tập truyện ngắn có tựa đề đầy xúc cảm Trái tim miền Tây.