Dự Vu Lan và khóc

15:25 11/08/2014

Người ta hay quan niệm tháng bảy âm lịch là tháng “cô hồn”, rằm tháng bảy là để “xá tội vong nhân”, toàn khái niệm thuộc về “thế giới khác”. Ai đi chùa thì được biết tháng bảy còn gọi là mùa Vu Lan.

Hoa hồng và nước mắt. Ảnh: N.M.Hà

Những ngày Vu Lan tổ chức ở chùa luôn là dịp đánh thức lòng từ hiếu trong mỗi người.

Tết khất thực

Mãi tới năm kia, tôi mới được trải nghiệm điều này tại nền chùa cổ Phù Nghì, lưng chừng núi Tây Thiên- Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Quả thực tôi không ngờ, mình lại “sến” đến thế. Lý do để tôi bật khóc ngoài chuyện còn nhiều khiếm khuyết trong việc báo hiếu cha mẹ, còn vì ảnh hưởng của bầu không khí xung quanh. Rất nhiều người khóc. Thầy T. - bậc ni trưởng nghiêm cẩn là thế vậy mà cũng vừa hát một bài như Tình cha vừa khóc. 

Năm nay, lễ Vu Lan được ni chúng tổ chức nhằm ngày mười tư tại tịnh thất Tây Thiên - nơi tu tập của hơn trăm vị ni. Tuy thấp hơn chùa Phù Nghì một chút, nhưng muốn leo lên tới đây, cũng phải vượt qua 6-7 cây số đường rừng. Vì thế cho nên chỉ có khoảng… hai nghìn phật tử về dự lễ. 

Buổi lễ bắt đầu bằng việc tái hiện tích chàng chăn bò Sotthiya dâng tám bó cỏ cát tường cho Đức Thích Ca để Ngài kết làm bồ đoàn ngồi thiền định, từ đó đạt thành chính giác. Các bó cỏ xanh cũng được các phật tử dâng lên để ni chúng làm tòa ngồi.

Tiếp theo các ni được phát mỗi người một cái bát để đi khất thực một cách tượng trưng. Phật tử rẽ ra lấy đường cho ni chúng. Những người đi đầu thường được dâng rất nhiều bánh trái, hoa quả, tràn cả ra ngoài bát. Hết tăng đoàn, đến lượt các phật tử theo gót Đức Như Lai khi xưa đi xin ăn để tiêu trừ bản ngã, dứt bỏ sân si. Thực ra cái đích của phật tử khất thực chính là nhà ăn - chỗ mà ê hề đồ chay đã được chuẩn bị sẵn.

Một bữa ăn chay giữa thiên nhiên sau khi leo núi, thọ pháp, dự lễ… là trải nghiệm thích thú không chỉ cho vị giác. Tới giờ, tôi vẫn còn lưu vị chè sen ngọt mát trên đầu lưỡi. Nếu trở lại, chắc tôi sẽ ăn nhiều hơn chút nữa(!).

Lễ Vu Lan trùng với lễ Tự tứ, tức là buổi tổng kết hoạt động tu tập sau ba tháng “an cư kiết hạ” của chư tăng. Tôi đọc ở đâu đó rằng ba tháng mùa hè là thời gian các loài sâu bọ côn trùng sinh sản mạnh, nên chư tăng để tránh việc sát sinh gây ra kể cả khi đi lại đã dành thời gian này để nhập thất tu tập. Lễ Tự tứ được xem là ngày Tết với tăng ni. 

Theo tích Mục Kiền Liên cứu mẹ, Đức Phật đã dạy những đứa con hiếu thảo muốn cha mẹ ông bà đã quá vãng được siêu thoát thì cách hữu diệu nhất là nhằm ngày Tự tứ cúng dường lên chư tăng với tâm bình đẳng.

Thầy Thích Thanh Tịnh giảng giải: “Đây là cách cầu siêu đúng nghĩa từ thời Cổ Phật. Bây giờ ý nghĩa của ngày rằm tháng bảy bị hiểu rất sai.

Thế gian biến ngày này thành ngày lễ dân gian, tức là Phật giáo đi được vào lòng dân tộc, nhưng lại sử dụng sai cách. Đức Phật lập nên rằm tháng bảy là ngày chúng ta phải đến chùa, dâng cúng chúng tăng thì chúng ta lại sắm vàng mã. Đốt thật nhiều, giết thật nhiều gà là có hiếu.

Như vậy là đi sai hoàn toàn với ý chỉ Đức Phật”. Lễ cầu siêu tại Đại Bảo tháp Tây Thiên diễn ra thường xuyên vào rằm và mùng một hằng tháng, nhưng cầu siêu kiểu Cổ Phật chỉ có trong ngày Tự tứ.

Ba mức hiếu

Chính lễ Vu Lan bắt đầu vào buổi chiều. Buổi lễ có nhiều thứ lớp, đọng lại trong lòng người dự vẫn là cảm xúc. Khi thầy Tịnh cất giọng đọc những lời thấm thía về tình mẫu tử, phụ tử, hàng phật tử chỉ còn biết chắp tay, nhiều người trào nước mắt. Khóc nhiều nhất là những người tóc đã điểm màu sương gió. Lý do có lẽ như lời nhận xét của thầy: “Những buổi lễ thế này càng nhiều lớp trẻ tham dự càng tốt, rất tiếc hôm nay thấy toàn lớp già là chính, muốn báo hiếu thì cha mẹ đã vắng mặt trên cõi đời này”.

Theo như lời dạy của thầy Tịnh thì đại đa số trong chúng ta, ai ngoan lắm cũng chỉ mới chạm đến mức “tiểu hiếu” đạo Phật quy định: “Trong kinh Vu Lan nói rằng vai phải cõng cha, vai trái cõng mẹ đi khắp mọi miền từ mòn da đến gân, mòn gân đến xương, mòn xương đến tủy vẫn chưa báo đáp nổi ân đức của mẹ cha. Không bao giờ trái ý, luôn tùy thuận vâng lời, khi cha mẹ về già, một lòng cơm ngon canh ngọt để hiếu dưỡng thì mới là tiểu hiếu. Xã hội hiện đại bây giờ tiểu hiếu còn rất ít, đại đa phần bất hiếu”. 

Thầy Tịnh kể: “Trong số phật tử gần gũi với các thầy, có người phát nguyện xuất gia sau khi bạn đời qua đời. Nhưng những đứa con thản nhiên bảo: Mẹ đi tu làm sao được. Phải ở nhà bế cháu cho con!”.

Vâng có thể ông bà cũng rất vui khi được đỡ con chăm cháu. Mô hình của nhiều gia đình Việt Nam là thế. 

Nhưng hãy thử nhìn vấn đề theo cách của người xuất gia: “Ngày xưa cha mẹ còn trẻ khỏe nuôi nấng chúng ta đã vất vả lắm rồi, vậy mà bây giờ khi cha mẹ đã già chúng ta còn lười, không chịu thuê người giúp việc, không đem con đến nhà trẻ, bắt cha mẹ thành người ở không công, còn mình vô trách nhiệm đi khắp đó đây…”.
 

Được giao nhiệm vụ hát Ơn nghĩa sinh thành trong khi các thầy mang hoa hồng cho các phật tử cài áo, chúng tôi ôm micro núp dưới bục phát biểu, không dám nhìn ai. Nếu thấy cảnh mọi người khóc, đảm bảo không hát nổi. 

Đây là kinh nghiệm “xương máu” rút ra từ mùa Vu Lan trước. Hoa hồng trắng dành cho người mồ côi cả cha lẫn mẹ. Hồng vàng dành cho người có bố hoặc mẹ đã khuất. 

“Bông hồng đỏ để nhắc quý phật tử rằng mình vẫn còn cả cha và mẹ, còn cả một bầu trời yêu thương cao rộng. Xin hãy quay về bên cha mẹ để kịp thời báo hiếu khi người còn tại thế,” thầy Tịnh răn.


Nguồn: N.M.Hà - Tiền Phong
 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "

  • Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.

  • Thư Sông Hương Vậy là năm đầu của thế kỷ XXI, của thiên niên kỷ III Công lịch đã qua. Mới ngày nào đó, khắp hành tinh này còn rộ lên niềm hoang mang và hoang tưởng về một ngày tận thế ở năm 2000 bởi sự “cứu rỗi” của Thiên Chúa hoặc bởi sự “mù loà” của máy tính. Mới một năm thôi mà thế giới loài người đã qua biết bao bất trắc, xung đột, khủng bố... và máu và nước mắt! May mà đất nước chúng ta vẫn được bình yên, ổn định, phát triển theo Đường lối Đại hội IX của Đảng. May mà dân ta vẫn còn nhu cầu Văn hoá tâm linh. Văn hoá tâm linh cũng là thuộc tính của văn học nghệ thuật. Các tờ báo văn nghệ tồn tại được chính nhờ nhu cầu đó. Qua một năm nhìn lại, Tạp chí Sông Hương chúng tôi ngày một được bạn đọc tin cậy hơn, cộng tác càng nhiều hơn, thật là điều vinh hạnh. Song, ngược lại, chúng tôi cũng lấy làm áy náy vì bài vở thì nhiều mà trang báo lại có hạn, không thể đăng tải hết được, nhất là số Tết này. Ở đây, nó mang một nghịch lý chua chát, bi hài như một nhà viết kịch đã nói: “Số ghế bao giờ cũng ít hơn số người muốn ngồi vào ghế”. Ngoài sự bất cập ấy, hẳn còn có những điều khiếm nhã khác mà chúng tôi không biết làm gì hơn ngoài lời xin lỗi, lời cảm ơn và mong được thể tất. Chúng tôi xin cố gắng chăm lo tờ Sông Hương luôn giữ được sắc thái riêng, có chất lượng để khỏi phụ lòng các bạn. Dù thế giới có biến đổi thế nào đi nữa thì Sông Hương vẫn mãi mãi muốn được thuỷ chung với bạn đọc, bạn viết của mình. Nhân dịp tết Nhâm Ngọ, Sông Hương trân trọng chúc Tết các bạn sang năm mới thêm dồi dào sức khoẻ, thành đạt và hạnh phúc. S.H

  • Các bạn đang cầm trên tay số kỷ niệm 25 năm thành lập Tạp chí Sông Hương. Mới ngày nào đó, một ngày hè tháng 6 năm 1983, trong niềm khao khát của không khí đổi mới trong văn học nghệ thuật, Tạp chí Sông Hương số 01 ra mắt và đón nhận sự hưởng ứng của công chúng. Đó là một sự khởi đầu được mong đợi từ hai phía: người viết và bạn đọc.

  • Gần đây đọc các bài của Trần Mạnh Hảo và Nguyễn Hùng Vĩ bàn về ba bài thơ Thu của Nguyễn Khuyến trên Văn nghệ (1), tôi thấy câu "Nước biếc trông như tầng khói phủ" trong bài Thu vịnh là câu thơ sáng rõ, không có gì khó hiểu mà lại được bàn nhiều. Mỗi người hiểu mỗi cách mà đều hiểu không đúng, chỉ vì không để ý rằng câu thơ này được viết theo lối "đảo trang".

  • (Nhân đọc: "Truyện Mã Phụng - Xuân Hương") * Truyện "Mã Phụng - Xuân Hương" trước đây còn được quen gọi dưới nhiều tên khác nhau, lúc là Vè Bà Phó, Vè Mã Phụng - Mã Long, khi là Thơ Mụ Đội, khi lại là Truyện Mã Ô - Mã Phụng v.v... là một tác phẩm văn học dân gian vốn được nhân dân Bình - Trị - Thiên rất yêu thích, phạm vi phổ biến trước Cách mạng Tháng Tám 1945 khá rộng.

  • Trên Tạp chí Sông Hương số tháng 3, nhân sự kiện Trần Hạ Tháp dành được giải A trong cuộc thi truyện ngắn của báo “Văn nghệ”, tôi vừa lên tiếng về sự “lặng lẽ” - một điều kiện cần thiết để làm nên tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị, nay lại nói điều ngược lại, vậy có “bất nhất” có mâu thuẫn không?

  • Trên thực tế, việc bảo tồn những vốn quý của cha ông để lại quả không phải là việc đơn giản, dễ dàng. Nhưng chúng ta sẽ không thể có sự chọn lựa nào khác bởi vì sẽ không có một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nào cả nếu từ bây giờ chúng ta không biết giữ lấy những gì mình đang có.

  • Mang tên dòng sông duyên dáng thả mình bên thành phố Huế - SÔNG HƯƠNG, những trang tạp chí này là dòng chảy của những cảm xúc tươi đẹp trên “khúc ruột miền Trung” đất nước.

  • Từ xa xưa đến bây giờ, thường tục vẫn nói "sông có khúc người có lúc". Không biết Sông Hương bản báo năm rồi (năm tuổi 15) là sông hay là người? Có lẽ cả hai. Vậy nên cái khúc và cái lúc của nó đã chồng lên nhau - chồng lên nhau những khó khăn và tai tiếng!