HẠNH NGUYÊN
Hình tượng người chiến sĩ nhỏ tuổi Ga-vơ-rốt ngoài chiến lũy với sự dũng cảm kiên cường đến phi thường, với lời hát cất lên thật say sưa và cái chết không khó dự đoán đã trở thành một tượng đài phê phán chiến tranh trong lòng độc giả. Victor Hugo của hai thế kỷ trước đã đứng về phía những người khốn khổ, nhất là trẻ em để nói tiếng nói yêu thương đồng thời lên án chiến tranh.
Ảnh: internet
Và theo lý thuyết liên văn bản, “không có một văn bản nào tồn tại độc lập, tự trị như một ốc đảo. Tất cả các văn bản đều có phần lặp lại, phối trộn, liên hệ với nhau”1, những hình tượng trẻ em trong chiến tranh trở đi trở lại trong các văn bản ở khắp các châu lục đã cùng nhau tạo nên lời đồng vọng yêu thương cho những đứa trẻ trong chiến tranh. Bằng mối liên hệ dựa trên tầm đón nhận, mỗi độc giả đều có thể tự nhận thấy được sự yêu mến, bênh vực và cả đau xót dành cho trẻ em khi mỗi tác giả tạo nên một bức tranh chiến tranh tuy có khi chẳng hề tàn khốc. Bởi những đứa trẻ dù có tham chiến hay không thì chiến tranh cũng đã gây ra những nỗi đau khôn cùng cho chúng.
“Du hành” từ Việt Nam với Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán, đến Irealand với Chú bé mang pyjama sọc của John Boyne, rồi sang Mỹ với Cáo Pax của Sara Pennypacker, độc giả đều thấy được những hình tượng trẻ em trong chiến tranh với những nỗi đau khác nhau; những thân phận khác nhau. Song suy cho cùng, trẻ em là để yêu thương. Chiến tranh, tại sao lại không biến mất, để trẻ em được sống đúng với cuộc sống chúng đáng được hưởng!? Đó dường như cũng là câu hỏi day dứt mãi của các tác giả và cả độc giả.
1. Rời xa yêu thương
Nỗi đau đầu tiên mà những đứa trẻ buộc phải chịu khi chiến tranh nổ ra là chúng phải rời xa yêu thương. Tính liên văn bản được thể hiện rõ ở việc những nhân vật nhỏ tuổi trong Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán và Cáo Pax của Sara Pennypacker đều đối diện với những chia ly - với quê hương, với người thân, với bạn bè. Mỗi một sự rời xa yêu thương đều là một nỗi đau trong lòng những đứa trẻ.
Trong Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán, mở đầu là hình ảnh những đứa trẻ Vệ quốc đoàn đang “hành quân” và tập luyện bên sông Bạch Đằng (sông Đông Ba) - một nhánh sông đào của con sông Hương. Chúng đều chỉ là những đứa trẻ “ăn chưa no lo chưa tới” nhưng vì chiến tranh phải trở thành chiến sĩ. Rời xa gia đình, xa quê hương, xa luôn cuộc sống vốn dành cho trẻ nhỏ. Lao vào chiến trận với một trách nhiệm vốn chỉ dành cho “tráng niên”. Những Quỳnh, những Tư-dát, những Lượm... đều chấp nhận như một lẽ hiển nhiên - rời xa những điều thân thuộc nhất. Đặc biệt là Mừng. Trong quá trình đi tìm lá thuốc chữa bệnh hen suyễn cho mẹ, em gia nhập Vệ quốc đoàn, trở thành chiến sĩ nhỏ tuổi nhất. Em bé ước ao đất nước giải phóng để nhà nước chữa bệnh cho mẹ, cho tất cả người dân. Trong giấc chiêm bao, nỗi nhớ mẹ, khát khao được gặp mẹ chảy tràn khóe mắt em:
“Đang ngủ rất say, Vịnh-sưa vụt choàng tỉnh dậy. Có tiếng khóc thổn thức ngay cạnh tai em. Em ngồi hẳn lên. Hóa ra Mừng khóc, vừa khóc vừa nói mớ. Vịnh đưa tay sờ má bạn. Ui chao, cả hai má ướt đẫm nước mắt nóng hổi…
- Cậu nằm mê chuyện chi mà khóc dữ rứa?
- Tui nằm mê được đội trưởng cho phép về thăm mạ… Vừa lúc tui tìm được cái nồi để sắc thuốc cho mạ, thì anh đánh thức tui dậy… Tiếc quá!”2
Câu chuyện hai mẹ con em Mừng lạc nhau trong chiến tranh đã lấy đi nước mắt của độc giả nhiều nhất thiên tiểu thuyết. Người mẹ phải tản cư. Mừng tìm về nhà không còn mẹ. Em lên chiến khu Hòa Mỹ. Còn mẹ em gánh hàng bún bò đi khắp mọi con đường, mọi mặt trận, mọi chiến khu của tỉnh Thừa Thiên mong tìm được con… Và rồi. Mừng chỉ được gặp lại mẹ khi bà hấp hối bởi bom đạn của Tây. Bà chết khi nỗi oan thấu tận trời xanh của con trai còn chưa được sáng tỏ. Đó là sự đả kích quá lớn đối với Mừng. Một nỗi đau như vậy, chỉ diễn ra ở thời chiến. Chiến tranh khiến trẻ thơ không còn được là trẻ thơ. Chiến tranh buộc chúng phải đối diện với những đớn đau không tưởng.
“Rời xa yêu thương” cũng được Sara Pennypacker thể hiện rõ trong Cáo Pax. Khi chiến tranh nổ ra, Peter buộc phải rời xa Pax - người bạn nhỏ của mình. Nỗi đau của cậu bé diễn ra bất ngờ mà day dứt: “Nhưng hôm nay cậu bé lại nâng chú thú cưng lên, vùi mặt vào khoang cổ trắng muốt, ôm ghì lấy nó. Lúc ấy chú cáo mới nhận ra rằng cậu chủ đang rấm rứt khóc... Cậu bé lại kéo nó vào lòng và khẩn khoản nói chuyện với cha… chỉ có độc tiếng KHÔNG được lặp đi lặp lại với cha, đầy van vỉ tha thiết…”3. Đối với đứa trẻ mồ côi mẹ từ sớm, còn cáo Pax là do mẹ nhận nuôi và để lại, xa Pax là điều đau đớn vô tận. Nên trong phút buộc phải thả Pax vào rừng còn mình phải đến nhà ông nội sống vì ba phải tòng quân, Peter chỉ còn biết bất lực gọi tên Pax trong tuyệt vọng “Pax ơi!” Nỗi tuyệt vọng biến thành nỗi đau, và đứa trẻ đó phải nghe một lí do đối với nó rất khó hiểu: “Trái tim cậu hoảng loạn và đập liên hồi. Khóe mắt lại cay cay, và Peter đưa tay quẹt nước mắt trong bất lực. Cha cậu nói đó là điều phải làm. “Chiến tranh đang tới. Đồng nghĩa với việc ai nấy đều phải hy sinh.””4 Lời tuyên bố của người cha khẳng định Peter phải xa thú cưng của nó; còn đối với độc giả, nó là một nỗi chua xót. Thật sự chua xót bởi một đứa trẻ, đâu đã hiểu gì về chiến tranh! Nó chỉ biết một điều rằng, chiến tranh là phải rời xa những gì thân thuộc nhất. “Phải hy sinh”. Ngay khi còn là một đứa trẻ.
Với nỗi đau, niềm ân hận vì đã bỏ lại người bạn thân thiết của mình, Peter quyết định trở lại rừng tìm Pax và cậu đã bị thương nặng ở chân. Trong những ngày ở nhờ nhà bà Vola, Peter dùng hết nghị lực để tập đi, để có thể mau chóng tìm lại Pax. Peter oán trách cha đã chia cắt Pax với mình. Nhưng rồi cậu cũng phải nhìn vào nguyên nhân cốt lõi của sự rời xa yêu thương: “Cháu không tức giận. Chỉ là cháu không hề lựa chọn nó. Cháu không hề lựa chọn xảy ra chiến tranh. Cháu không hề lựa chọn cha mình đi tòng quân. Cháu không hề lựa chọn rời bỏ mái ấm gia đình. Cháu không hề lựa chọn đến nhà ông nội. Và nhất định là cháu không hề lựa chọn bỏ mặc con vật mà mình đã chăm sóc suốt năm năm... Cháu để nó đi bởi chiến tranh. Chiến tranh, chứ không phải hòa bình… Nó có thể sẽ chết vì một trận chiến.”5 Một loạt cụm từ “cháu không hề lựa chọn” được lặp lại trong lời nói của Peter xoáy sâu vào nỗi bất lực đến đớn đau của một đứa trẻ. Những điều lẽ ra mỗi đứa trẻ được hiển nhiên lựa chọn, nay trở thành điều buộc phải mất đi, do chiến tranh. Yêu thương và được yêu thương là quyền cơ bản của trẻ em. Nhưng chiến tranh đã đẩy những đứa trẻ vào nỗi cô độc tuyệt vọng trong niềm phẫn uất bất lực. Trong đó còn có nỗi ân hận, sự lo lắng bất an vì yêu thương của mình có thể sẽ mất đi mãi mãi. “Nó có thể chết vì một trận chiến”. Nỗi lo lắng của Peter rất thực. Bởi chiến tranh là chết chóc, là đau thương. Những đau thương không ai có thể lường được biên giới của nó.
Bằng việc cùng khắc họa nỗi đau của trẻ em trong việc phải rời xa yêu thương, Phùng Quán và Sara Pennypacker đã cùng gặp nhau ở niềm thương cảm sâu sắc và tiếng nói tố cáo chiến tranh. Chiến tranh tước đoạt những điều đẹp đẽ nhất, giá trị nhất của một đứa trẻ. Cô độc và mất mát khi còn quá nhỏ bé để hiểu, nhưng mỗi đứa trẻ đều cảm nhận được nỗi đau tận cùng do chiến tranh gây ra cho mình, cho những yêu thương quý giá nhất của mình.
2. Và vẫn thơ ngây - thơ ngây đến đau lòng
Đối diện với chiến tranh - điều mà người lớn sợ hơn bất cứ thứ gì, thì những đứa trẻ vẫn nhìn nó với ánh mắt ngây thơ. Chính sự ngây thơ này càng khiến độc giả đau xót. Các tác giả đã “vô tình liên văn bản” khi sử dụng ánh nhìn trẻ thơ, giọng điệu trẻ thơ để khắc họa sự dữ dội của chiến tranh. Điều này càng chạm đến tận cùng niềm thương xót của những người có lương tri lương năng trên khắp nhân loại. Đó là Shmuel - một cậu bé Do Thái trong nhà tù diệt chủng Ao-tuýt; đó là Mừng - cậu bé lên ở chiến khu Hòa Mỹ vì lý tưởng giải phóng dân tộc. Cả John Boyne và Phùng Quán đều rất thành công trong việc sử dụng điểm nhìn trẻ thơ để khắc họa nỗi đau chiến tranh gây ra cho trẻ nhỏ.
Shmuel đã kể với người bạn Bruno về hoàn cảnh của mình: “… quân lính xây một bức tường khổng lồ và cha mẹ anh em chúng tớ tất tật sống chung trong một phòng… Bọn tớ sống ở đó thêm mấy tháng nữa… Rồi một ngày quân lính ồ ạt kéo tới cùng những chiếc xe tải khổng lồ… và xe tải chở bọn tớ tới một đoàn tàu… Chuyến tàu rất khủng khiếp… Thứ nhất là có quá nhiều người trong toa. Chẳng có không khí mà thở. Và mùi mè thì rất ghê… Khi cuối cùng con tàu cũng dừng lại… Bọn tớ ở một nơi lạnh lẽo và tất cả bọn tớ phải cuốc bộ tới đây.”6 Chuyến đi đến trại tập trung Ao-tuýt kinh hoàng mà mỗi lần nhắc đến đều khiến con người ám ảnh, lại được kể bằng một giọng điệu ngây thơ đến đau lòng. Shmuel không biết được điều gì đang đợi mình và những người Do Thái như mình ở nơi đó… Không bao giờ Shmuel lại có thể biết được chuyến đi ấy là định mệnh.
Và sự ngây thơ của Shmuel còn ám ảnh hơn khi cậu bé kể với bạn Bruno của mình về “sự biến mất” của cha cậu:
“Tớ xin lỗi,” Shmuel nói. “Có chuyện đã xảy ra.”
… “Sao?”, Bruno hỏi. “Có chuyện gì vậy?”
“Cha tớ”, Shmuel nói. “Nhà tớ không tìm thấy cha.”[…] “Hôm thứ hai cha vẫn ở đây, rồi cha đi làm việc với một số người khác và chẳng ai trong số họ trở lại nữa cả.”
“Cha cậu không viết thư cho cậu à?” Bruno hỏi. “Hay để lại lời nhắn báo tin khi nào về?”
“Không có… Dĩ nhiên tớ đã đi tìm.”, Shmuel nói bằng một tiếng thở dài. “Tớ đã làm việc mà cậu đã luôn nói tới. Tớ đã làm một vài cuộc thám hiểm.”
… “Tớ không biết nhà tớ sẽ làm gì nếu không có bố.”7
Bruno cũng ngây thơ không kém khi tiếp nhận câu chuyện của bạn mình. Hai đứa trẻ 9 tuổi: một đứa trẻ Do Thái, một đứa trẻ người Đức có cha là “Ngài chỉ huy” từ Béc-lin tới Ao-tuýt để làm “nhiệm vụ đặc biệt”, trở thành bạn của nhau và trò chuyện qua hàng rào thép gai; rồi cùng nhau bàn về sự mất tích bí ẩn của một người Do Thái bên trong hàng rào thép gai ấy. Thậm chí Bruno hồn nhiên còn đề nghị “tớ sẽ hỏi cha tớ nếu cậu muốn.” Những dòng đối thoại thơ ngây của hai đứa trẻ trở thành những vết cứa vào lòng độc giả - dù có là người lạnh lùng nhất cũng sẽ cảm thấy đau. Chúng không bao giờ hiểu được người lớn, không bao giờ hiểu được “mình là ai?”, không bao giờ hiểu được chiến tranh nhân danh điều gì để khiến chúng, dù rất muốn gần nhau, phải nói một “ước ao” mà vốn là bình dị giữa đời thường:
“Tớ ước chúng ta có thể chơi cùng nhau,” Bruno nói sau một thoáng ngưng dài. “Chỉ một lần thôi. Chỉ để ghi nhớ.”
“Tớ cũng vậy,” Shmuel nói.
“Bọn mình đã nói chuyện với nhau hơn một năm rồi nhưng bọn mình chưa bao giờ được chơi cùng cả. Và cậu còn biết gì nữa không?” Bruno nói thêm… “Nếu tớ cũng có một bộ pyjama sọc, tớ có thể sang thăm chỗ cậu mà chẳng ai phát hiện được.”
… Mặt Shmuel sáng bừng… “Và cậu có thể giúp tớ tìm cha.”
“Sao không chứ”, Bruno nói.8
Bộ đồ tù nhân đã trở thành một trang phục thoải mái mà Bruno bên này hàng rào ao ước được cùng mặc với bạn, để giống bạn, để có thể một lần được chơi với bạn, để giúp bạn đi tìm cha… Và hai đứa trẻ đã quyết định “một kế hoạch thám hiểm” trong chính trại Ao-tuýt mãi mãi chúng không hiểu bản chất là gì.
Không tự thấy mình “vô can” rồi hồn nhiên đến đau lòng như Bruno và Shmuel, chú bé Mừng trong Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán ý thức rõ được về chiến tranh, về nhiệm vụ của mình; song em lại hồn nhiên để đến mức phải trả một cái giá bằng mạng sống của mình. Đó là Mừng hồn nhiên tin tất cả bạn bè trong Vệ quốc đoàn. Mừng tin những lời nói dối thành thục của “tên điệp viên” Kim để rồi bị Kim lợi dụng. Cho đến khi phát hiện Kim lừa mình để chụp được tấm bản đồ đặc biệt của chiến khu Hòa Mỹ, Mừng sực tỉnh. Mừng quyết giành lại tấm bản đồ. Mừng giành giật bằng cả mạng sống, bất chấp cơ thể bé nhỏ do thiếu dinh dưỡng và ghẻ lở khiến bàn tay em tươm máu. Bị Kim ranh mãnh cõng về căn cứ Tây, Mừng tìm mọi cách trốn thoát lên chiến khu. Chi tiết này, Phùng Quán đã lần nữa khắc họa sự ngây thơ trong sáng vô cùng của Mừng, khiến em trở thành nạn nhân của chính nó, mà những nỗi đau Mừng trải qua khi trở lại chiến khu khiến mỗi độc giả nghẹt thở.
Không ai còn tin Mừng. Sự ngây thơ của em biến thành sự tinh ranh của một tên điệp viên xuất chúng:
“Trước những lời nguyền rủa của các bạn, gương mặt Mừng tái nhợt như xác chết…
Gương mặt và những giọt nước mắt ngắn dài chảy tràn trên hai gò má trẻ thơ của em khiến Lê Hường thoáng có ý nghĩ “Hay là nó đúng bị oan?” Nhưng anh đã gạt ngay ý nghĩ đó đi…
- Tôi gặp không ít những tên điệp viên nhà nghề có hạng. Nhưng chú mi mới là tên điệp viên sừng sỏ nhất, tinh quái nhất…
Thật ra, về sau này, Lê Hường mới biết, ngay cả hai tiếng “điệp viên” Mừng cũng không rõ nghĩa.”9
Sự hồn nhiên mọi ngày của Mừng bỗng biến thành sự giả trá thành thục. Chiến tranh đã biến những đứa trẻ thơ ngây thành “điệp viên” một cách đầy đớn đau - khi chúng sống thật với bản chất, cũng bị nghi ngờ. Một lời lên án mạnh mẽ: trẻ em không còn được ngây thơ hồn nhiên! Chiến tranh đã tước đoạt hết mọi quyền của trẻ thơ, ngay cả bản chất của chúng. Nhưng chiến tranh không ngăn được sự hồn nhiên đáng yêu của trẻ thơ. Điều này mới khiến độc giả đau lòng hơn cả. Mừng cũng vậy, em ngây thơ nhưng quyết liệt và trung thành với điều em cho là đúng đắn đến tận hơi thở cuối cùng: Trong đợt quân Pháp tấn công lên chiến khu, đồng đội em trên đài quan sát cây quao đều hy sinh, Mừng dũng cảm thay các bạn làm tiếp phần việc. Và ngay khi bản thân bị thương nặng, lời nói cuối cùng, cũng là lời nói ngây thơ xé lòng:
Anh đừng nghi em là Việt gian nữa anh hí!
Người chỉ huy qua máy điện đàm giữa chiến trường bom rơi đạn nổ ác liệt đã không còn nghe bất cứ âm thanh đáng sợ nào sau lời nói thều thào hồn nhiên như một hơi thở của Mừng. Câu nói đó biến thành nỗi đau suốt đời người chỉ huy. Câu nói kết thúc cuộc đời hồn nhiên của em đã khiến biết bao độc giả buốt nhói tận tâm can. Và trở thành lời nói trẻ thơ tố cáo chiến tranh mãnh liệt nhất.
Cũng rất ngây thơ, Bruno và Shmuel trong Cậu bé mang pyjama sọc lại đến với cái chết một cách nhẹ nhàng chứ không dữ dội như Mừng:
“Chúng bắt mọi người đi diễu hành […] Tớ chưa bao giờ gặp lại ai sau khi họ đi diễu hành.” […] Nhưng ngay khi cậu nói vậy, đôi chân đã đưa cậu lên một bậc tam cấp và khi bước tiếp cậu nhận ra rằng không còn mưa rơi xuống nữa. Tất cả bọn họ đã bị nhét vào một căn phòng dài ấm áp đến kinh ngạc và hẳn được xây hết sức an toàn… “Ồ, phải thế chứ… Tớ hy vọng chúng ta sẽ được ở đây cho tới khi mưa tạnh hẳn…”10
Căn phòng hơi ngạt nổi tiếng của phát xít Đức đã kết thúc cuộc đời những đứa trẻ ngây thơ khi chúng “yên tâm” bởi sự “ấm áp” và “an toàn” của nó. Bruno và Shmuel không bao giờ biết rằng cái chết lại đến nhẹ nhàng như vậy. “Rồi sau đó căn phòng trở nên rất tối và không hiểu vì sao, bất chấp những lộn xộn diễn ra sau đó, Bruno nhận ra rằng mình vẫn đang cầm tay Shmuel và không gì trên đời có thể thuyết phục cậu rời bàn tay đó ra.”11 Trong nhận thức của một đứa trẻ, được ở nơi ấm áp như vậy và cầm mãi bàn tay của bạn mình hẳn là một niềm hạnh phúc.
Chỉ có độc giả - người lớn chúng ta đau đớn đến nghẹt thở bởi sự hồn nhiên ấy.
Lời kết
Người viết mượn lời bài thơ của nhà thơ Lưu Quang Vũ để tiếp tục liên văn bản - tiếp tục cho thấy sự đồng vọng yêu thương của các tác giả dành cho trẻ em trong chiến tranh:
Nỗi đau nhịp cầu gãy đổ
Nỗi đau nhà tan gạch vỡ
Nhưng da diết nhất nỗi buồn
Mọi khu nhà đều vắng bặt trẻ con
Chỉ còn người lớn tinh khôn
Chỉ còn tiếng gầm tiếng nổ
Mái nhà ta trẻ con không dám ở
Các em ơi hãy tha thứ cho anh
Những con quay, những hòn bi bé nhỏ
Hãy tha thứ, anh xin làm tất cả
Để các em trở về
Để cuộc sống như bức tường tin cậy chở che Các em vẽ những vòng tròn rực rỡ.
Dù có ở đâu, thời gian nào, con người vẫn luôn ghê sợ chiến tranh. Bức tranh tang thương chiến tranh gây ra càng đáng bị lên án bởi có trẻ em trong đó. Cùng họa lên bức tranh chung, mỗi tác giả góp một đường nét riêng. Và mỗi nét vẽ đều mang một lời yêu thương, lời cảm thông sâu sắc cho các em tuổi nhỏ. Tính liên văn bản đã làm nên lời đồng vọng yêu thương cho trẻ em trong chiến tranh.
H.N
(TCSH416/10-2023)
-------------------------------
1 Nguyễn Văn Thuấn, Giáo trình Lý thuyết liên văn bản, Nxb. Đại học Huế, năm 2019, trang 292.
2 Phùng Quán, Tuổi thơ dữ dội, Nxb. Văn học, năm 2013, trang 71, 72.
3 Sara Pennypacker, Cáo Pax, Nxb. Hội Nhà văn, năm 2021, trang 12, 13.
4 Sara Pennypacker, Cáo Pax, Sđd, trang 23.
5 Sara Pennypacker, Cáo Pax, Sđd, trang 121, 122.
6 John Boyne, Chú bé mang pyjama sọc, Nxb. Hội Nhà văn, năm 2020, trang 153, 154, 155, 156.
7 John Boyne, Chú bé mang pyjama sọc, Sđd, trang 228, 229.
8 John Boyne, Chú bé mang pyjama sọc, Sđd, trang 228, 231, 232, 233.
9 Phùng Quán, Tuổi thơ dữ dội, Sđd, trang 675, 683, 684.
10 John Boyne, Chú bé mang pyjama sọc, Sđd, trang 245, 247.
11 John Boyne, Chú bé mang pyjama sọc, Sđd, trang 249.
Tải mã QRCode
NGUYỄN HỮU LỄ
...Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ (1914 - 1987), quê ở xã Văn Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế trong một gia đình hoàng tộc. Bằng con đường tự học, Tôn Thất Dương Kỵ đã trở thành một nhà nghiên cứu lịch sử, một nhà giáo, đồng thời là một trí thức yêu nước, một chiến sĩ cách mạng…
TRẦN ĐÌNH SỬ - LÃ NGUYÊN
(Nhân bài báo của Ngô Tự Lập Đọc sách “Lột mặt nạ Bakhtin - câu chuyện về một kẻ lừa dối, một chuyện bịp bơm và một cơn mê sảng tập thể” của Jean - Paul Bronckart và Cristian Bota (Thụy Sĩ, 2011, 630 trang))
DƯƠNG PHƯỚC THU (Sưu tầm, giới thiệu)
LGT: Đã từng có một cuộc xướng họa thơ trên báo với số lượng người tham gia đông kỷ lục; 1324 lượt tác giả với 1699 bài họa. Dưới đây, Sông Hương xin giới thiệu lại Vườn thơ đoàn kết do Báo Cứu Quốc - nay là Báo Đại Đoàn Kết tổ chức xướng họa thơ cách đây đã 43 năm.
LTS: Có một chuyện ít người biết là các nhà văn Tô Hoài, Xuân Diệu, Huy Cận không nhớ ngày sinh của mình. Xuân Diệu, con nhà Nho, thì biết mình sinh giờ Thìn, ngày Thìn, tháng Thìn, năm Thìn, nhưng không biết dương lịch ngày nào. Nhà văn Tô Hoài cũng vậy, nhưng nhớ Bà Cụ cho biết sinh ông đêm rằm Trung Thu. Sau này, sang Nga, bạn người Nga hỏi, mới tra ra ngày Tây là 27-9-1920.
LÊ DỤC TÚ
“Chủ nghĩa nhân văn tôn giáo cũng là một nguồn cảm hứng của văn nghệ, đồng cảm với con người nhân đạo trong văn chương”...
MAI VĂN HOAN
Ngôn ngữ nói chung và chữ tôi nói riêng, khi bước vào tác phẩm văn học cũng có số phận thăng trầm liên quan mật thiết đến những thăng trầm của lịch sử nước nhà. Tìm hiểu chữ tôi trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam là một đề tài khá lý thú. Ở bài viết này, tôi chỉ đi sâu khảo sát chữ tôi được thiên tài Nguyễn Du sử dụng trong tác phẩm Truyện Kiều.
NGÔ MINH
Bản lĩnh văn hóa là cuốn sách gồm các bài báo và tiểu luận của nhà văn Tô Nhuận Vỹ do Nxb. Tri thức ấn hành năm 2014. Tôi đọc một mạch với sự xúc động và hứng khởi.
PHẠM PHÚ UYÊN CHÂU
Có tài mà cậy chi tài (Nguyễn Du)
LÝ HOÀI THU
Thôn ca (1944) của Đoàn Văn Cừ là bức tranh thơ sống động về con người và cảnh vật của không gian văn hóa Sơn Nam - Bắc Bộ.
NGUYỄN ĐỨC DƯƠNG
Độc giả trẻ thời nay không ít người sẽ hết sức ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng Truyện Kiều, thiên tiểu thuyết bằng thơ dài tới 3.254 câu với cả thảy 22.778 lượt dùng từ, nhưng lại chẳng hề có qua một chữ NẾU nào, tuy rằng nghĩa “ĐIỀU KIỆN” và/hay “GIẢ ĐỊNH”, vốn được diễn đạt bằng NẾU (hoặc các biểu thức ngôn từ tương đương) trong tiếng Việt đương đại là một trong những nghĩa phổ quát (tức mọi thứ tiếng đều có) và ít thấy một thứ tiếng nào lại vắng các phương tiện riêng để biểu thị.
ĐINH VĂN TUẤN
Trong số mấy bài thơ chữ Nôm còn lại của Bà Huyện Thanh Quan, bài thơ “Qua Đèo Ngang” là bài thơ gần đây được tranh luận nhiều nhất về chữ nghĩa, đặc biệt là về từ ngữ “cái gia gia”(1).
KHẾ IÊM
Tựa đề về cái chết của hậu hiện đại không có gì mới vì đã có khá nhiều bài viết bàn về vấn đề này, từ những đầu thập niên 1990. Nhưng bài viết đã phác họa cho chúng ta thấy đời sống văn hóa trong thời đại sau chủ nghĩa hậu hiện đại với sự xuất hiện những phương tiện công nghệ mới. Lạc quan hay bi quan, chúng ta chưa biết, nhưng rõ ràng những hệ tư tưởng cũ đang dần dần bị tàn phai nơi những thế hệ mới.
ALAN KIRBY
LTS: Alan Kirby nói chủ nghĩa hậu hiện đại đã chết và đã được chôn. Tới thế chỗ của nó là một hệ hình mới của thẩm quyền và kiến thức được hình thành dưới áp lực của những công nghệ mới và các lực lượng xã hội đương đại. Tựa đề bài tiểu luận, lần đầu tiên xuất hiện trên tạp chí Philosophy Now (Triết học Bây giờ) ở Anh, số 58, năm 2006, và sau đó được in trong cuốn “Digimodernism: How New Technologies Dismantle the Postmodern and Reconfigure Our Culture”, được Continuum xuất bản vào năm 2009.
LÊ QUỐC HIẾU
Trong các bộ phận của khoa nghiên cứu văn học Việt Nam hiện nay, không thể phủ nhận lý luận, phê bình là lĩnh vực có nhiều thay đổi rõ rệt. Một loạt những công trình nghiên cứu lịch sử lí luận, phê bình văn học “trình làng” trong những năm qua[1], đủ để nhận thấy tham vọng khái quát, đánh giá của các nhà nghiên cứu sau mỗi chặng đường phát triển của văn học.
THÁI KIM LAN
I.
Bài viết này được mở đầu bằng một trải nghiệm tự thân, từ chỗ đứng của chủ thể thực hành nói ra kinh nghiệm của mình, vì thế có thể gây ấn tượng về tính chủ quan. Sự trách cứ ấy xin nhận lãnh trước, nhưng xin được tạm thời để trong dấu ngoặc.
LUÂN NGUYỄN
Nhất đình sơn vũ luyện hoa khai
(Mộ xuân tức sự - Nguyễn Trãi)
NGUYỄN KHẮC PHÊ
(Trích tham luận tại Hội thảo "Văn học trước yêu cầu đổi mới" tháng 12-1987)
BỬU CHỈ
Đã từ lâu tôi vẫn nghĩ và tin rằng: quê hương của nghệ thuật là Tự Do, và nghệ thuật đích thực phải thoát thai từ những con người sáng tạo có đầy đủ quyền làm người, cùng tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội của họ; và lớn hơn nữa là đối với con người.
LÊ QUANG THÁI
Năm Quý Tỵ đã trôi qua, Xuân Giáp Ngọ đã về:
Rắn trườn đã hết năm,/ Ngựa hay đưa Xuân về.(1)
ĐỖ LAI THÚY
Kìa ai chín suối xương không nát
Ắt hẳn nghìn thu tiếng vẫn còn
(Nguyễn Khuyến)