PHAN TRỌNG HOÀNG LINH
Chân trời là giới hạn của tầm mắt, dẫn đến ảo tượng về sự giao nối giữa trời và đất. Do vậy, chân trời vừa hữu hạn, vừa vô hạn.
Lấy câu ngạn ngữ Do Thái: “Hạnh phúc cho ai nhìn thấy những chân trời” làm lời đề từ cho tập tiểu luận phê bình văn học vừa ra mắt cuối năm 2018 với nhan đề Những chân trời xanh thẳm (Nxb. Hội Nhà văn, 2018), dường như, nhà nghiên cứu Phạm Phú Phong đồng thời lập ngôn cho sứ mệnh của phê bình văn học theo quan niệm của ông: tìm thấy chân trời của những chủ thể đã sáng tạo nên giá trị văn chương, cũng là người góp phần mở rộng và đẩy xa đến vô tận những chân trời văn hóa.
Cuốn sách là hợp tuyển những tiểu luận được viết trong khoảng 10 năm trở lại đây về các tác giả có liên quan đến đời sống văn học, chủ yếu trên lĩnh vực sáng tác, như Phan Khôi, Hải Triều, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Hiến Lê, Bình Nguyên Lộc, Vĩnh Mai, Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Văn Bổng, Võ Hồng, Đào Xuân Quý, Sơn Nam, Nguyễn Minh Châu, Phan Tứ, Nguyên Ngọc, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ, Lê Văn Ngăn, Thanh Quế, Thái Bá Lợi và Lưu Quang Vũ.
Với khí chất hào sảng, Phạm Phú Phong là người giao tế rộng rãi, luôn chú tâm tìm hiểu hầu như mọi sự kiện và con người văn học quanh ông. Vì thế, không lạ khi trong số 20 tác giả được ông chắp bút, có đến 16 tác giả sinh ra, trưởng thành và hoạt động mật thiết trên địa hạt miền Trung. Ông thường viết rất hay về những tác giả mà ông thật sự gắn bó, không chỉ trên tác phẩm mà còn trong những sự kiện cuộc đời. Bởi lẽ, phê bình văn học của ông là loại phê bình kết hợp vẽ chân dung. Mọi khía cạnh được mất của văn nhân sóng đôi với hành trạng tiểu sử. Trang viết đầy ắp tư liệu, đọc cũng hấp dẫn như thuở được nghe ông giảng trên lớp, hay được nghe kể những lúc hầu ông cuộc rượu. Nhưng đặc sắc trong số đó không phải tư liệu sách vở, mà là thứ tư liệu do chính ông trải nghiệm qua những đoạn sống với văn học cùng thời. Người viết hiếm khi tập trung vào một tác phẩm cụ thể mà luôn hướng đến khái quát mang tính quá trình. Vậy nên, đến cuối, mỗi tiểu luận thành công của ông không chỉ thấu thị một văn nghiệp mà còn khắc đạt một nhân hình. Tôi đã cảm thấy thú vị khi nhận thấy quả thực ông rất mê phác thảo chân dung. Đôi chỗ, ông thậm chí dành riêng đến nửa trang giấy cho những đoạn trữ tình ngoại đề, tựa như: “Sơn Nam là “nhà văn đi chân đất” theo đúng nghĩa của từ này. Với dáng người thấp nhỏ như núi của phương Nam nhưng rắn rỏi, gân guốc. Gương mặt ông khắc khổ, hun hút như được chạm khắc bởi nỗi niềm tù túng của lịch sử có nét hao hao gương mặt của tượng đá Phù Nam. Đôi mắt ông vừa xuyên suốt, vừa u u minh minh, vừa sáng quắc lại vừa lờ đờ, hệt như đôi mắt của quá khứ, nhưng nụ cười hiền lành luôn gắn ở trên môi và đong đầy trong mắt. Ông cứ thế mà đi bộ hơn bảy mươi năm trên những làng quê, những vỉa hè quanh co mỗi sáng cho đến tối mịt mỗi ngày, và, ông thong thả đi vào đáy sâu hun hút của lòng người, đi vào tòa lâu đài lộng lẫy của văn chương, bằng chính hơi thở ấm áp và giọng điệu tự nhiên như tiếng vọng từ trái tim mình” (tr.202 - 203). Đây cũng là những đoạn phát tiết hai phẩm chất nổi bật nhất của ngòi bút phê bình: tài hoa và tràn đầy cảm xúc.
Tôi nhận ra điểm thú vị nữa: Phạm Phú Phong vốn là người rất mực tài hoa trong đặt tiêu đề bài viết, nên với khẩu vị của tôi, bài nào của ông phát lộ được tiêu chí này, đó thường là bài viết hay: “Vĩnh Mai - con chim Phượng Hoàng đã bay qua hòn núi bạc”, “Võ Hồng - người đi đến cuối chân trời không biết mỏi”, “Đào Xuân Quý - người đưa thơ đi hóng gió sông Hồng”, “Nguyễn Minh Châu bên chân trời vỏ đạn”, “Có một đất nước của Trần Vàng Sao”, “Tô Nhuận Vỹ - có một chân trời phía ấy”, “Lê Văn Ngăn - thơ như chiếc bóng cuối chân trời”, “Thanh Quế - người đi vé đứng trên chuyến tàu văn xuôi”,… Hay, tất nhiên không chỉ ở tiêu đề, mà quan trọng còn ở những phát hiện độc sáng. Chẳng hạn, về truyện của Thanh Quế, ông cho rằng tác giả này “có biệt tài tạo nên độ sâu của suy ngẫm, sự lắng đọng của cảm xúc. Bởi lẽ, trước khi đến với văn xuôi, ông là nhà thơ. Truyện của ông là truyện của một nhà thơ. Chất thơ bàng bạc trong các truyện, từ cách chọn lựa đề tài, chủ đề đến kết cấu, diễn biến truyện và tính cách nhân vật” (tr.324). Về thơ của Đào Xuân Quý, ông nhận xét: “Điểm mạnh và là cái riêng của ông là gài cảm xúc lên từng câu thơ rải đều, đọc toàn bài mới thấy được những tình cảm trọn vẹn” (tr.173). Những trang viết giàu cảm xúc nhất của ông, và hay nhất với tôi, là những trang về các nhà văn, nhà thơ từng tham gia phong trào sinh viên tranh đấu ở các đô thị miền Nam trước 1975. Phạm Phú Phong là tuýp người hoài niệm, có trí nhớ phi thường mọi thứ thuộc về quá khứ. Hiếm ai nhớ nằm lòng mộ của danh nhân và năng lui tới mộ của người thân, của những người mình từng quen biết như ông. Ghét ai thì xúc đổ đi, nhưng đi được với ai đến tận cuối đời thì người ấy với ông mãi không khuất bóng. Ông luôn nặng lòng với những người anh, người bạn cùng chung một thời tranh đấu, nhưng vì cá tính hoặc vì số phận mà đường đời đứt gãy. Sức hấp dẫn trong trang viết của ông ở đó, và nỗi buồn phảng phất suốt đời ông cũng ở đó.
Trong tiểu luận về Phan Khôi, khi liệt kê những thứ làm nên khí chất “nhà văn xứ Quảng”, Phạm Phú Phong đặc biệt chú ý phẩm tính “Quảng Nam hay cãi”. Chưa thấy ông tranh cãi kịch liệt với ai bao giờ, nhưng sự thẳng thắn và kiên định trong chính kiến học thuật của ông là không thể phủ nhận, cả khi khen lẫn lúc chê. Chiếu theo câu danh ngôn của R. Gamzatov mà ông vẫn yêu thích: “Chỉ có thể tách con người ra khỏi quê hương, chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người”, thì đó phải chăng cũng là một nét cá tính mạnh của người đàn ông xứ Quảng. Dành rất nhiều cảm tình cho nhân cách và sáng tác của Tô Nhuận Vỹ, nhưng ông cũng thẳng thắn chỉ ra: “Điều đáng ghi nhận về bước chuyển trên chặng đường sáng tác của Tô Nhuận Vỹ lại là nhược điểm về thể loại, thể hiện rõ trong hai truyện ngắn Bạn bè tôi và Làng thức. Đó là sự kéo dài, tản mạn nhồi nhét một dung lượng hiện thực không phù hợp và thiếu chọn lựa, kết cấu truyện không chặt chẽ, cho thấy nhu cầu bức thiết phải đổi thay; là dấu hiệu/ gạch nối chuyển từ truyện ngắn sang tiểu thuyết” (tr.286). Soi sáng hạn chế của tác phẩm từ góc độ thể loại để khẳng định một nhu cầu dịch chuyển bút pháp ở cấp độ vĩ mô và chứng minh thuyết phục thông qua thành tựu của những thể nghiệm sáng tạo về sau của chính tác giả, nhà phê bình đã khiến luận điểm phê bình trở nên dễ chịu và có ý nghĩa xây dựng hơn rất nhiều. Đàn ông Quảng Nam còn hay nói ngược. Có một danh nhân văn hóa đang bị đám đông chụp mũ, vùi dập đủ đường, Phạm Phú Phong lại viết cả tiểu luận gần 30 trang để xác quyết vị ấy là nhà văn [hóa] yêu nước. Khắp nơi từ kỷ yếu hội thảo đến tạp chí văn hóa văn nghệ không nơi nào dám đăng, ông cười nửa miệng lấp ló cái răng sún mà rằng: “Thì tui đăng vô sách của tui!” Nói ngược, mà có lý. Trong tiểu luận ấy, tôi tâm đắc với nhà phê bình về phát hiện mang tên “thi pháp bút danh”: “Người cầm bút chân chính, luôn tự hào về tên tuổi của mình. Phải từ bỏ bút danh từng nổi tiếng của mình để chọn một bút danh mới cũng là hành động yêu nước và văn hóa chọn bút danh cũng là văn hóa yêu nước” (tr. 271). Gần đây, nhiều người có xu thế phủ nhận giá trị nghệ thuật của văn chương cách mạng, Phạm Phú Phong không hoàn toàn phản đối, nhưng ông lưu ý: “Đừng ai có ảo tưởng rằng có thể nói thay cho mọi thời. Mỗi thời đại có một cách biểu tỏ riêng và sản sinh ra một kiểu nhà thơ riêng của thời đại mình” (tr.100). Một giá trị văn hóa chỉ có thể xác định dựa trên đặc trưng của một thời đại văn hóa.
Trong cuốn sách này, số bài về nhà văn nhiều hơn số bài về nhà thơ. Phạm Phú Phong không bao giờ ngâm thơ. Nghe đồn, ông còn viết tiểu thuyết mà không công bố. Ông cũng hay chọc giỡn thơ của người bạn đồng nghiệp thân thiết. Nhưng không biết ông có phiền lòng khi tôi nói điều này, ông viết về thơ hay hơn viết về văn xuôi. Không ngâm thơ, có lẽ, với ông, thơ là để ngẫm, trong thế giới tinh thần.
Ông bảo với lũ trẻ chúng tôi, đây là cuốn sách cuối cùng. Tôi không tin. Sức khỏe phục hồi tốt, ông vẫn đang “chiến đấu” miệt mài. Nhà phê bình Phạm Phú Phong sẽ tiếp tục tìm thấy hạnh phúc nơi những chân trời xanh thẳm.
P.T.H.L
(SHSDB32/03-2019)
Tải mã QRCode
TRẦN THANH HÀLGT: Có thể nói rằng, “Tiểu thuyết và tiểu luận về tiểu thuyết của Milan Kundera được xem như là một trong những hiện tượng độc đáo đáng được chú ý trong văn học Châu Âu hiện đại”. Mỗi cuốn tiểu thuyết cô đọng của nhà văn, mang lại cho độc giả một cái nhìn độc đáo về thế giới hiện đại và vị trí con người trong đó, một thứ triết học riêng về cuộc sống và mối quan hệ liên cá nhân, “các chủ đề sắc sảo và các tính cách con người sinh động được kết hợp với những suy tư về các đề tài triết học và hiện sinh mang tính toàn cầu”.
HOÀNG VĂN Đọc Hoang thai ta có thể hình dung ra xã hội Ba Lan đương đại và những vấn đề nẩy sinh trong xã hội này.
NGUYỄN KHẮC PHÊGặp nhà văn - dịch giả Đoàn Tử Huyến - một người “chơi” sách có hạng ở đất Hà Thành - tại nhà sách lớn của Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây mới khai trương trên khu Cầu Giấy, trước ngày hội thảo về tiểu thuyết “Mẫu Thượng ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh, tôi hỏi: “Có đúng là ông đã nói trên một tờ báo rằng “Một tác phẩm kiệt xuất như “Nghệ nhân và Margarita” (NNVM) mà chưa có một nhà phê bình Việt Nam nào sờ đến cả! “Đúng vậy không?” Đoàn Tử Huyến cười nhăn cả mũi: “Thì đúng vậy chứ sao!”
HOÀNG VŨ THUẬT(Đọc Hoạ mi năm ngoái - Thơ Trần Kim Hoa, NXB Văn học, 2006)
LTS: Sông Hương vừa nhận được lá thư của ông Tế Lợi Nguyễn Văn Cừ gửi cho nhà nghiên cứu Phan Thuận An nhằm cung cấp lại bản gốc của bài thơ “Cầu ngói”. Xin nói thêm, ông Nguyễn Văn Cừ là con của ông Nguyễn Văn Lệ, tác giả bài thơ.Sông Hương xin đăng lá thư này để hầu mong rộng đường trao đổi.
HOÀNG VŨ THUẬT(Đọc Ngày không ngờ - thơ Nguyễn Bình An, NXB Thuận Hóa 2007)
VĨNH NGUYÊN(Nhân xem tập thơ Nhật thực của Nhất Lâm, Nxb Thanh Niên, 2008)
NGÔ MINHLTS: Ngày 13-2-2007, Bộ Văn hoá Thông tin đã công bố quyết định của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam về việc tặng giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ được là 1 trong 47 nhà văn được giải thưởng nhà nước với chùm tác phẩm: Đề tặng một giấc mơ (tập thơ 1988), Trái tim sinh nở ( tập thơ - 1974), Bài thơ không năm tháng (tập thơ - 1983). Nhân dịp ngày Quốc tế phụ nữ 8-3, TCSH xin giới thiệu bài viết của nhà thơ Ngô Minh về nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ.
BÙI VIỆT THẮNGVịt trời lông tía bay về (*) là sự lựa chọn có thể nói rất khắt khe của chính nhà văn Hồng Nhu, rút từ cả chục tập và chưng cất ba mươi truyện ngắn tiêu biểu của gần trọn một đời văn. Con số 33 là ít những không là ít vì nhà văn ý thức được sâu sắc quy luật nghiệt ngã của nghệ thuật ngôn từ “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. 33 truyện được chọn lọc trong tập sách này có thể gọi là “tinh tuyển truyện ngắn Hồng Nhu”.
PHẠM PHÚ PHONGPhạm Đương có thơ đăng báo từ khi còn là sinh viên khoá bốn, khoa Ngữ văn đại học Tổng hợp Huế. Đó là thời kỳ anh sinh hoạt trong câu lạc bộ văn học của thành đoàn Huế, dưới sự đỡ đầu của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm (lúc này vừa rời ghế Bí thư thành đoàn, sang làm Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương vừa mới thành lập.)
HÀ KHÁNH LINHNgười lính chiến trở về bỏ lại một phần thân thể của mình trên trận mạc, tựa vào gốc nhãn hoang bên vỉa hè lầm lụi kiếm sống, thẳng ngay, chân thật, khiêm nhường.
PHẠM XUÂN NGUYÊNTrong Ngày Thơ Việt vừa qua, một tuyển tập thơ “nặng hàng trăm năm” đã được đặt trang trọng tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội. Rất nhiều những bài thơ xứng đáng với danh xưng hay nhất thế kỷ XX đã “biện lý do” vắng mặt, và ngược lại. Đấy là một trong nhiều sự thật được đa phần dư luận kiểm chứng. Cũng là một góc nhìn khá rõ nét, Sông Hương xin giới thiệu ba bài viết của Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Hữu Qúy và Phước Giang về tuyển tập thơ “nặng ký” trên.
NGUYỄN HỮU QUÝCuộc thi bình chọn 100 bài thơ hay nhất Việt Nam thế kỷ XX do Trung tâm Văn hoá doanh nhân và Nhà xuất bản Giáo Dục phối hợp tổ chức đã kết thúc. Một ấn phẩm mang tên “100 bài thơ hay nhất Việt thế kỷ XX” đã được ra đời. Nhiều người tìm đọc, trong đó có các nhà thơ và không ít người đã tỏ ra thất vọng, nghi ngờ.
PHƯỚC GIANGTrung tâm Văn hóa doanh nhân và Nhà xuất bản Giáo dục vừa tuyển chọn và giới thiệu 100 bài thơ hay nhất thế kỷ XX.Việc này thực hiện trong hai năm, theo ông Lê Lựu, Giám đốc Trung tâm Văn hóa doanh nhân thì kết quả thật mỹ mãn: hơn 10.000 phiếu bầu, kết quả cuối cùng “không ai bị bỏ sót” và “trong 100 bài đã được chọn chỉ chênh với các danh sách khác khoảng 5-7 bài”.
NHỤY NGUYÊN
Truyện ngắn của Nguyên Quân trong Vòng tay tượng trắng (Nxb. Văn Học, 2006) khá mộc mạc ở cả đề tài và lối viết, nhưng cũng nhờ cái mộc mạc đó đã hút được nguồn nguồn mạch sống.
QUÁCH GIAOMùa Xuân Đinh Hợi đến với tôi thật lặng lẽ. Cây Thiết Mộc Lan nơi đầu ngõ năm nay ra hoa muộn song lại tàn trước Tết. Hoa trong sân nhà chỉ lưa thưa vài nụ Bát Tiên. Hai chậu mai không buồn đâm hoa trổ nụ. Đành thưởng xuân bằng thơ văn của bằng hữu.
NHỤY NGUYÊN
(Đọc Ngày rất dài - Thơ Đoàn Mạnh Phương, Nxb Hội Nhà văn, 2007)
TRẦN THÙY MAI(Đọc Đức Phật, nàng Savitri và tôi, tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2007)
NGUYỄN KHẮC PHÊ(Nhân đọc “Nhà văn Việt Nam hiện đại” - Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản, 5-2007)Trong dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957-2007), Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (HNVVN) đã xuất bản công trình quan trọng “Nhà văn Việt Nam hiện đại” (NVVNHĐ), dày 1200 trang khổ lớn, tập hợp chân dung trên một ngàn nhà văn các thế hệ, từ các cụ Ngô Tất Tố, Phan Khôi… cho đến lớp nhà văn vừa được kết nạp cuối năm 2006 như Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Vĩnh Tiến, Phan Huyền Thư…
BÍCH THU(Đọc Tô Hoài - Đời văn và tác phẩm của Hà Minh Đức, Nxb Văn học, 2007)Tô Hoài - Đời văn và tác phẩm của Hà Minh Đức là cuốn sách tập hợp những ghi chép và nghiên cứu về nhà văn Tô Hoài, một tác gia lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Đây là cuốn sách đầu tiên kết hợp hai phương diện ghi chép và nghiên cứu, góp một cách tiếp cận đa chiều và cập nhật về con người và sự nghiệp của nhà văn.