LÊ THỊ HƯỜNG
Khi WHO công nhận đồng tính không phải là bệnh lí tâm thần1 và khi quan niệm đa giới tính đã công khai đối thoại với xã hội thì văn chương không thể đứng ngoài.
Ảnh: tư liệu
Trong văn học Việt Nam, đề tài đồng tính không còn xa lạ và đã thuận chiều trong tầm đón nhận của người đọc. Tuy vậy, phần lớn những tác phẩm viết về đồng tính là của các nhà văn nam và chủ yếu viết về gay. Đồng tính nữ (lesbian) vẫn còn là mảng trống, chưa lan tỏa. Khi nữ viết về đồng giới nữ, họ đã tạo một vệt khác trong văn chương.
Les - một thế giới khác, không lệch lạc
Khi tình yêu đồng giới bắt đầu từ vùng ngoại biên đi vào trung tâm của văn học Việt Nam, một số nhà văn nam hào hứng khai thác miền đất lạ với lối viết dữ dội, thiên về nhục thể (Một thế giới không có đàn bà, Song song, Nháp,...). Nhìn lại, lối viết ấy đã thành của một thời. Từ góc nhìn văn hóa xã hội, đồng tính, đặc biệt là đồng tính nữ không còn là “lệch lạc”. Với lối viết của nữ giới, có lẽ khái niệm “lệch pha” (queer) và cái nhìn theo “thuyết lệch pha” (queer theory) ít còn phù hợp. Trong văn hóa đa giới tính, họ là một cặp tự do, không phải giấu mình trong bóng tối hoặc “bất thường” trong cái nhìn của xã hội.
So với nam giới, vì nhiều lí do, phụ nữ viết về đồng tính không nhiều. Trong văn học miền Nam (1955 - 1975), Nguyễn Thị Thụy Vũ là một trong những nhà văn nữ đầu tiên đề cập đồng tính nam, với những cảm xúc bi thương. Mặc cảm khiếm khuyết khiến nhân vật tiểu thuyết của Nguyễn Thị Thụy Vũ co mình lại, tự kiềm chế, sợ hãi “căn bệnh” của mình. Chuyên (chàng trai á nam á nữ và thiên về nữ) vừa thương cho “sự tật nguyền bất hạnh”, “cái thân xác tội nghiệp của mình”, vừa soi ngắm mình như “một con quái vật đáng kinh tởm”. Dẫu chưa đi sâu vào khám phá những trạng thái đa phức của những con người bị cho là “lệch lạc” nhưng Nguyễn Thị Thụy Vũ đã sớm đặt ra câu hỏi nhức nhối vẫn còn bỏ trống, “ngày mà Chiêu ý thức được cái thân xác của nó đang đứng chàng ràng giữa hai cánh cửa nam, nữ trong các cầu tiêu của rạp hát, tiệm ăn, nó sẽ chọn cánh cửa nào? Chắc chắn người ta không hề nghĩ đến gian phòng vệ sinh dành cho loại người lưng chừng vì một chút lơ đãng lười biếng của mười hai Mụ Bà” (Khung rêu - Nguyễn Thị Thụy Vũ).
Cùng với sự thay đổi trong quan niệm về tính dục, về queer, văn chương viết về đồng tính nữ đa dạng hơn với những thông điệp nhân bản về sự đồng cảm và thấu hiểu. Một số cây bút nữ công khai ngay từ nhan đề truyện (Tôi là les - Keng). Nhân vật của Keng là những cô gái vừa mềm yếu vừa bản lĩnh. Họ sống trong những miền cảm xúc đối nghịch, khao khát và tỉnh táo, mong manh và mạnh mẽ, và luôn tự nhìn nhận, phân tích những cảm xúc của chính mình: “Có thể tôi là Les ngay từ lúc mới sinh, có thể tôi chỉ là Les theo trào lưu một cách nông nổi, hoặc có thể Les là một sự may mắn giúp tôi tháo gỡ bế tắc sợi dây sinh học của đời mình” (Tôi là les). Một số nhà văn khác chạm bút vào miền “kiêng kị” với những câu chuyện nhẹ nhàng, thoáng qua những cảm xúc vu vơ (truyện ngắn Tình thầm - Nguyễn Ngọc Tư, tiểu thuyết 1981 - Nguyễn Quỳnh Trang). Càng về sau đề tài này được viết một cách tự nhiên, hoặc là chủ đề chính của tác phẩm hoặc đan xen vào mạch truyện (Bầy thú bông của Quỳnh - Trần Thùy Mai, Đàn bà hư ảo - Nguyễn Khắc Ngân Vy, Sậy - Thuận, v.v). Các nhà văn nữ đã khai thác miền sâu của những cái tôi phụ nữ nhiều khao khát, kìm nén và bung phá.
Trần Thùy Mai là một trong những nhà văn sớm đặt bút ở mảng đồng tính nữ. Những trang viết về les của Trần Thùy Mai thường gợi cảm giác mỏng manh, dễ vỡ, tình cảm ngỡ như thoáng nhẹ nhưng day dứt, bâng khuâng. Năm 2005, Bầy thú bông của Quỳnh (trong tập truyện ngắn Mưa đời sau) điểm một nét tươi mới trên mảng truyện về đồng tính nói chung. Lần đầu tiên, những tình cảm, cảm xúc cùng giới nữ được đề cập một cách quyết liệt với lối viết nhẹ nhàng, lãng mạn theo phong cách Trần Thùy Mai. Nhân vật của Trần Thùy Mai bị chối bỏ, bị gạt ra khỏi các mối quan hệ xã hội, kể cả gia đình. “Ông anh lật trong sổ tay, lôi ra một tấm hình chụp nhiều người, trong đó có một cô gái cao, gầy, dài ngoằng, với đôi mắt to đen. Trên khuôn mặt cô gái, có ai dùng bút bi đỏ gạch một dấu chéo thật to, như đánh dấu tội phạm”. Chấp nhận tình yêu khác giới, Quỳnh muốn quên đi quá khứ và chối bỏ con người thật của chính mình. Cô tâm sự: “Đâu phải chỉ có hai đứa sống trên đời. Dư luận. Gia đình. Tương lai, nghề nghiệp... Em đã tính đương đầu, nhưng rồi đuối sức”. Để chống lại một hệ thống quyền lực vô hình trong đó có dư luận xã hội, Quỳnh chỉ biết trốn chạy. Quỳnh “cần một không gian rộng hơn để sắp đặt thứ hạnh phúc ngoại khổ của nàng”. Quỳnh lên tận miền cao nhưng mỗi sinh nhật cô vẫn nhận được đều đặn những chú gấu bông ngơ ngác buồn. Cô không mặc cảm, cũng không thể chạy trốn chính mình. Sau những giây phút cố quên, họ lại tìm đến nhau với bầy thú bông có ánh nhìn khắc khoải. Còn lại là niềm tin về hạnh phúc - “Mơ hồ, tôi nghĩ đến Quỳnh, đến Minh, đến những con thú bông với đôi mắt khắc khoải câm lặng. Có tiếng gọi nào trong ánh mắt ấy, tôi không rõ, một tiếng gọi tha thiết và nung nấu từ trong bản thể đã khiến họ chấp nhận bước lên con đường đầy bất an và đau đớn. Và tôi, dù không hiểu hết điều bí ẩn, cũng chẳng bao giờ đủ nhẫn tâm làm họ đau đớn thêm.” (Bầy thú bông của Quỳnh).
Một số tác giả nữ sớm viết về vấn đề chuyển giới với những con người muốn khẳng định bản thể và phải chịu đựng cái nhìn khắc nghiệt của tha nhân. Là Nghi chối bỏ chính mình khi “vật vã muốn cắt phăng, nghiền nát vật biểu trưng cho giới tính của mình” (tiểu thuyết 1981 - Nguyễn Quỳnh Trang). Là “cậu” với “những cuộc phẫu thuật lớn nhỏ, những đẽo gọt, điêu khắc lại một hình hài.” (Truyện ngắn Từ bỏ - Nguyễn Ngọc Tư). Nguyễn Ngọc Tư là tác giả sớm viết về vấn đề chuyển giới tính nữ, một lĩnh vực liên quan đến đồng giới. Nhà văn vùng sông nước Cà Mau vẫn giữ một giọng tỉnh khô mà đau đến lặng khi viết về những con người lạc lõng, lẻ loi từ mắt nhìn của xã hội. Từ bỏ là câu chuyện về chuyển giới tính nữ của một chàng trai (“người đàn bà mảnh khảnh, là nhân vật chính đắng cay trong những câu chuyện thường ngày của ông ngoại”). Nhân vật từ bỏ những gì thuộc về nam tính nhưng những khơi gợi quá khứ của người cha đã khiến “cậu” chìm trong cõi riêng đau đớn, “mầy có thành tiên thành quái, thì cũng không chối được đã từng là thằng nhỏ ở truồng tắm sông. Thoát cách nào, con?”. Từ bỏ, thậm chí xóa bỏ quá khứ, “cậu” hạnh phúc trong những cơn riết róng của dư luận, của người thân. Nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư ráo riết tìm kiếm chính mình dù phải bị sỉ nhục, bị khước từ, bị ruồng bỏ. Sau câu nói cay độc của ông nội: “Ờ, con gà trống, gáy sao cũng là tiếng gà trống”, “cậu” cắt dây thanh quản để không còn giọng nam. Và lại là những cuộc chạy trốn để được là chính mình, “cậu lại sắp đổi nhà, đến một nơi không ai biết cậu từng là ai. Truy tìm bản thể. Sự lựa chọn giới. Bi kịch sống đúng chính mình được kể bằng giọng điệu và lối viết “mộc mạc” quen thuộc của Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn của những phận người nhỏ bé. Mượn chuyện đổi giới để phát tín hiệu, truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đã góp một tiếng nói đưa les từ bóng tối ra ánh sáng.
Les - khát vọng vượt lên giới hạn thân xác
Nhân vật trong tác phẩm đồng tính nữ phần lớn là những con người chấn thương. Ám ảnh quá khứ, ký ức đen, sang chấn tuổi thơ, nỗi lo âu, hoài nghi chính mình, những rào chắn vô hình... đẩy họ vào tình thế chơi vơi, chênh vênh. Nhưng tuyệt nhiên họ không mặc cảm, không cảm thấy mình “khiếm khuyết”, chỉ có khát vọng vượt lên giới hạn thân xác/thân phận, dẫu sự vượt lên luôn vấp phải rào cản của đám đông. Họ sống trong một “thế giới khác”, hạnh phúc lẫn đắng cay. Trong tiểu thuyết Sậy (2022), nhà văn Thuận xoay quanh tâm trạng, cảm xúc, suy nghĩ của những con người luôn hoài nghi sự lựa chọn của chính mình. Những đối thoại liên văn hóa đặt ra gay gắt. Sự va chạm, đối kháng giữa hai nền văn hóa Á Âu, cái khác giữa phương Tây và phương Đông (nền giáo dục, văn hóa, quan niệm văn chương, tình yêu, tình dục...). Cụm từ “thế giới khác” xuất hiện với tần suất cao trong tác phẩm. Thế giới khác của ông bố là Paris. Còn Tôi có một thế giới riêng. Tôi muốn làm khác bố, tôi muốn có một cuộc sống khác ngoài việc làm NCS ở Pháp theo ước muốn của bố tôi; “tôi thà đi giữ trẻ hay làm bồi bàn còn hơn là ngồi tìm ý nghĩa cho những tán hươu tán vượn của các nhà văn”. Tôi mang tâm thế xa lạ của những con người bị lạc loài trong các thành phố hiện đại. Là Paris, là Hà Nội, là căn phòng như nhà tù hoặc căn biệt thự, chung cư. Căn hộ sang trọng khiến tôi “không sao thoát được cảm giác đang đi ở nhờ”. Chẳng ở đâu, nowhere, trở thành kiểu không gian biểu tượng xuyên suốt trong tiểu thuyết Thuận, mà Sậy khá tập trung. Nên Tôi, một nửa ở Paris một nửa ở Việt Nam và luôn trong tâm thế “không nơi chốn”. Nên cô bé mang tình yêu đồng giới lễnh loãng chẳng biết bám tựa vào đâu. Không chủ ý viết về đồng tính nữ, nhưng ở những trang cuối cùng của cuốn tiểu thuyết, nhà văn đã nêu lên những tín hiệu les qua cảm giác (chứ không phải là hành vi). Là cảm giác mơ hồ của tôi về một cô gái trong nửa tháng ba lần tự tử; về Trang, em học trò tóc đờ mi, xanh xao - “con bé mười sáu tuổi rưỡi, nữ sinh năm thứ nhất, trông như một chú bé con cá tính tuổi mới lớn”, “bị đám bạn cùng lớp tránh như hủi; thường xuyên bỏ học và lảng tránh lũ bạn gái cùng lớp”. Trong mạch phát triển của truyện, les chỉ là câu chuyện ngỡ vu vơ giữa vô vàn chuyện về tôi, ba tôi, chị tôi, về ngổn ngang Paris, Hà Nội... nhưng vết dấu của cô bé (có “khuôn mặt có vẻ dài và tái”, “xanh lét và lờ đờ”, “khuôn mặt ngây dại”) vẫn ám đen trên những trang viết với nhiều câu hỏi đặt ra. Nó góp phần khắc họa đậm hơn một cuộc sống khác, một thế giới khác mà nhiều lần Thuận nhắc lại trong tác phẩm. Nó điểm thêm một vệt cô đơn, khát vọng tình yêu và thân xác, khát vọng muốn sẻ chia và không được tin cậy, không tìm thấy sự hòa nhập. Nó đậm tô thêm nỗi niềm vong thân ngay trên xứ sở của mình. Linh giác về tình yêu đồng giới chỉ thoáng qua, như một ngẫu nhiên trong sáng tạo nhưng lại mang ý đồ nghệ thuật của nhà văn.
Qua những trang văn nữ, đồng tính nữ không còn xa lạ, bởi các nhà văn đã chạm và phơi ra bản năng gốc của con người. Nhục cảm đồng tính mang tính thẩm mĩ. Là những tín hiệu khát khao. Là ánh mắt rực lên, là “cái nhìn nóng như lửa”, là khuôn mặt ngây dại đầy khao khát của đứa trò nhỏ (Sậy); là “ánh mắt tai tái của hai đứa con gái”, những “đường nét nhợt nhạt, xanh xao, bộ vó yếu đuối não nùng” và nụ hôn thầm lặng hai cô gái trong một quán cà phê “cũ kỹ. Nhàu nhĩ. Mụ mị” (Tình thầm); là cảm giác đắm say gần gũi nhưng thảng thốt vì “đã từng ấm nóng da thịt mình” mà vẫn “chưa thuộc hết nhau” (Sông). Trong khi phần lớn các nhà văn nữ tìm đến cảm giác, cảm xúc thì Nguyễn Khắc Ngân Vy đã vượt thoát lối viết bóng gió của kiểu tình yêu trong bóng tối. Vạn sắc hư vô là câu chuyện của một nhóm trí thức nghệ sĩ trong các mối quan hệ phức tạp. Tính dục đồng giới, với họ là để tìm chính mình, hoặc cũng có lúc như một cách làm khác đi cuộc sống khuôn mẫu quanh mình. Ở đó, hai nửa cùng giới tìm đến nhau như một sự lựa chọn, với người này là bản chất, với người kia là để khỏa lấp cô đơn, tìm chính mình giữa một thế giới vỡ nát và xích dần đến hư vô, “tôi chạy thật nhẹ bẫng trên đôi chân mang vác thân phận con người”. Họ là những mảnh đơn độc, lạc lõng gặp nhau, “tôi thất lạc thời gian, cô thất lạc không gian” với nỗi niềm riêng trong nỗi buồn thời đại. Bản dạng đồng tính nữ trong tiểu thuyết của Ngân Vy phức tạp, là sự lựa chọn tính dục tự do với cảm-giác-thân-thể. Tính dục đồng giới được đẩy đến tận cùng cảm giác. Sức hấp dẫn đồng giới. Sự mời gọi của bản năng. Sự quyến rũ của những đường nét phụ nữ. Những cuộc truy hoan thân xác. Những ham muốn, dục vọng không dồn nén ngụy trang qua những giấc mơ khoái lạc mà trần trụi hóa, chiều theo bản năng. Tình dục lạ và sự thỏa hiệp. Khoái lạc và thống khổ. Những cơn say tràn và thế giới chênh vênh, vỡ vụn. Dẫu vậy, tất cả chỉ là cái vỏ che chắn “tiếng gào thét đã tắt lịm rất lâu nơi nội tâm”. Sau những khóc cười, say tỉnh, sau những trò-chơi-đồng-tính, là câu hỏi bật lên từ chốn thành thật nội tâm, “tụi mình tại sao lại ra nông nỗi này”. Nhà văn công khai phơi bày những hành vi nhục thể không chỉ như một niềm khoái cảm mà để nói cho đến cùng khát vọng vượt lên những mặc định về tình yêu, tính dục, đàn ông đàn bà, hôn nhân. Nhân vật của Ngân Vy không che giấu bản chất thật của mình và luôn ý thức mình tồn tại trong một “thế giới tan vỡ”, một cõi rối rắm và phi lí. Tình yêu là nỗi bất hạnh trước cuộc hiện sinh. Lẫn lộn và ngộ nhận, con người mất định vị trong cái nhìn của chính mình. Bao trùm tất cả là sự trống rỗng. Trống không. Tuy vậy, cuộc sống vẫn tiếp diễn theo cách của nó. Nhưng khi con người thiếu vắng một “trú xứ” thì trần gian vạn sắc cũng hóa hư vô.
Những câu chuyện đồng tính nữ thường dở dang. Những cô gái bị xem là “lệch pha” luôn mang cảm giác xa lạ, không tìm được tiếng nói chung. Không nơi chốn. Lưng chừng và chia xa. Đánh vắng nhân vật trở thành điểm nhấn tạo khoảng trống trong nhiều tác phẩm. Nhìn vào những khoảng trống trơn đó, người đọc thấy gì?
L.T.H
(TCSH421/03-2024)
-------------------------
1 Đồng tính và chuyển giới được WHO đưa ra khỏi chương Bệnh rối loạn tâm thần và hành vi trong Danh mục các bệnh Quốc tế (ICD), lần lượt vào năm 1990 và 2019 [https://tuoitre.vn/...].
Tải mã QRCode
VỌNG THẢO(Đọc “Quỷ trong trăng’ của Trần Thuỳ Mai)Đối với người cầm bút, trong những ý niệm thuần khiết nhất của trí tưởng tượng, mỗi người đều có những nhận thức và ám ảnh khác nhau. Riêng Trần Thuỳ Mai, ý niệm thuần khiết trong trí tưởng tượng của chị là một bến bờ xa vắng, nơi ẩn chứa những hạn cuộc huyễn hoặc và khát khao tận cùng trước giả, thật cuộc đời. Đó cũng là điều chị đã gửi gắm trong tập truyện mới: “Quỷ trong trăng” (NXB Trẻ - 2001), tác phẩm văn xuôi được giải tặng thưởng hàng năm của Liên hiệp Hội VHNT Thừa Thiên Huế.
NGUYỄN THỊ LÊ DUNGBao đời nay, thơ vẫn là một hằng số bí ẩn bảo lưu chất trẻ thơ trong tâm hồn con người. Nó gắn với đời sống tâm linh mà tâm linh thì không hề có tuổi, do vậy, nên dù ở chu kì sinh học nào, người ta cũng sống với thế giới thi ca bằng trái tim không đổi màu.
TẠ VĂN SỸĐọc tập thơ CÁT MẶN của LÊ KHÁNH MAI, NXB Hội nhà văn - Hà Nội 2001
LÊ THỊ MỸ ÝĐọc tập truyện ngắn "NGƯỜI ƠI" - Lê Thị Hoài - NXB Thuận Hoá 2001
HỒNG DIỆUVâng. Thơ của nhà thơ Nguyễn Bính (1918-1966) viết ở Huế, trong đó có thơ viết về Huế và thơ viết về những nơi khác.
HÀ VĂN LƯỠNGBài viết này như là một nén nhang tưởng niệm nhà văn Aitmatov vừa qua đời ngày 11-6-2008)
UYÊN CHÂU(Nhân đọc “Mùa lá chín” của Hồ Đắc Thiếu Anh)Những ai từng tha phương cầu thực chắc chắn sẽ thông cảm với nỗi nhớ quê hương của Hồ Đắc Thiếu Anh. Hình như nỗi nhớ ấy lúc nào cũng canh cánh bên lòng, không dứt ra được. Dẫu là một làn gió mỏng lướt qua cũng đủ rung lên sợi tơ lòng: Nghe hương gió thổi ngoài thềm / Trái tim rớm lệ trở mình nhói đau (Đêm nghiêng).
LGT:Rainer Maria Rilke (1875 – 1926) người Áo, sinh tại Praha, đã theo học tại Praha, Muenchen và Berlin triết học, nghệ thuật và văn chương, nhưng không hoàn tất. Từ 1897 ông phiêu lưu qua nhiều nước Âu châu: Nga, Worpswede (Ðức) (1900), Paris (1903) và những nước khác trong và sau thời thế chiến thư nhất (Thụy sĩ, Ý…). Ông mất tại dưỡng viện Val-Mont vì bệnh hoại huyết.
Giới thiệu tập thơ đầu tiên của anh Khúc ru tình nhà thơ Ngô Minh viết: “Toàn từng làm thơ đăng báo từ trước năm 1975. Hơn 20 năm sau Toàn mới in tập thơ đầu tay là cẩn trọng và trân trọng thơ lắm lắm”.
1. Trước khi có cuộc “Đối thoại với Cánh đồng bất tận” trên báo Tuổi trẻ tháng 4. 2006, Nguyễn Ngọc Tư đã được bạn đọc biết đến với tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt, giải Nhất trong cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi XX (lần 2) năm 2000, được tặng thưởng dành cho tác giả trẻ của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2000, giải B của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2001…
Nhân ngày 9/5 chiến thắng phát xít Đức.
...Đưa người ta không đưa qua sôngSao có tiếng sóng ở trong lòng?...
Những năm đầu sau ngày miền giải phóng, có mấy lần nhà thơ Xuân Diệu vào các tỉnh Nam Trung Bộ và dừng ở Nha Trang ít ngày. Đến đâu Xuân Diệu cũng nói chuyện thơ, được người nghe rất hâm mộ, đặc biệt là giới trẻ.
Có nhiều khi trong đời, “trôi theo cõi lòng cùng lang thang” như Thiền sư Saigyo (Nhật Bản), bất chợt thèm một ánh lửa, một vầng trăng. Soi qua hương đêm, soi qua dòng văn, soi qua từng địa chỉ... những ánh lửa nhỏ nhoi sẽ tổng hợp và trình diện hết thảy những vô biên của thế cuộc, lòng người. “Trong mắt tôi” của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã là ánh lửa ấy, địa chỉ ấy.
1. Kawabata Yasunari (1899 -1972) là một trong những nhà văn làm nên diện mạo của văn học hiện đại Nhật Bản. Ông được trao tặng giải Nobel năm 1968 (ba tác phẩm của Kawabata được giới thiệu với Viện Hoàng gia Thụy Điển để xét tặng giải thưởng là Xứ Tuyết, Ngàn cách hạc và Cố đô).
(Thơ Đỗ Quý Bông - Nxb Văn học, 2000)Đỗ Quý Bông chinh phục bạn hữu bằng hai câu lục bát này:Đêm ngâu lành lạnh sang canhTrở mình nghe bưởi động cành gạt mưa.
Thạch Quỳ là nhà thơ rất nhạy bén trong việc nắm bắt thông tin và chóng vánh tìm ra ngay bản chất đối tượng. Anh làm thơ hoàn toàn bằng mẫn cảm thiên phú. Thơ Thạch Quỳ là thứ thơ có phần nhỉnh hơn mọi lý thuyết về thơ.
Kỷ niệm 50 năm ngày mất nhà văn Nam Cao (30.11.1951-30.11.2001)
Có một con người đang ở vào cái tuổi dường như muốn giũ sạch nợ nần vay trả, trả vay, dường như chẳng bận lòng chút nào bởi những lợi danh ồn ào phiền muộn. Đó là nói theo cái nghĩa nhận dạng thông thường, tưởng như thế, nơi một con người đã qua "bát thập". Nhưng với nhà thơ Trinh Đường, nhìn như thế e tiêu cực, e sẽ làm ông giận dỗi: "Ta có sá gì đi với ở".
Nhà thơ Trinh Đường đã từ trần hồi 15g10’ ngày 28.9.2001 tại Hà Nội, thọ 85 tuổi. Lễ an táng nhà thơ đã được tổ chức trọng thể tại quê nhà xã Đại Lộc huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng , theo nguyện vọng của nhà thơ trước khi nhắm mắt.