Đồng tính nữ - một vệt khác

15:01 16/04/2024

LÊ THỊ HƯỜNG

Khi WHO công nhận đồng tính không phải là bệnh lí tâm thần1 và khi quan niệm đa giới tính đã công khai đối thoại với xã hội thì văn chương không thể đứng ngoài.

Ảnh: tư liệu

Trong văn học Việt Nam, đề tài đồng tính không còn xa lạ và đã thuận chiều trong tầm đón nhận của người đọc. Tuy vậy, phần lớn những tác phẩm viết về đồng tính là của các nhà văn nam và chủ yếu viết về gay. Đồng tính nữ (lesbian) vẫn còn là mảng trống, chưa lan tỏa. Khi nữ viết về đồng giới nữ, họ đã tạo một vệt khác trong văn chương.

Les - một thế giới khác, không lệch lạc

Khi tình yêu đồng giới bắt đầu từ vùng ngoại biên đi vào trung tâm của văn học Việt Nam, một số nhà văn nam hào hứng khai thác miền đất lạ với lối viết dữ dội, thiên về nhục thể (Một thế giới không có đàn bà, Song song, Nháp,...). Nhìn lại, lối viết ấy đã thành của một thời. Từ góc nhìn văn hóa xã hội, đồng tính, đặc biệt là đồng tính nữ không còn là “lệch lạc”. Với lối viết của nữ giới, có lẽ khái niệm “lệch pha” (queer) và cái nhìn theo “thuyết lệch pha” (queer theory) ít còn phù hợp. Trong văn hóa đa giới tính, họ là một cặp tự do, không phải giấu mình trong bóng tối hoặc “bất thường” trong cái nhìn của xã hội.

So với nam giới, vì nhiều lí do, phụ nữ viết về đồng tính không nhiều. Trong văn học miền Nam (1955 - 1975), Nguyễn Thị Thụy Vũ là một trong những nhà văn nữ đầu tiên đề cập đồng tính nam, với những cảm xúc bi thương. Mặc cảm khiếm khuyết khiến nhân vật tiểu thuyết của Nguyễn Thị Thụy Vũ co mình lại, tự kiềm chế, sợ hãi “căn bệnh” của mình. Chuyên (chàng trai á nam á nữ và thiên về nữ) vừa thương cho “sự tật nguyền bất hạnh”, “cái thân xác tội nghiệp của mình”, vừa soi ngắm mình như “một con quái vật đáng kinh tởm”. Dẫu chưa đi sâu vào khám phá những trạng thái đa phức của những con người bị cho là “lệch lạc” nhưng Nguyễn Thị Thụy Vũ đã sớm đặt ra câu hỏi nhức nhối vẫn còn bỏ trống, “ngày mà Chiêu ý thức được cái thân xác của nó đang đứng chàng ràng giữa hai cánh cửa nam, nữ trong các cầu tiêu của rạp hát, tiệm ăn, nó sẽ chọn cánh cửa nào? Chắc chắn người ta không hề nghĩ đến gian phòng vệ sinh dành cho loại người lưng chừng vì một chút lơ đãng lười biếng của mười hai Mụ Bà” (Khung rêu - Nguyễn Thị Thụy Vũ).

Cùng với sự thay đổi trong quan niệm về tính dục, về queer, văn chương viết về đồng tính nữ đa dạng hơn với những thông điệp nhân bản về sự đồng cảm và thấu hiểu. Một số cây bút nữ công khai ngay từ nhan đề truyện (Tôi là les - Keng). Nhân vật của Keng là những cô gái vừa mềm yếu vừa bản lĩnh. Họ sống trong những miền cảm xúc đối nghịch, khao khát và tỉnh táo, mong manh và mạnh mẽ, và luôn tự nhìn nhận, phân tích những cảm xúc của chính mình: “Có thể tôi là Les ngay từ lúc mới sinh, có thể tôi chỉ là Les theo trào lưu một cách nông nổi, hoặc có thể Les là một sự may mắn giúp tôi tháo gỡ bế tắc sợi dây sinh học của đời mình” (Tôi là les). Một số nhà văn khác chạm bút vào miền “kiêng kị” với những câu chuyện nhẹ nhàng, thoáng qua những cảm xúc vu vơ (truyện ngắn Tình thầm - Nguyễn Ngọc Tư, tiểu thuyết 1981 - Nguyễn Quỳnh Trang). Càng về sau đề tài này được viết một cách tự nhiên, hoặc là chủ đề chính của tác phẩm hoặc đan xen vào mạch truyện (Bầy thú bông của Quỳnh - Trần Thùy Mai, Đàn bà hư ảo - Nguyễn Khắc Ngân Vy, Sậy - Thuận, v.v). Các nhà văn nữ đã khai thác miền sâu của những cái tôi phụ nữ nhiều khao khát, kìm nén và bung phá.

Trần Thùy Mai là một trong những nhà văn sớm đặt bút ở mảng đồng tính nữ. Những trang viết về les của Trần Thùy Mai thường gợi cảm giác mỏng manh, dễ vỡ, tình cảm ngỡ như thoáng nhẹ nhưng day dứt, bâng khuâng. Năm 2005, Bầy thú bông của Quỳnh (trong tập truyện ngắn Mưa đời sau) điểm một nét tươi mới trên mảng truyện về đồng tính nói chung. Lần đầu tiên, những tình cảm, cảm xúc cùng giới nữ được đề cập một cách quyết liệt với lối viết nhẹ nhàng, lãng mạn theo phong cách Trần Thùy Mai. Nhân vật của Trần Thùy Mai bị chối bỏ, bị gạt ra khỏi các mối quan hệ xã hội, kể cả gia đình. “Ông anh lật trong sổ tay, lôi ra một tấm hình chụp nhiều người, trong đó có một cô gái cao, gầy, dài ngoằng, với đôi mắt to đen. Trên khuôn mặt cô gái, có ai dùng bút bi đỏ gạch một dấu chéo thật to, như đánh dấu tội phạm”. Chấp nhận tình yêu khác giới, Quỳnh muốn quên đi quá khứ và chối bỏ con người thật của chính mình. Cô tâm sự: “Đâu phải chỉ có hai đứa sống trên đời. Dư luận. Gia đình. Tương lai, nghề nghiệp... Em đã tính đương đầu, nhưng rồi đuối sức”. Để chống lại một hệ thống quyền lực vô hình trong đó có dư luận xã hội, Quỳnh chỉ biết trốn chạy. Quỳnh “cần một không gian rộng hơn để sắp đặt thứ hạnh phúc ngoại khổ của nàng”. Quỳnh lên tận miền cao nhưng mỗi sinh nhật cô vẫn nhận được đều đặn những chú gấu bông ngơ ngác buồn. Cô không mặc cảm, cũng không thể chạy trốn chính mình. Sau những giây phút cố quên, họ lại tìm đến nhau với bầy thú bông có ánh nhìn khắc khoải. Còn lại là niềm tin về hạnh phúc - “Mơ hồ, tôi nghĩ đến Quỳnh, đến Minh, đến những con thú bông với đôi mắt khắc khoải câm lặng. Có tiếng gọi nào trong ánh mắt ấy, tôi không rõ, một tiếng gọi tha thiết và nung nấu từ trong bản thể đã khiến họ chấp nhận bước lên con đường đầy bất an và đau đớn. Và tôi, dù không hiểu hết điều bí ẩn, cũng chẳng bao giờ đủ nhẫn tâm làm họ đau đớn thêm.” (Bầy thú bông của Quỳnh).

Một số tác giả nữ sớm viết về vấn đề chuyển giới với những con người muốn khẳng định bản thể và phải chịu đựng cái nhìn khắc nghiệt của tha nhân. Là Nghi chối bỏ chính mình khi “vật vã muốn cắt phăng, nghiền nát vật biểu trưng cho giới tính của mình” (tiểu thuyết 1981 - Nguyễn Quỳnh Trang). Là “cậu” với “những cuộc phẫu thuật lớn nhỏ, những đẽo gọt, điêu khắc lại một hình hài.” (Truyện ngắn Từ bỏ - Nguyễn Ngọc Tư). Nguyễn Ngọc Tư là tác giả sớm viết về vấn đề chuyển giới tính nữ, một lĩnh vực liên quan đến đồng giới. Nhà văn vùng sông nước Cà Mau vẫn giữ một giọng tỉnh khô mà đau đến lặng khi viết về những con người lạc lõng, lẻ loi từ mắt nhìn của xã hội. Từ bỏ là câu chuyện về chuyển giới tính nữ của một chàng trai (“người đàn bà mảnh khảnh, là nhân vật chính đắng cay trong những câu chuyện thường ngày của ông ngoại”). Nhân vật từ bỏ những gì thuộc về nam tính nhưng những khơi gợi quá khứ của người cha đã khiến “cậu” chìm trong cõi riêng đau đớn, “mầy có thành tiên thành quái, thì cũng không chối được đã từng là thằng nhỏ ở truồng tắm sông. Thoát cách nào, con?”. Từ bỏ, thậm chí xóa bỏ quá khứ, “cậu” hạnh phúc trong những cơn riết róng của dư luận, của người thân. Nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư ráo riết tìm kiếm chính mình dù phải bị sỉ nhục, bị khước từ, bị ruồng bỏ. Sau câu nói cay độc của ông nội: “Ờ, con gà trống, gáy sao cũng là tiếng gà trống”, “cậu” cắt dây thanh quản để không còn giọng nam. Và lại là những cuộc chạy trốn để được là chính mình, “cậu lại sắp đổi nhà, đến một nơi không ai biết cậu từng là ai. Truy tìm bản thể. Sự lựa chọn giới. Bi kịch sống đúng chính mình được kể bằng giọng điệu và lối viết “mộc mạc” quen thuộc của Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn của những phận người nhỏ bé. Mượn chuyện đổi giới để phát tín hiệu, truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đã góp một tiếng nói đưa les từ bóng tối ra ánh sáng.

Les - khát vọng vượt lên giới hạn thân xác

Nhân vật trong tác phẩm đồng tính nữ phần lớn là những con người chấn thương. Ám ảnh quá khứ, ký ức đen, sang chấn tuổi thơ, nỗi lo âu, hoài nghi chính mình, những rào chắn vô hình... đẩy họ vào tình thế chơi vơi, chênh vênh. Nhưng tuyệt nhiên họ không mặc cảm, không cảm thấy mình “khiếm khuyết”, chỉ có khát vọng vượt lên giới hạn thân xác/thân phận, dẫu sự vượt lên luôn vấp phải rào cản của đám đông. Họ sống trong một “thế giới khác”, hạnh phúc lẫn đắng cay. Trong tiểu thuyết Sậy (2022), nhà văn Thuận xoay quanh tâm trạng, cảm xúc, suy nghĩ của những con người luôn hoài nghi sự lựa chọn của chính mình. Những đối thoại liên văn hóa đặt ra gay gắt. Sự va chạm, đối kháng giữa hai nền văn hóa Á Âu, cái khác giữa phương Tây và phương Đông (nền giáo dục, văn hóa, quan niệm văn chương, tình yêu, tình dục...). Cụm từ “thế giới khác” xuất hiện với tần suất cao trong tác phẩm. Thế giới khác của ông bố là Paris. Còn Tôi có một thế giới riêng. Tôi muốn làm khác bố, tôi muốn có một cuộc sống khác ngoài việc làm NCS ở Pháp theo ước muốn của bố tôi; “tôi thà đi giữ trẻ hay làm bồi bàn còn hơn là ngồi tìm ý nghĩa cho những tán hươu tán vượn của các nhà văn”. Tôi mang tâm thế xa lạ của những con người bị lạc loài trong các thành phố hiện đại. Là Paris, là Hà Nội, là căn phòng như nhà tù hoặc căn biệt thự, chung cư. Căn hộ sang trọng khiến tôi “không sao thoát được cảm giác đang đi ở nhờ”. Chẳng ở đâu, nowhere, trở thành kiểu không gian biểu tượng xuyên suốt trong tiểu thuyết Thuận, mà Sậy khá tập trung. Nên Tôi, một nửa ở Paris một nửa ở Việt Nam và luôn trong tâm thế “không nơi chốn”. Nên cô bé mang tình yêu đồng giới lễnh loãng chẳng biết bám tựa vào đâu. Không chủ ý viết về đồng tính nữ, nhưng ở những trang cuối cùng của cuốn tiểu thuyết, nhà văn đã nêu lên những tín hiệu les qua cảm giác (chứ không phải là hành vi). Là cảm giác mơ hồ của tôi về một cô gái trong nửa tháng ba lần tự tử; về Trang, em học trò tóc đờ mi, xanh xao - “con bé mười sáu tuổi rưỡi, nữ sinh năm thứ nhất, trông như một chú bé con cá tính tuổi mới lớn”, “bị đám bạn cùng lớp tránh như hủi; thường xuyên bỏ học và lảng tránh lũ bạn gái cùng lớp”. Trong mạch phát triển của truyện, les chỉ là câu chuyện ngỡ vu vơ giữa vô vàn chuyện về tôi, ba tôi, chị tôi, về ngổn ngang Paris, Hà Nội... nhưng vết dấu của cô bé (có “khuôn mặt có vẻ dài và tái”, “xanh lét và lờ đờ”, “khuôn mặt ngây dại”) vẫn ám đen trên những trang viết với nhiều câu hỏi đặt ra. Nó góp phần khắc họa đậm hơn một cuộc sống khác, một thế giới khác mà nhiều lần Thuận nhắc lại trong tác phẩm. Nó điểm thêm một vệt cô đơn, khát vọng tình yêu và thân xác, khát vọng muốn sẻ chia và không được tin cậy, không tìm thấy sự hòa nhập. Nó đậm tô thêm nỗi niềm vong thân ngay trên xứ sở của mình. Linh giác về tình yêu đồng giới chỉ thoáng qua, như một ngẫu nhiên trong sáng tạo nhưng lại mang ý đồ nghệ thuật của nhà văn.

Qua những trang văn nữ, đồng tính nữ không còn xa lạ, bởi các nhà văn đã chạm và phơi ra bản năng gốc của con người. Nhục cảm đồng tính mang tính thẩm mĩ. Là những tín hiệu khát khao. Là ánh mắt rực lên, là “cái nhìn nóng như lửa”, là khuôn mặt ngây dại đầy khao khát của đứa trò nhỏ (Sậy); là “ánh mắt tai tái của hai đứa con gái”, những “đường nét nhợt nhạt, xanh xao, bộ vó yếu đuối não nùng” và nụ hôn thầm lặng hai cô gái trong một quán cà phê “cũ kỹ. Nhàu nhĩ. Mụ mị” (Tình thầm); là cảm giác đắm say gần gũi nhưng thảng thốt vì “đã từng ấm nóng da thịt mình” mà vẫn “chưa thuộc hết nhau” (Sông). Trong khi phần lớn các nhà văn nữ tìm đến cảm giác, cảm xúc thì Nguyễn Khắc Ngân Vy đã vượt thoát lối viết bóng gió của kiểu tình yêu trong bóng tối. Vạn sắc hư vô là câu chuyện của một nhóm trí thức nghệ sĩ trong các mối quan hệ phức tạp. Tính dục đồng giới, với họ là để tìm chính mình, hoặc cũng có lúc như một cách làm khác đi cuộc sống khuôn mẫu quanh mình. Ở đó, hai nửa cùng giới tìm đến nhau như một sự lựa chọn, với người này là bản chất, với người kia là để khỏa lấp cô đơn, tìm chính mình giữa một thế giới vỡ nát và xích dần đến hư vô, “tôi chạy thật nhẹ bẫng trên đôi chân mang vác thân phận con người”. Họ là những mảnh đơn độc, lạc lõng gặp nhau, “tôi thất lạc thời gian, cô thất lạc không gian” với nỗi niềm riêng trong nỗi buồn thời đại. Bản dạng đồng tính nữ trong tiểu thuyết của Ngân Vy phức tạp, là sự lựa chọn tính dục tự do với cảm-giác-thân-thể. Tính dục đồng giới được đẩy đến tận cùng cảm giác. Sức hấp dẫn đồng giới. Sự mời gọi của bản năng. Sự quyến rũ của những đường nét phụ nữ. Những cuộc truy hoan thân xác. Những ham muốn, dục vọng không dồn nén ngụy trang qua những giấc mơ khoái lạc mà trần trụi hóa, chiều theo bản năng. Tình dục lạ và sự thỏa hiệp. Khoái lạc và thống khổ. Những cơn say tràn và thế giới chênh vênh, vỡ vụn. Dẫu vậy, tất cả chỉ là cái vỏ che chắn “tiếng gào thét đã tắt lịm rất lâu nơi nội tâm”. Sau những khóc cười, say tỉnh, sau những trò-chơi-đồng-tính, là câu hỏi bật lên từ chốn thành thật nội tâm, “tụi mình tại sao lại ra nông nỗi này”. Nhà văn công khai phơi bày những hành vi nhục thể không chỉ như một niềm khoái cảm mà để nói cho đến cùng khát vọng vượt lên những mặc định về tình yêu, tính dục, đàn ông đàn bà, hôn nhân. Nhân vật của Ngân Vy không che giấu bản chất thật của mình và luôn ý thức mình tồn tại trong một “thế giới tan vỡ”, một cõi rối rắm và phi lí. Tình yêu là nỗi bất hạnh trước cuộc hiện sinh. Lẫn lộn và ngộ nhận, con người mất định vị trong cái nhìn của chính mình. Bao trùm tất cả là sự trống rỗng. Trống không. Tuy vậy, cuộc sống vẫn tiếp diễn theo cách của nó. Nhưng khi con người thiếu vắng một “trú xứ” thì trần gian vạn sắc cũng hóa hư vô.

Những câu chuyện đồng tính nữ thường dở dang. Những cô gái bị xem là “lệch pha” luôn mang cảm giác xa lạ, không tìm được tiếng nói chung. Không nơi chốn. Lưng chừng và chia xa. Đánh vắng nhân vật trở thành điểm nhấn tạo khoảng trống trong nhiều tác phẩm. Nhìn vào những khoảng trống trơn đó, người đọc thấy gì?

L.T.H
(TCSH421/03-2024)

-------------------------
1 Đồng tính và chuyển giới được WHO đưa ra khỏi chương Bệnh rối loạn tâm thần và hành vi trong Danh mục các bệnh Quốc tế (ICD), lần lượt vào năm 1990 và 2019 [https://tuoitre.vn/...].

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO        (Đọc tập thơ ''Độc thoại trước mặt trời'' của Trần Lan Vinh- NXB Văn học Hà Nội- 2003)Trên thi đàn văn học Việt Nam hiện đại, sự thiếu vắng những cây bút nữ đã trở thành một vấn đề cần được chú trọng. Hầu như mỗi khi phụ nữ cầm bút, điều họ quan tâm nhất đó là sự giải bày tâm sự với ngàn ngàn nỗi niềm trắc ẩn. Nếu viết là một cách để sẻ chia tâm sự thì Trần Lan Vinh là một trường hợp như thế.

  • NGUYỄN THANH TÚMùa đông năm ngoái, anh Đoàn Tuấn từ Hà Nội vào Huế giảng dạy lớp đạo diễn điện ảnh. Dù công việc khá bận rộn nhưng anh vẫn dành cho tôi không ít thời gian tâm sự, bởi ngoài tình cảm thân thiết anh còn là cấp trên của tôi ở toà soạn tạp chí Thế Giới Điện Ảnh. Trong những lần trò chuyện ấy, tôi thật sự bất ngờ khi nghe anh kể chuyện về cuốn sách anh sắp in ở Nhà xuất bản Trẻ mà nội dung của nó là câu hỏi hơn 20 năm nay vẫn luôn canh cánh trong tôi. Vốn dĩ Đoàn Tuấn là nhà biên kịch điện ảnh tên tuổi, anh đã có nhiều kịch bản phim nổi tiếng như: Chiếc chìa khoá vàng (1998), Ngõ đàn bà (1992), Đường thư (2003)...

  • MAI VĂN HOANNguyễn Khoa Điềm đến với thơ hơi muộn nhưng đã sớm định hình một phong cách riêng. Qua các tập Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990), Cõi lặng (2007) ta bắt gặp những suy ngẫm của anh đối với nhân dân, đất nước; những chiêm nghiệm của anh về đời sống xã hội, nhân tình thế thái. Những chiêm nghiệm và suy ngẫm đó được thể hiện bằng một giọng thơ trầm tĩnh, bình dị, sâu lắng và khá hiện đại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ       (Đọc Nỗi niềm để ngỏ của Lê Lâm Ứng - Nhà xuất bản Văn học 2002)Đọc thơ Lê Lâm Ứng để tìm những câu mượt mà thì hơi khó. Thảng hoặc lắm mới bắt gặp ở anh tâm trạng thư thái này:                Biết rằng trong cõi nhớ thương                Lạc nhau âu cũng lẽ thường vậy thôi

  • MAI VĂN HOANNguyễn Đắc Xuân không chỉ có chân trong Hội Nhà văn Việt Nam mà anh còn là hội viên Hội Lịch sử Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam... Nhưng dù ở cương vị nào thì điều mà anh tâm huyết nhất vẫn là lịch sử và văn hóa Huế.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG   (Nhân đọc sách "Gió về Tùng Môn Trang" của Nguyễn Xuân Dũng)Tác giả cuốn sách này là một võ sư đệ bát đẳng huyền đai thuộc phái không thủ đạo, vừa là một nhà hoạt động thương trường nổi tiếng ở Mỹ. Nhưng cuốn sách này không hề bàn đến chuyện đấm đá hơn kém hoặc là chuyện mua bán lời lỗ mà bàn về cái TÂM. Tác giả tỏ ra hết sức chú trọng vũ đạo; nhất cử nhất động đều phải xuất phát từ cái TÂM, cái TÂM viết hoa.

  • TRẦN THUỲ MAI            (Đọc Uẩn khúc, tiểu thuyết của Hoàng Văn Bàng, NXB Thuận Hoá 2002)Câu chuyện xảy ra ở một vùng quê không xa lắm, với một tầm mức tai hại không lớn, gây một ảnh hưởng mới xem qua tưởng chừng không đáng kể. Một ông trưởng phòng ở huyện tham ô vài chục triệu thì đã thấm gì so với những câu chuyện động trời hàng ngày trên các báo, mà thủ phạm mang những chức tước lớn lao hơn, với những số tiền khổng lồ tới hàng nghìn tỉ!

  • MAI VĂN HOAN         (Giới thiệu các tác giả thuộc chi hội nhà văn Việt Nam tại Huế)Ngô Minh là một trong những nhà văn Việt Nam ở Huế được Đài truyền hình Cáp Việt Nam chọn giới thiệu tới 45 phút trong chương trình “Người của công chúng”. Tôi cũng được mời nói đôi lời về anh. Với tôi, Ngô Minh là người làm việc “tới số” và chơi cũng... “tới số”!

  • PHẠM XUÂN NGUYÊNCùng một kiếp bên trời lận đận                  (Bạch Cư Dị - Tỳ bà hành)Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa cho ra mắt tác phẩm Rừng xưa xanh lá (Mười chân dung văn nghệ sĩ) tại Nhà xuất bản Hải Phòng (1/2003).

  • TÔ VĨNH HÀNhững trang viết sau cùng của một con người luôn luôn là điều thiêng liêng và không bao giờ hết bí ẩn. Vì sao lại dùng từ ấy chứ không phải là chữ kia; đề cập đến cái này chứ không phải là cái khác..? Rất nhiều câu hỏi sẽ đến với người đọc khi trước mắt ta là những ý tưởng hiện hữu sau cùng của một đời người - đặc biệt ở con người vĩ đại như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là cái tên mà mỗi người Việt lúc đọc hay nói, không chỉ diễn đạt một quan niệm gần như vô hạn của nhận thức, mà hơn nhiều thế nữa - là âm sắc tuyệt vời của sự kết tụ những tinh hoa quý giá nhất của trái tim mình.

  • NGUYỄN TỐNGQuê hương đất nước và con người luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau trong suốt chiều dày của lịch sử dựng nước và giữ nước. Nó tự nhiên chan hoà đến mức như cá bơi quẫy giữa đại dương, chim tung cánh vô tư giữa bầu trời bát ngát. Đến lúc nào đó, khi con người rơi vào cảnh cá chậu chim lồng, tình cảm, ý thức về đất nước thiêng liêng mới trở nên ám ảnh day dứt.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ           (Đọc “Thân Trọng Một – con người huyền thoại” của Nguyễn Quang Hà)Đã từ lâu, tên tuổi anh hùng Thân Trọng Một trở nên thân quen với mọi người, nhất là với quân dân Thừa Thiên Huế; những “sự tích” về ông đã thành truyện “truyền kỳ” trong dân chúng và đã được giới thiệu trên nhiều sách báo. Tuy vậy, với “THÂN TRỌNG MỘT – CON NGƯỜI HUYỀN THOẠI”, lần đầu tiên, chân dung và những chiến công của ông đã được tái hiện một cách đầy đủ và sinh động nhất.

  • Nhà văn Nguyễn Quang Hà tâm sự với tôi rằng anh có hai món nợ rất lớn mà chắc đến khi nhắm mắt xuôi tay cũng không thể nào trả xong. Hai món nợ mà anh đang gánh trên đôi vai của mình là món nợ đối với nhân dân và món nợ đối với đồng đội. Gần bốn mươi năm cầm bút, anh đã viết 9 tập tiểu thuyết; 7 tập truyện ngắn, ký, truyện ký; 2 tập thơ cùng với hàng trăm bài báo cũng chỉ mong sao trả được hai món nợ ấy.

  • XUÂN CANGNhờ cuốn hồi ký nhỏ Ngày ấy Trường Sơn (Nxb Hội Nhà văn - Hà Nội - 2000) của Nguyễn Khoa Như Ý- tên khai sinh của Hà Khánh Linh, bạn đọc được biết đây là một nhà văn nữ có khí chất không bình thường. Một người con gái mảnh dẻ, nhưng có chí, mơ mộng, ham hành động, vì nghĩa lớn mà dấn thân vào nơi nguy hiểm.

  • Sau Vị giáo sư và ẩn sĩ đường, Ba lần đến nước Mỹ, trong năm 2002, GS. Hà Minh Đức tiếp tục ra mắt bạn đọc tác phẩm Tản mạn đầu ô. Vậy là trong khoảng 5 năm, bên cạnh một khối lượng lớn những tác phẩm nghiên cứu, lý luận, phê bình, ông đã sáng tác 3 tập thơ và 3 tập bút ký. Đó là những con số mang nhiều ý nghĩa thể hiện sự "đa năng" của một đời văn tưởng đã yên vị với nhiều danh hiệu cao quý và hơn 30 tập sách nghiên cứu, lý luận, phê bình. Tản mạn đầu ô ra đời được dư luận chú ý, quan tâm. Sau đây là cuộc trao đổi giữa PGS. TS Lý Hoài Thu với GS. Hà Minh Đức xung quanh tập sách này.

  • HUỲNH HẠ NGUYÊN         (Đọc tập thơ "Khúc đêm" của Châu Thu Hà - Nxb Thuận Hoá - 11/2002)...Thơ Châu Thu Hà mang đậm nữ tính. Khi trái tim biết cười, hay khi giàn giụa nước mắt, ta bỗng thấy quý sao những phút sống chân thành với cuộc đời, với mọi người. Châu Thu Hà không để trái tim mình tuột xuống phía bên kia triền dốc, chị cố bước tới và neo lại, để thấy mình được xẻ chia, được yêu chiều, xoa dịu...

  • LÊ MỸ Ý (L.M.Y):  Thưa nhà thơ, là một người có thể tạm gọi là thuộc thế hệ đi trước nhưng lại luôn "gây sốc" bằng những tác phẩm tìm tòi mới, chắc hẳn ông có quan tâm nhiều đến thế hệ thơ trẻ? Có thể có một nhận xét chung về thơ trẻ hiện nay chăng?NHÀ THƠ HOÀNG HƯNG (H.H): Tất nhiên là tôi rất quan tâm. Nhận xét chung của tôi về thơ trẻ bây giờ là đa số vẫn mang tính phong trào. Có thể nói là những người làm thơ trẻ vẫn đi theo một vết mòn của thế hệ trước, chưa thấy rõ những bứt phá, chỉ nổi lên một số tác giả theo cách lẻ tẻ.

  • Tại sao cô chỉ làm thơ tự do?- Trước hết, bởi tôi thích tự do. Tự do ở đây, được hiểu là: nói, làm, dám mơ ước và tham vọng tất cả những gì mình muốn, không bị tác động và chi phối bởi ai, bởi bất cứ điều gì.

  • NGUYỄN THỤY KHA Đã là lạ tên một tác phẩm khí nhạc mang tực đề "Eo lưng" của nữ nhạc sĩ Kim Ngọc. Lại thu thú khi đọc tập thơ "Nằm nghiêng" của nữ thi sĩ Phan Huyền Thư. Một thế kỷ giải phóng của Việt Nam thật đáng kính ngạc.Cái cách giải phóng mình, phái yếu trong đó có mình của Phan Huyền Thư là sự độ lượng với cũ kỹ, là mỉa mai sự nửa vời, là quyết liệt lặng lẽ vươn tới cách tân theo một thế của “Nằm nghiêng”.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOCòn nhớ mùa Huế mưa 1992, Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đến nhà tôi chơi, mang theo bản thảo đánh máy tập thơ đầu tay của một tác giả mới 20 tuổi có tên là Văn Cầm Hải. Một cái tên lạ mà tôi chưa nghe bao giờ. Những bài thơ của anh cũng chưa hề xuất hiện trên mặt báo. Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đều nói rằng; "Thơ tay này lạ lắm. Ông xem thử".