Dòng chảy ý thức thơ tình Trần Hạ Vi trên bình diện siêu hình

08:40 05/11/2019

PHẠM QUYÊN CHI  

Tâm lí học cổ điển đã xây dựng nên sơ đồ quy nạp của quá trình hình thành các đơn vị cơ bản của tư duy - và khái niệm duy lí gắn liền với từ.

Ảnh: internet

Nguồn gốc đầu tiên để xuất hiện suy nghĩ là cảm giác. Các cơ quan cảm giác tiếp xúc với thế giới xung quanh, đem lại cho con người những tri thức về vật thể của thế giới bên ngoài. Không bối cảnh hiện thực, Hạ Vi, cô ấy bước vào công việc hóa giải tình yêu siêu hình. Trong đó, tình yêu (sự thiện) thuộc về hữu, bắt nguồn rễ trong siêu việt thể. Những con chữ của chị như gõ tiếng cửa bằng âm thanh khi con người thức tỉnh, sự hữu đó, ghi lại trong ý thức họ vết tích một ý nghĩa sâu thẳm và bất tận vượt lên trên mọi ý nghĩa khác. Chọn tình yêu - bởi lòng căm thù đang rầm rộ gieo rắc nỗi buồn và tai họa, giết chết sự hữu trong trần gian. Tính ghét luôn là nguy cơ, nên câu thơ chị luôn chiến thắng sự do dự:

“Trái tim thiện lương
Bao dung dưỡng nuôi mầm cảm xúc
Triền cỏ nhòa phủ lấp

Biển nghiêng mình nuốt dấu chân anh vẫn xanh”
                                    (Xanh)

Bình diện siêu việt thể luôn phục hồi khả năng trong tình yêu, đảm bảo cho một luân lí, đời sống có tình yêu là luôn đúng. St - Augustin “Hãy yêu đi rồi làm gì làm!”, hay chính Plotin một triết gia thần bí đã từng mô tả: “Đôi khi thoát được thể xác ngái ngủ và thức tỉnh lại trong bản ngã, tôi thấy lóe sáng một vẻ đẹp phi thường. Chính những lúc ấy, tôi mới tin chắc được rằng: tôi sống ở một thế giới tốt đẹp và cao cả hơn, rồi tôi thấy trào vọt lên một sức sống mạnh mẽ tột bực”. Đọc to dần những câu thơ Hạ Vi hay đọc rõ hơn lại những gì xảy ra trong tính phân ly thì ẩn đằng sau điều tưởng rằng không giải thích nổi lại là dòng ý thức uy lực biến thành siêu hình tinh thần. Tự thân đầy đủ lớp nghĩa giúp ta nhận thức bằng hiện sinh ta chứ không phải bằng trí năng và biết đâu từ nay, con người không nên bỏ qua yếu tố tượng trưng. Tình yêu là con đường gãy khúc không sửa thẳng được nữa, giống cách người ta đoán định, suy tư triết học. Nó còn hiện diện trong tâm hồn và muốn thấy cần phải sáng suốt nghĩa là Hạ Vi đã lí hội qua hình thức khách quan:

“Sinh nhật 911
Một năm trước ngày thế giới đảo lộn
Bởi những chiếc máy bay
ảo ảnh hứng đầy tay
mê rồi lại tỉnh
đập nát phá tung
bạn bè xa lánh
cơ cực hình hài
đêm trăng tròn mùa thu
sinh nhật âm năm nay
em gặp anh
anh bình tĩnh ngỏ lời yêu
sẽ là hạnh phúc trăm chiều
hay tận cùng đau khổ
em mở lòng đón nhận
và được sống hơn một lần
và được có anh…”


Mỗi nét nghĩa tái hiện tình yêu, trong các tri giác trí nhớ làm nảy sinh định hướng, em đã đi đến hình tượng anh. Em và anh, tính liên kết bằng từ, đã tác động cảm giác. Cấu trúc thơ đi theo thuyết cảm thán, từ ngữ ấy mang tính võ đoán “hạnh phúc” hình thành bản tính chung tự nhiên của con người “được có”. Xét dưới góc độ ý nghĩa chứa đựng, em trong tính phân định - đã thống nhất về mặt tâm lí, âm hưởng của bài thơ thuộc về tính chất ước lệ. Tình yêu ấy, không hề đơn giản và bẩm sinh, phán đoán như phản xạ cảm giác. Trong bài “Lá thư gửi ngày độc lập” giống như một văn bản phục nguyên (phục lại nét ngôn ngữ thực sự) mà Sleikher tạo ra mô hình lý thuyết phục nguyên các thuộc tính ngôn ngữ nhất định phản ảnh được bản chất ngôn ngữ thì Hạ Vi tạo ra tư duy trừu tượng (vị tính) giống trò chơi - sự nghỉ ngơi của tín hiệu ngoài ngữ cảnh, mang lại tính biểu cảm cao:

“Anh thực dân em
Tỉ tê bụi mưa âm thầm chiếm đất
Chất nhớ chở thương bằng câu chữ màu sắc
Chiều Hà Nội buồn

Em thực dân anh
Lấp đầy hờn ghen khoảng trống
Thả con sáo xa hót véo von kỳ vọng
Mây NoVa Scotia trắng
Biển Mahoney đá sỏi cười
Những dòng thư đưa cay

Ngày độc lập
Anh ngậm ngùi thoát ách thực dân
Nghe chừng luyến tiếc

Có cô gái nào thực dân như em
Có cô gái nào yêu anh hơn em”


Kiểu lời nói phân tiết, tạo ra dòng ý thức trừu tượng, còn tạo ra cả biểu tượng. Như Potebnja về sáng tác thơ ca là động lực phát triển ngôn ngữ. Mà đâu đó, Sakhmatov đưa ra cách giải quyết khác về cơ chế tâm lí lời nói. Vậy, Hạ Vi chị ấy, trên nền liên tưởng cấu trúc thơ áp dụng lời nói và cả ý nghĩa tu từ đã không mất đi tính ngôn ngữ giải thích trong tồn tại mà Potebnja đề ra như giải thích được các điềm (triệu chứng). Tính trừu tượng trong thơ đã nhất thiết vấn thiết giúp ta nhìn nhận mảng kí hiệu tư duy ngôn ngữ thơ.  

Thơ trong phát ngôn ấy, ai đã nói gì với ai? Tính thông tin qua lời tạo lập Hạ Vi rất cao, đưa ra lí lẽ rất thuyết phục vừa là lời chân thành vừa đi đúng thời điểm. Thơ ca, có ít bài là những bài phong tình, sầu tình có thể mê hoặc tinh thần, làm quên được nỗi nhọc nhằn đau khổ để ta bước qua mọi điều. Bởi trong tình yêu ấy, không đơn thuần là bẩm sinh. Các chân lí siêu hình tiềm tàng trong các sự vật hiện hữu, rồi chính tình trạng hư vô lại biến thành sự Hữu và xuất hiện ra với ta, và hư vô không phải là hư vô trống rỗng: “Hãy tưởng tượng/ bạn hôn một người/ ngủ với một người khác/ và nhớ về một người khác nữa” trong “học yêu như đàn ông”. Như thế, đi tới sự suy niệm trầm mặc theo ba khía cạnh vừa nói tức là suy nghĩ về chính mình, một nhiệm vụ hiện hữu, bạn đi tới được tới đâu? Cảm thông? Tình yêu sáng suốt? và chính tình yêu hiện ra một sự bình an hay lo âu xuất hiện, ngừng tưởng tượng bạn có còn lòng trung thành giữa những quyến rũ do ảo ảnh gây ra?

“Là cơm áo mặc vẫn cứ nao nao
Giấu diếm dúi dụi bấm nhau trong bóng tối
Xác thịt nào phải tội lỗi
Chỉ là… vẫn ngượng mà thôi
Thu mỏng khoác hờ tấm áo đời bạc vôi
Nhục dục tình trường bỏ ngõ
Tâm tịnh trong vòng lửa đỏ
Có lần nào…
Chúng ta thử bước qua?”

                        (Hỏi khó)

Không có gì bắt rễ vào thông cảm, cũng chỉ là bắt đầu với hai người mà thôi. Hôm nay, dạo quanh một vòng qua vườn thơ tình của chị, trên cả truyền thống hay giây phút hiện tại chị vẫn đang xây nên bức hình siêu hình kì diệu, tư tưởng ấy, như bàn tay đỡ lấy đóa hoa đã héo khô đặt chúng xuống mặt đất một cách nhẹ nhàng hơn. Và mỗi khi hé nhìn vào dòng ý thức ấy, ta lại lại thấy hiện lên trước mắt một tình yêu huyền bí: Vậy tình yêu ấy là gì? “Khi người ta yêu nghệ thuật thì không có việc gì khó” - Nó - một sự giúp đỡ của tình yêu! Phải chăng chị Vi nhỉ?

P.Q.C  
(SHSDB34/09-2019)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRẦN ANH VINHÂm vang của những sự kiện xẩy ra năm Ất Dậu (1885) không những vẫn còn đọng trong tâm trí người dân núi Ngự mà còn được ghi lại trong một số tác phẩm. Bài vè “Thất thủ Kinh đô” do cụ Mới đi kể rong hàng mấy chục năm ròng là một tác phẩm văn học dân gian, được nhiều người biết và ngưỡng mộ. Riêng Phan Bội Châu có viết hai bài:+ Kỷ niệm ngày 23 tháng Năm ở Huế (Thơ)+ Văn tế cô hồn ngày 23 tháng Năm ở Kinh thành Huế.

  • HOÀNG CÔNG KHANHCó một thực tế: số các nhà văn cổ kim đông tây viết tiểu thuyết lịch sử không nhiều. Ở Việt Nam càng ít. Theo ý riêng tôi nguyên nhân thì nhiều, nhưng cơ bản là nhà văn viết loại này phải đồng thời là nhà sử học, chí ít là có kiến thức sâu rộng về lịch sử. Cũng nhiều trường hợp người viết có đủ vốn liếng cả hai mặt ấy, nhưng hoặc ngại mất nhiều công sức để đọc hàng chục bộ chính sử, phải sưu tầm, dã ngoại, nghiên cứu, đối chiếu, chọn lọc hoặc đơn giản là chưa, thậm chí không quan tâm đến lịch sử.

  • TRƯƠNG ĐĂNG DUNG                 Tặng Đỗ Lai ThuýChủ nghĩa hiện đại là kết quả của những nỗ lực hiện đại hoá đời sống và tư duy xẩy ra từ những năm cuối của thế kỷ XIX, ở Châu Âu. Những thành tựu nổi bật của khoa học tự nhiên, của triết học, xã hội học và tâm lí học đã tác động đến cách nghĩ của con người hiện đại trước các vấn đề về tồn tại, đạo đức, tâm lí. Tư tưởng của Nietzsche, Husserl, hay Freud không chỉ ảnh hưởng đến tư duy hiện đại mà tiếp tục được nhắc đến nhiều ở thời hậu hiện đại.

  • ĐẶNG TIẾNTân Hình Thức là một trường phái thi ca hiện đại được phổ biến từ năm bảy năm nay, phát khởi do Tạp Chí Thơ, ấn hành tại Mỹ, chủ yếu từ số 18, xuân 2000 “chuyển đổi thế kỷ”, và được nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước hưởng ứng. Tên Tân Hình Thức dịch từ tiếng Anh New Formalism, một trường phái thơ Mỹ, thịnh hành những năm1980 - 1990.

  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP Một ngày kia, cát bụi vùng Hoan Diễn đã sinh tạo một “kẻ ham chơi”. Y cứ lãng đãng trong đời như một khách giang hồ mang trái tim nhạy cảm, một trái tim đầy nhạc với những đốm lửa buồn. Để rồi sau những cuộc say tràn cung mây, khi dòng cảm hứng chợt bùng lên từ những vùng u ẩn nằm sâu trong cõi nhớ, những giai âm ùa về như những luồng điện làm vỡ òa bí mật: có thương có nhớ có khóc có cười- có cái chớp mắt đã ngàn năm trôi. Đây là những câu thơ khép lại một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Trọng Tạo: Đồng dao cho người lớn(1).

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTừ lâu, ở Huế, nhiều người đã biết tiếng ba công chúa, ba nữ sĩ (Tam Khanh) con vua Minh Mạng, em gái nhà thơ nổi tiếng Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, trong đó MAI AM là người được nhắc đến nhiều nhất. Mai Am nổi tiếng trước hết vì tài thơ và cùng vì cuộc đời riêng không được may mắn của bà, tuy bà là người sống thọ nhất trong “Tam Khanh”.

  • LÊ DỤC TÚCùng với nghệ thuật tiếp cận và phản ánh hiện thực, nghệ thuật miêu tả và khắc họa chân dung nhân vật, nghệ thuật châm biếm và sử dụng ngôn ngữ cũng là một trong những nét nghệ thuật đặc sắc ta thường gặp trong các phóng sự Việt Nam 1932 - 1945.

  • NGUYỄN VĂN DÂNTrong thế kỷ XX vừa qua, thế giới, đặc biệt là thế giới phương Tây, đã sản sinh ra biết bao phương pháp phục vụ cho nghiên cứu văn học, trong đó phương pháp cấu trúc là một trong những phương pháp được quan tâm nhiều nhất.

  • AN KHÁNHHai mươi tám năm kể từ ngày chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, đủ để một thế hệ trưởng thành, một dòng thơ định vị. Tháng 3 vừa qua, Hội Văn nghệ Hà Nội và nhóm nhà thơ - nhà văn - cựu binh Mỹ có cuộc giao lưu thú vị, nhằm tìm ra tiếng nói "tương đồng", sự thân ái giữa các thế hệ Mỹ - Việt thông qua những thông điệp của văn chương.

  • TRẦN ĐÌNH SỬ Bạn đọc Việt Nam vốn không xa lạ với phê bình phân tâm học hơn nửa thế kỷ nay, bởi nó đã bắt đầu được giới thiệu vào nước ta từ những năm ba mươi, bốn mươi thế kỷ trước. Nhưng đáng tiếc nó đã bị kỳ thị rất nặng nề từ nhiều phía. Giống như nhân loại có thời phản ứng với Darwin vì không chấp nhận lý thuyết xem con người là một loài cao quý lại có thể tiến hóa từ một loài tầm thường như loài khỉ, người ta cũng không thể chấp nhận lý thuyết phân tâm học xem con người - một sinh vật có lý trí cao quý lại có thể bị sai khiến bởi bản năng tầm thường như các loài vật hạ đẳng!

  • PHẠM ĐÌNH ÂN(Nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày mất của Thế Lữ 3-6-1989 – 3-6-2009)Nói đến Thế Lữ, trước tiên là nói đến một nhà thơ tài danh, người góp phần lớn mở đầu phong trào Thơ Mới (1932-1945), cũng là nhà thơ tiêu biểu nhất của Thơ Mới buổi đầu. Ông còn là cây bút văn xuôi nghệ thuật tài hoa, là nhà báo, dịch giả và nổi bật là nhà hoạt động sân khấu xuất sắc, cụ thể là đưa nghệ thuật biểu diễn kịch nói nước nhà trở thành chuyên nghiệp theo hướng hiện đại hóa.

  • THÁI DOÃN HIỂUPhàm trần chưa rõ vàng thauChân tâm chẳng biết ở đâu mà tìm.                                VẠN HẠNH Thiền sư

  • HỒ THẾ HÀ  Thi ca là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đặc biệt. Nó là điển hình của cảm xúc và tâm trạng được chứa đựng bởi một hình thức - “hình thức mang tính quan niệm” cũng rất đặc biệt. Sự “quái đản” trong sử dụng ngôn từ; sự chuyển nghĩa, tạo sinh nghĩa trong việc sử dụng các biện pháp tu từ; sự trừu tượng hoá, khái quát hoá các trạng thái tình cảm, hiện thực và khát vọng sống của con người; sự hữu hình hoá hoặc vô hình hoá các cảm xúc, đối tượng; sự âm thanh hoá theo quy luật của khoa phát âm thực nghiệm học (phonétique  expérimentale)...đã làm cho thi ca có sức quyến rũ bội phần (multiple) so với các thể loại nghệ thuật ngôn từ khác.

  • LÊ XUÂN LÍTHỏi: Mã Giám Sinh sau khi mua được Kiều, Mã phải đưa Kiều đi ròng rã một tháng tròn mới đến Lâm Tri, nơi Tú Bà đang chờ đợi. Trên đường, Mã đâm thèm muốn chuyện “nước trước bẻ hoa”. Hắn nghĩ ra đủ mưu mẹo, lí lẽ và hắn đâm liều, Nguyễn Du viết:              Đào tiên đã bén tay phàm              Thì vin cành quít, cho cam sự đờiĐào tiên ở đây là quả cây đào. Sao câu dưới lại vin cành quít? Nguyễn Du có lẩm cẩm không?

  • CHU ĐÌNH KIÊN1. Có những tác phẩm người đọc phải thực sự “vật lộn” trên từng trang giấy, mới có thể hiểu được nhà văn muốn nói điều gì. Đó là hiện tượng “Những kẻ thiện tâm” (Les Bienveillantes) của Jonathan Littell. Một “cas” được xem là quá khó đọc. Tác phẩm đã đạt hai giải thưởng danh giá của nước Pháp là: giải Goncourt và giải thưởng của Viện hàn lâm Pháp.

  • PHONG LÊSinh năm 1893, Ngô Tất Tố rõ ràng là bậc tiền bối của số rất lớn, nếu không nói là tất cả những người làm nên diện mạo hiện đại của văn học Việt Nam thời 1932-1945. Tất cả - gồm những gương mặt tiêu biểu trong phong trào Thơ mới, Tự Lực văn đoàn và trào lưu hiện thực đều ra đời sau ông từ 10 đến 20 năm, thậm chí ngót 30 năm.

  • HẢI TRUNGHiện tượng ngôn ngữ lai tạp hay gọi nôm na là tiếng bồi, tiếng lơ lớ (Pidgins và Creoles) được ngành ngôn ngữ học đề cập đến với những đặc trưng gắn liền với xã hội. Nguồn gốc ra đời của loại hình ngôn ngữ này có nhiều nét khác biệt so với ngôn ngữ nói chung. Đây không chỉ là một hiện tượng cá thể của một cộng đồng ngôn ngữ nào, mà nó có thể phát sinh gắn liền với những diễn biến, những thay đổi, sự phát triển của lịch sử, xã hội của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia khác nhau.

  • BÙI NGỌC TẤN... Đã bao nhiêu cuộc hội thảo, bao nhiêu cuộc tổng kết, bao nhiêu cuộc thi cùng với bao nhiêu giải thưởng, văn chương của chúng ta, đặc biệt là tiểu thuyết vẫn chẳng tiến lên. Rất nhiều tiền của bỏ ra, rất nhiều trí tuệ công sức đã được đầu tư để rồi không đạt được điều mong muốn. Không có được những sáng tác hay, những tác phẩm chịu được thử thách của thời gian. Sự thất thu này đều đã được tiêu liệu.

  • NGUYỄN HUỆ CHICao Bá Quát là một tài thơ trác việt ở nửa đầu thế kỷ XIX. Thơ ông có những cách tân nghệ thuật táo bạo, không còn là loại thơ “kỷ sự” của thế kỷ XVIII mà đã chuyển sang một giọng điệu mới, kết hợp tự sự với độc thoại, cho nên lời thơ hàm súc, đa nghĩa, và mạch thơ hướng tới những đề tài có ý nghĩa xã hội sâu rộng.

  • NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNĐã nhiều sử liệu viết về cuộc xử án vua Duy Tân và các lãnh tụ khởi xướng cuộc khởi nghĩa bất thành tháng 5-1916, mà trong đó hai chí sĩ Thái Phiên - Trần Cao Vân là hai vị đứng đầu. Tất cả các sử liệu đều cho rằng, việc hành hình đối với Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu diễn ra vào sáng ngày 17-5-1916. Ngay cả trong họ tộc hai nhà chí sĩ, việc ghi nhớ để cúng kỵ, hoặc tổ chức kỷ niệm cũng được tính theo ngày như thế.