Bên tả ngạn của sông Hương, cách thành phố Huế chừng 15 km về hướng tây, có một ngọn đồi người ta quen gọi là “Đồi thiên thần”, nơi nương náu của gần 50.000 thai nhi bị phá bỏ.
Nghĩa trang hài nhi Ngọc Hồ - Phường Hương Hồ
Đây chính là nghĩa trang hài nhi Ngọc Hồ thuộc xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên-Huế.
Thiên thần bật khóc
Những ngôi mộ nhỏ nhắn chôn thành hàng thẳng tắp được chia ra từng khu ngăn nắp, trật tự. Lối vào mỗi khu đều có hai bức tượng thiên thần màu trắng rất lớn đang quỳ gối, cúi đầu, bưng mặt. Dưới chân các thiên thần là những dòng thơ ai oán đau xé lòng về số phận hẩm hiu của những sinh linh vô tội, “chưa có ngày sinh đã có ngày tử”.
Theo cha quản xứ giáo xứ Ngọc Hồ, nghĩa trang này ra đời từ đầu năm 1992, do một số linh mục giáo phận Huế khởi xướng. Từ đó đến nay, rất nhiều người đã âm thầm đi nhặt từng bào thai bị phá bỏ mang về đây chôn cất. Bây giờ nghĩa trang đã kín chật chỗ với gần 50.000 ngôi mộ vô danh…
Từ năm 1992 cho đến 1999, các nấm mồ chỉ là nắm đất đơn sơ đắp lên mà thôi. Bắt đầu từ năm 2000 đến nay, nhờ sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm, mộ của các hài nhi đã được xây bằng xi măng và quét vôi trắng.
Anh Trương Văn Năng và anh Tống Viết Hiếu, cùng là dân Ngọc Hồ là những người đã không quản ngại khó khăn đi đón những bào thai bị vứt bỏ mang về “Đồi thiên thần” an táng. Trung bình một ngày có 13 đến 15 thai nhi được mang về, có ngày lên tới 20. Điều đau đớn là số lượng các hài nhi cứ tăng dần theo thời gian. Người dân Ngọc Hồ dù bận rộn với việc mưu sinh nhưng vẫn thay phiên nhau đến nghĩa trang làm cỏ, quét dọn vệ sinh và thắp nhang cho hàng vạn sinh linh bé bỏng đang yên nghỉ nơi vùng đất của họ, đặc biệt là trong mùa Noel này.
Lời ru buồn từ ngôi nhà Bình Minh
Dưới chân “Đồi thiên thần” có một ngôi nhà là nơi nương tựa cho những phụ nữ “Lỡ một thời con gái/Bởi một đời dại yêu”. Họ là những người đang mang thai đến từ bắc chí nam. Họ đã từng đến bệnh viện để phá thai nhưng được các thành viên tình nguyện trong Ban Bác ái xã hội của giáo phận Huế kịp thời giải thích, động viên và đưa về nhà Bình Minh để tĩnh dưỡng. Tại đây, họ được chăm sóc chu đáo từ miếng ăn, giấc ngủ và có cả y tá bên cạnh để theo dõi sức khỏe trong suốt thai kỳ. Nếu như khi sinh xong, họ không thể nuôi con thì đứa bé sẽ được gửi vào cô nhi viện, còn muốn giữ lại nuôi thì họ cũng sẽ được tạo điều kiện để hai mẹ con có được cuộc sống tốt nhất có thể.
N., một cô gái đến từ Hà Nội đang mang thai tháng thứ 8. Dáng N. dong dỏng cao, da trắng xanh, khuôn mặt trái xoan buồn rười rượi. N. 23 tuổi, “lỡ dại” khi còn ngồi trên ghế nhà trường nên đã vào Huế sống chung với người bạn gái làm nghề cắt tóc. N. đến Bệnh viện Trung ương Huế để phá thai nhưng tại đây cô đã gặp được những người tốt, khuyên nhủ cô giữ lại sinh linh bé bỏng.
N. theo chân các tình nguyện viên về nhà và cô vô cùng ngỡ ngàng vì có hàng chục cô gái mang thai cũng đang lưu trú tại đó, hoàn cảnh cũng ngang trái như nhau.
N. kể, đêm nào những bà bầu bất đắc dĩ cũng nằm khóc rưng rức. Có người khóc vì số phận hẩm hiu, oán trách người đàn ông bội bạc. Họ cầu mong đứa bé ra đời thật nhanh để mang đi cho “khuất mắt”, để họ có cơ hội làm lại cuộc đời. Nhưng hằng đêm cũng có những người khóc thương cho đứa con chưa kịp nhìn thấy mặt mẹ đã phải vào cô nhi viện mà bản thân họ bất lực, không còn sự lựa chọn nào khác. Những bà mẹ vào cuối thai kỳ, họ cảm nhận rõ ràng sự hiện diện của con nên đêm nào cũng thì thầm với thai nhi và khóc. Có những cô gái đêm không ngủ, đứng nhìn lên “Đồi thiên thần” và khe khẽ hát ru. Chứng kiến những day dứt, những dằn vặt đó, N. đã thay đổi quyết định của mình, cô sẽ để con lại nuôi, dù biết phía trước rất nhiều khó khăn…
Theo Bảo Thiên (Thanhnien.com.vn)
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.