Đối nghịch Em thất thường lúc mùa đang chuyển Ngày hè nóng nực Đối ngày mưa Những vết rạn địa tầng trái đất Giá buốt căn nhà trống hoác Trắng lạnh ánh sáng xô nghiêng Gió ném trả vào đêm tiếng vỡ Như vệt xe cào Trên mặt thời gian Cỏ giành giật với mùa đông khắc nghiệt Ngọn gió xuân về mang ẩm ướt Em là đối nghịch của mùa đông Những nụ hoa mang nắng vào hư ảo Em lại ra đi như thời gian Anh trống rỗng Lúc cơn mưa ập xuống 1996 Độc thoại trước mặt trời Thời gian bạc Trở về tóc ngược... Rối bời gió trắng cao nguyên Núi vọng tiếng cồng khan kể về nguồn cội Cơn khát cao nguyên độc thoại Trước mặt trời... Vách đá chiêm bao Tiếng chiêng đuổi gió Hãy thức dậy mưa rừng suối vỡ Người đàn ông im lặng Trong cõi riêng mình Cảm nhận cô đơn tình yêu chật Vó ngựa hoang đạp cháy cỏ thiêng Ngực tràn nắng Vòng tay rộng Đuổi theo cơn khát Mưa cuồng lửa hoang Đuổi theo tia nắng Chân đạp đại ngàn Nét kỷ hà gẫy ngang lưng mẹ Trăng bào thai Đêm hồng hoang trở dạ Bậc thang gỗ chạm đôi bầu vú Đất linh nứt hằn sâu Đá đội lên kỷ nguyên khập khiễng Ta bước về nguồn sáng riêng ta Ném trả lại những điều trói buộc Tắm gió cao nguyên Cưới mặt trời... 17-4-1998 Đốm lửa ngủ quên Tôi nhập hồn sắc tím mong manh Nụ hôn đầu môi em cũng tím Mưa xé cánh bằng lăng chết lịm Gió đón nhầm mầu tím vào đêm Có một mùa cánh hoa tím nghiêng Áo dài trắng mặt em mộng mị Xuân giấu trong hoa điều suy nghĩ Nụ hôn đầu chạm khẽ trên môi. Gió chợt nghiêng cánh cửa gió cười Chuyện ngày ấy đã thành dĩ vãng Nét chữ xưa nhắc về kỷ niệm Nắng rung lên chiều sắp nhập đồng. Anh biết chẳng tại ai chỉ trách mình Riêng sắc tím đỏ trong anh dấu hỏi Mỗi mùa về ép chùm hoa cưới Như muốn nhóm trong mình đốm lửa ngủ quên. Có giây phút thấy mình vô nghĩa Mọi thú vui không chịu nổi bỏ đi Giữa đông người thấy lòng trống trải Em kéo tấm voan che mặt trái đời. 17/01/2000 TRẦN LAN VINH (nguồn: TCSH số 149 - 07 - 2001) |
Tải mã QRCode
Tôn Phong - Nguyễn Thất Hanh - Bùi Tấn Xương - Trần Thị Ngọc Mai - Nguyễn Tuất
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà