Đôi nét về thơ ca những năm đầu sau cách mạng giữa hai cột mốc lịch sử (19.8.1945 - 19.12.1946)

09:35 28/08/2009
VÕ VĨNH KHUYẾN Tiểu luận nhằm tìm hiểu thành tựu thơ ca trong khoảng 16 tháng giữa 2 cột mốc lịch sử (19.8.1945 - 19.12.1946). Bởi khi phân chia giai đoạn văn học nói chung (thơ ca nói riêng) trong tiến trình lịch sử văn học, các công trình nghiên cứu, các giáo trình ở bậc Đại học - Cao đẳng và sách giáo khoa trung học phổ thông hiện hành, không đặt vấn đề nghiên cứu thơ ca (cũng như văn học) nói riêng trong thời gian này. Với một tiêu đề chung "Văn học kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954". Đây là nguyên do nhiều sinh viên không biết đến một bộ phận văn học, trong những năm đầu sau cách mạng.

Giáo sư Hà Minh Đức cho rằng: "16 tháng giữa hai cột mốc lịch sử. Thời gian ngắn ngủi ấy khó để tạo nên đầy đủ một giai đoạn một chặng đường thơ. Nhưng thơ ca những năm đầu sau Cách mạng tháng 8 đã có những phẩm chất riêng đáng quý -đó là tiếng nói tự do đầu tiên của thơ ca sau những năm dài nô lệ, đó là những năm tháng bản lề mà trong thời điểm này nền thơ ca cách mạng trẻ tuổi được xây dựng nền móng bằng những viên gạch mới hồng tươi".

Đã qua một thời kỳ thơ ca gói trong những cảm hứng riêng tư, vụn vặt: hoặc tìm trong khoái lạc, đê mê "Say đi em cho lơi lả ánh đèn / Cho cung bậc ngả nghiêng điên rồ xác thịt" (Vũ Hoàng Chương) ngộ nhận tình yêu là cứu cánh cuộc đời "Làm sao sống được mà không yêu" (Xuân Diệu) hoặc phản ánh một hiện thực bế tắc, quẩn quanh "Gặp buổi tâm tư mối nhện đầy" (Thâm Tâm) con người bị dồn đẩy đến chân tường tuyệt vọng "Tình đời đã cháy đến chân nhang" (Trần Huyền Trân).
Cách mạng tháng 8 thành công, đem đến cho thơ ca những cảm hứng sáng tạo lớn lao, cao cả, giải phóng cho thi sĩ khỏi sự tù túng, bế tắc. Nếu như trước đây, nhà thơ quay lưng với xã hội, hướng nội trong cảm xúc, ôm lấy cái "Tôi" bản ngã, đối lập với cuộc đời đen bạc, ô trọc. Thì bây giờ thi sĩ mở lòng giang rộng cánh tay hân hoan đón nhận không khí thời đại, Xuân Diệu cảm nhận cái tươi mới trong buổi bình minh của lịch sử dân tộc:
"Có một suối thơ chảy từ gần gũi
 Ra xa xôi và lại đến gần quanh
 Một suối thơ lá ngọt với hoa lành
 Nói trong xóm và giỡn cười dưới phố"

Cách mạng tháng 8 mang đến nguồn vui được khơi dậy từ một lẽ sống lớn, niềm vui của tự do, độc lập. Niềm vui trong ngày thu tháng 8 với nguồn nội sinh dồi dào, tràn đầy sức trẻ. Trong hân hoan của đất trời giải phóng, Nguyễn Đinh Thi tái hiện niềm vui vươn tỏa khôn cùng của ngày hội dân tộc:
" Mùa thu về bỡ ngỡ sáng nay
 Gặp những chàng trai bên hồ hò reo say
 Reo reo hò cờ rực đỏ ánh cây
 Thoáng sao vàng nghiêng nghiêng vẫy"

Lá cờ đỏ sao vàng là biểu tượng thiêng liêng của đất nước Việt Nam mới, là hình ảnh quần chúng của cách mạng. Từ đây khái niệm "Tổ quốc" "dân tộc" không còn xa xôi, trừu tượng, mơ hồ mà là sắc đỏ, sắc vàng của lá cờ cụ thể. Thâm Tâm cảm nhận "Hồn thiêng khắp hết cõi bờ/ Sáng nay óng ánh trên tơ vải điều" Trong cái say sưa của niềm vui tươi mới của ngày đầu cách mạng, lá cờ tung bay khắp nơi, trong cái bay bổng lạ kỳ của cảm hứng "Cuốn tung lên cờ đỏ máu thơm tươi/ Vàng vàng bay đẹp quá sao sao ơi" (Tố Hữu)

Vui với duyên đầu cách mạng, bằng nhiệt tình công dân hứng khởi Xuân Diệu tập trung cảm xúc, suy nghĩ, ngợi ca "Ngọn quốc kỳ" - Bài thơ giàu chất tráng ca và hưng phấn cách mạng, lá cờ biểu trưng Tổ quốc - Đất nước - Dân tộc, là hiện thực đường lối chính trị của Đảng:
"Có mấy bữa mà Việt Nam thắm cả
 Máu nén lâu từ ấy đã bùng ra
 Những cửa lều xơ xác cũng ra hoa
 Trên gốc cũ nẩy một chồi sống mới
 Cả anh dũng cũng tưng bừng trở lại
 Một trăm năm tan nát tựa sương mù"

Triển khai trên một kênh cảm hứng khác, trong dòng chảy thơ ca những năm đầu sau cách mạng, nhiều nhà thơ hướng tới cuộc đời mới đang phục sinh, tái tạo, hướng tới sự đổi thay trong cuộc sống và những cảnh đời cụ thể. Nhà thơ Thâm Tâm đã một lần thốt lên "Nghệ thuật nằm im ở mộ lòng" nhưng trước sự lôi cuốn của không khí mới, trước sự hấp dẫn của cuộc sống mới, bằng tình cảm gắn bó, yêu thương với cuộc đời, Thâm Tâm cảm nhận nét đẹp tinh khôi trong khung cảnh thu sang:
"Trái hồng trĩu xuống cây rơm
 Sáng nay mùa cốm dậy thơm khắp làng
 Lúa vươn thân hút ánh vàng
 Nguồn tươi vồng nở thu sang tốt lành"

Tuy chưa nhiều vị mặn của mồ hôi cuộc đời trong thơ, nhưng Nguyễn Xuân Sanh dần trở về với nét thực của đời sống. Cách mạng tháng 8 là một hiện thực lich sử kỳ vĩ lan tỏa trong thơ anh, đang chiếm lĩnh, thanh lọc cảm xúc, tạo nên cách viết không cầu kỳ, bế tắc như những vần thơ bí hiểm trước đây, Nguyễn Xuân Sanh viết nên những cảm nhận ban đầu:
"Ta khát vô biên ngọn sóng vang
 Ta mừng hội gió lúc lên đàng
 Ta hát vô biên trên sách mới
 Và trên thế giới đượm Tràng giang"

Cũng là những phong tục, hội hè, đình đám, cũng vẫn là những nét đẹp dung dị của lũy tre, cây đa, bến nước, cũng vẫn là những phiên chợ tết mưa xuân lất phất và cũng vẫn là nông thôn, làng quê. Vẫn là chiếc nón quai thao, những cô yếm đỏ những cụ già râu tóc bạc phơ...Cách mạng tháng 8 trả lại những giá trị văn hóa truyền thống, tích hợp những giá trị mới, Đoàn Văn Cừ nói đến một sức sống mới trong hồn dân tộc được phục sinh, tân tạo:
"Bao thôn nữ hôm qua còn yếm đỏ
 Miệng hoa cười tươi tựa ánh bình minh
 Hôm nay đều ra khỏi lũy tre xanh
 Với dòng máu quật sôi trong huyết quản"

Trần Mai Ninh phát hiện, khám phá một bình diện mới khi viết về Đất nước - Tổ quốc. Đất nước đẹp không chỉ vì thế núi, hình sông hùng vĩ, không chỉ vì màu xanh biển trời, mây nước. Trần Mai Ninh nói đến chất thơ của vùng đất từ Nha Trang ra Quảng Ngãi. Đất nước của những con người sống dậy một sức sống mới khi được làm chủ cuộc đời mình lao vào xây dựng:
"Dân tộc rớt mồ hôi thấm đất
 Căng như đồng
 Tay ghì cán cuốc
 Tay ghì tay xe
 Nhìn quanh là cả bốn bề cần lao...
 Có mối tình nào hơn thế nữa? "

Bên cạnh những chủ đề Đất nước Nhân dân - Dân tộc, Những ngày đầu độc lập, một hình tượng lớn trong thơ gây xúc động trong lòng người đọc, được nhiều nhà thơ tập trung tinh lực ngòi bút, khắc họa bằng những vần thơ có sức lay động sâu xa - đó là hình tượng Bác Hồ. Nhà thơ Tế Hanh có bài "Hồ Chí Minh" dung hội những suy nghĩ của nhà thơ về lãnh tụ, là sự ngưỡng mộ thành kính, Tế Hanh phác thảo chân dung Hồ Chí Minh - Người cầm lái vĩ đại của con thuyền cách mạng dân tộc, với khí phách anh hùng mà vô cùng gần gũi:
"Sáng láng, ôn tồn, thành tâm, quyết chí
 Sóng gió khinh, sấm sét chẳng kinh hoàng
Hồ Chí Minh, chỉ là Người có thể
Đưa con thuyền tổ quốc đến vinh quang"

Một thành công khác của Tố Hữu, với "Hồ Chí Minh" được anh viết ngay khi cách mạng thành công trong cả nước (26.8.1945). Đây là sáng tác đầu tiên có giá trị về đề tài lãnh tụ trong thơ ca hiện đại. Vượt lên những hạn chế từ xa mà tưởng tượng về Bác, cách thể hiện còn trừu tượng, hình ảnh và ngôn ngữ còn pha màu lãng mạn dễ nhận thấy ở thời kỳ quá độ cách mạng cho đến mấy năm đầu của cuộc kháng chiến, bài thơ có cái thể rất mới, rất rắn rỏi. Tố Hữu nêu bật ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần lạc quan cách mạng của nhân dân tập trung trong con người Hồ Chí Minh, sự gắn bó máu thịt giữa quần chúng và Bác Hồ - Người kết tinh, dung hội nguyện vọng, sức mạnh vĩ đại của giai cấp, dân tộc. Đây là lần đầu tiên hình ảnh lãnh tụ xuất hiện trong thơ bằng dáng nét kiêu bạc của con người:
"Làm tên quân cảm tử đi tiên phong
 Đánh trăm trận thề trăm phen quyết thắng
 Bao thất bại dẫu xát lòng cay đắng
 Hồn vẫn tươi vui thơm ngát tình đời
 Bước trường chinh dẫu mỏi gối, khan hơi
 Tim gang thép vẫn tưng bừng lửa chiến"

Cảm hứng thơ giai đoạn này về Bác chủ yếu khởi phát từ tấm lòng chân tình biết ơn, và cảm phục, chưa thấy được hết mối quan hệ giữa lãnh tụ và quần chúng và những phẩm chất cao quí khác của Người.

Thơ ca những năm đầu Cách mạng tháng 8, ngoài nội dung ngợi ca cuộc sống mới, còn đề cập đến khí thế sôi động của dân tộc chống thù trong giặc ngoài. Bọn cơ hội chính trị Việt quốc - Việt cách dưới sự che chở của thế lực ngoại bang cũng trương cờ, lôi kéo biểu tình, đình công, rút cục thất bại thảm hại, trở thành trò cười cho mọi người. Thơ ca đả kích, châm biếm đã phát huy lợi thế đánh địch, vạch mặt kẻ thù: Với chúng, tổng đình công lại hóa ra tổng... bất đình công, quang cảnh biểu tình do chúng tổ chức quả thật thảm hại:
"Chen nhau đông tựa chùa bà Đanh
 Hăng hái như người đang ngái ngủ"

Hưởng ứng một sự kiện chính trị lớn lao: Cuộc tổng tuyển cử toàn dân ngày 06.01.1946 một hướng thơ ca chuyển sang ngợi ca sự kiện chính trị ấy. Tố Hữu "Nhiệt liệt hoan nghênh tổng tuyển cử lần đầu" và anh kêu gọi:
"Tất cả chúng ta cùng nhau đi bỏ phiếu
Hãy cử đúng những người đại biểu
"
                                    (Thưa các ông nghị)
Với trường ca "Hội nghị non sông" là sự kết tinh nhiệt tình công dân và cảm hứng lịch sử của nhà thơ Xuân Diệu.

Không khí chính trị trở nên oi bức, phức tạp trước những diễn biến âm mưu đen tối của thực dân Pháp, núp sau quân đội Anh - Ân chiếm lại miền Nam nước ta. Với tầm vông, súng kíp, mã tấu, dao găm niềm Nam đứng lên giết giặc. Những đoàn quân Nam tiến lên đường "Giết giặc" (Tố Hữu) là mệnh lệnh là kêu gọi cứu nước giục giã, thiết tha: "Máu Việt Nam đang chảy/ Đỏ đồng ôi máu yêu/ Miền Nam đang bốc cháy/ Đồng bào ôi lửa thiêu/ Mau mau lên đứng dậy/ Gươm gươm đâu tuốt ra/ Súng súng đâu vác chạy/ Cứu cứu đồng bào ta/ Giết giết quân xâm lược/ Mau xung phong xung phong/ Cờ bay lên cứu nước/ Máu giặc phải thành sông".

Trần Mai Ninh trong "Nhớ máu" phản ánh khí thế cuồn cuộn dâng trào của những con người vừa có dược thời gian hòa bình ngắn ngũi phải lao vào cuộc chiến đấu mới giành lại độc lập. "Nhớ máu" mang theo tinh thần "Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh" và không khí hào hùng của những ngày Cách mạng tháng 8 vừa qua:
"Cả ngàn chiến sĩ
 Cả ngàn con bạc, con vàng của Tổ quốc
 Sống... trong đáy âm thầm
 Mà nắm chắc tối cao vinh dự
 Quắc mắt nhìn vào thăm thẳm tương lai
 Vững tin tưởng nơi oai hùng
 Và chiến thắng
 Câu Việt Nam dân tộc"
                        (Nhớ máu)

Không khí chính trị oi bức, phức tạp vì thực dân Pháp ngày càng trắng trợn khiêu khích: Hà Nội - Hải Phòng và nhiều nơi khác... Trước những tội ác man rợ của kẻ thù, sự kiên nhẫn, chịu đựng nào cũng trong một giới hạn, biên độ nhất định. Chính chúng - chứ không ai khác đã thổi bùng lên ngọn lửa hờn căm hàng năm nung nấu. Ngọn lửa đốt nhà, đốt làng, đốt xóm trở thành ngọn lửa hận thù, mất mát, thương đau dội lên đầu chúng:
"Lửa reo, lửa thét...
 Lửa xuống cửa ga
 Xe tăng giẫy chết
 Lửa vào Cát Bi
 Máy bay tan tành
 Hải phòng khu bảy tay ôm lửa
 Một mái nhà thiêu một đạo binh"

Thời điểm này, toàn dân tộc chỉ còn chờ lệnh của lãnh tụ Hồ Chí Minh là nhất tề xông lên lao vào cuộc kháng chiến vệ quốc trên toàn lãnh thổ. Nhưng từng góc phố, từng ngôi nhà, từng làng, từng xóm, một góc chợ, một bờ đê... chiến lũy đã mọc lên san sát. Mỗi người dân là một chiến sĩ, trong tay là những gì họ có, để có thể tự vệ và chiến đấu.

Những sáng tác thơ ca về chủ đề chiến đấu trước ngày toàn quốc kháng chiến (19.12.1946) chưa có chiều sâu và bề rộng của phong trào và đội ngũ sáng tác như những năm sau. Điều đó làm cho thơ ca những năm đầu Cách mạng tháng 8 không tránh khỏi một số hạn chế nhất định. Những hạn chế này, được khắc phục dần dần khi đội ngũ được bổ sung và người nghệ sĩ thật sự đi vào cuộc kháng chiến với một dung dáng vững vàng của người nghệ sĩ - chiến sĩ.

Vượt lên những hạn chế khó tránh khỏi, thơ ca những năm đầu Cách mạng tháng 8 đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, trân trọng: Là tiếng nói ngợi ca Tổ quốc - Đất nước độc lập, tự do, là nét vẽ tươi màu, đa sắc về cuộc sống mới sinh sôi, nẩy nở, đang tái tạo, phục sinh trong hồn dân tộc, là tiếng lòng thành kính, ngưỡng mộ đối với lãnh tụ kính yêu. Bằng ngôn ngữ nghệ thuật, thơ ca đã phác thảo được diện mạo đất nước Việt Nam mới, trong những ngày cách mạng giành chính quyền và trước lúc bước vào cuộc kháng chiến "Ba ngàn ngày không nghỉ" (Tố Hữu). Tuy chưa phải là một giai đoạn, một chặng đường thơ ca, nhưng giữa hai thời điểm lịch sử quan trọng của dân tộc có một dòng thơ dào dạt tuôn chảy từ trái tim nhà thơ - công dân, nghệ sĩ - chiến sĩ. Bằng ngôn ngữ, thi ca đã đánh dấu những cột mốc trên hành trình lịch sử dân tộc.

Quảng Ngãi 23.5.2002
V.V.K
(184/06-04)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN ĐÌNH CHÍNHThực trạng của phê bình nghệ thuật hiện nay đang là một câu hỏi cần phải được trả lời.

  • THỦY THANHCuộc thi thơ dành cho người tàn tật ở Thừa Thiên Huế mặc dù "thời gian ứng thí" chưa đầy 2 tháng nhưng đã thu được kết quả đáng khích lệ. Với 33 tác phẩm của 7 tác giả nghiệp dư mang khuyết tật trên mình nhưng mỗi con người trong họ vẫn là "một thế giới một tâm hồn" lành lặn.

  • HOÀNG TẤT THẮNGMột trong những đặc điểm đặc thù của tiếng Việt là: các danh từ chỉ sự vật, hiện tượng, trạng thái, tính chất... không phải luôn chỉ đứng một mình mà thường kết hợp với một từ đứng trước với chức năng phân loại, chỉ đơn vị, biểu thái... trong lời nói. Chẳng hạn, sự vật thuyền trong tiếng Việt không phải chỉ có từ "thuyền" mà còn có "cái thuyền", "chiếc thuyền", "con thuyền", "lá thuyền", "mảnh thuyền"... các từ "cái - chiếc - con - lá - mảnh..." thường gọi là từ chỉ loại (hay là loại từ).

  • NGUYỄN THANH HÙNGVăn học thời đại nào cũng là sự du di cái nhìn thấm sâu vào đời sống. Thơ văn nói tới cái thật xa, rồi lại trở về với cái thật gần. Muốn đi xa, hành trang thơ phải gọn nhẹ, nhẹ chữ nhưng nặng lòng. Thơ Thiền là vậy. Mỗi câu thơ như một mũi tên bay vào tưởng tượng. Giữa những dòng thơ Thiền là một cõi chân như, vượt ra ngoài định giới môi trường xã hội quen thuộc, vì thế thơ Thiền thênh thang hướng đạo nhằm mục đích cứu sinh, đưa con người trở về với chính nó.

  • LÊ ĐẠT                Đường bụi trang lịch cũ                 ếp ếp đàn thời gian                                           L.Đ

  • HOÀNG NGỌC HIẾN             (góp phần định nghĩa minh triết)Tôi bắt đầu tiểu luận này bằng những suy nghĩ có liên quan đến chủ đề minh triết của hai học giả Việt Nam: Ngô Thời Sĩ (1740-1786) và Kim Định (1914- 1997).

  • VÕ VĨNH KHUYẾNBa mươi năm, sau khi Bác qua đời (1969 - 1999) có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều chuyên luận và khá nhiều bài viết trên các báo, tạp chí trong và ngoài nước về thơ, văn của Bác. Quy mô và mức độ có khác nhau. Tuy vậy, vẫn có chỗ chưa được khảo sát một cách đầy đủ, chưa được đầu tư nghiên cứu một cách thỏa đáng. Trong phạm vi, khả năng cá nhân và nội hàm vấn đề, chúng tôi mạnh dạn trình bày một số suy nghĩ về thơ Bác viết cho thiếu nhi.

  • NGÔ TỰ LẬP(Tiếp theo TCSH số 127/9-99)

  • NGÔ TỰ LẬP1.Platon nói rằng không thể có sự bình đẳng của những kẻ vốn không bình đẳng về mặt năng lực tự nhiên. Đó là xã hội người, nhưng chúng ta cũng có thể nói tương tự như vậy về xã hội từ ngữ.

  • ĐÀO DUY HIỆP    “Hội làng mở giữa mùa thu     Giời cao gió cả giăng như ban ngày”                                            (Nguyễn Bính)

  • YURI BONDAREVTên tuổi của nhà văn Nga Yuri Bônđarép rất gần gũi với bạn đọc Việt Nam qua những tác phẩm nỗi tiếng của ông đã được dịch ở ta vào thập kỷ 80 như: "Các tiểu đoàn xin chi viện", "Tuyết bỏng", "Bến bờ", "Lựa chọn", "Trò chơi"... Là một trong những nhà văn Xô Viết hàng đầu miêu tả hùng hồn và chân thực chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân Liên Xô trong cuộc chiến tranh vệ quốc thần thánh chống phát xít Đức 1941- 1945, Bônđarép đã được phong Anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa, được tặng giải thưởng Lênin, các giải thưởng Quốc gia, giải thưởng Lép Tônxtôi và M.Sôlôkhốp, giải thưởng toàn Nga "Xtalingrát"...

  • TRẦN ĐÌNH SỬVăn học Trung Quốc trong cơ chế thị trường đã có những biến đổi khá lớn. Theo các tác giả của sách Văn học Trung Quốc thế kỷ XX xuất bản tại Quảng Châu năm 1988 có thể nắm được một đôi nét diện mạo, chứng tỏ văn học Trung Quốc không còn có thể tồn tại theo phương thức cũ. Cơ chế thị trường đã làm cho nhà văn và nhà phê bình phải suy tính lại về sách lược sinh tồn và phương hướng phát triển nghề nghiệp.

  • ĐOÀN TUẤNThạch Lam qua đời cách đây đã hơn nửa thế kỉ. Ông để lại cho chúng ta một khối lượng tác phẩm không lớn nhưng chúng đã trở thành một mẫu số vĩnh hằng trong văn học Việt Nam. Tiếc rằng chúng ta đã không thể lưu giữ một bức chân dung nào của Thạch Lam. Thậm chí mộ ông được chôn cất nơi nào, cũng không ai biết.

  • NHẬT CHUNG       (Đọc bài thơ XÓM LỤT của anh Phạm Xuân Phụng)Anh Phụng là bác sĩ ở Bệnh viện Trung ương Huế. Tôi tìm hết trong tuyển tập HAI THẬP KỶ THƠ HUẾ, chỉ duy nhất bài thơ này viết về cảnh lụt lội hàng năm vẫn xảy ra ở mảnh đất nghèo khó. Trong những ngày đau buồn, khi nước vừa rút, trắng bợt trước mắt tôi những bài thơ tình èo uột nỉ non ẻo lả, và đứng dậy trước mắt tôi một bài thơ XÓM LỤT.

  • PHONG  LÊBến không chồng - Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1991 đưa nhanh Dương Hướng lên một vị trí cao trong thành tựu văn học Đổi mới. Không thuộc đội ngũ “tiền trạm” xuất hiện từ đầu những năm 80 như Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Mạnh Tuấn (sinh năm 1948) - người cùng thế hệ với anh (sinh 1949), đến tuổi 40 mới bắt đầu trình làng với tập truyện ngắn Gót son (1989), thế mà chỉ 2 năm sau, Dương Hướng bỗng trở thành một “tên tuổi” với Bến không chồng, góp mặt cùng Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh làm nên một bộ ba sáng giá trong văn học mở đầu thập niên 90, năm năm sau khởi động của công cuộc Đổi mới.

  • HÀ QUANG MINHLTS: Liệu có phải văn hóa chỉ đơn thuần là văn hóa hay nói cách khác là chỉ chứa đựng các yếu tố văn hóa không? Câu trả lời chắc chắn là không. Văn hóa mang cả trong nó tính chính trị và kinh tế. Trong khuôn khổ bài viết này, chỉ nhắc tới tính kinh tế trong văn hóa mà thôi nhưng hy vọng nó sẽ đóng góp nhiều cho công cuộc xây dựng một xã hội văn minh hơn, công bằng hơn.

  • ĐỖ LAI THÚYVề Kinh Bắc với những hội hè, chùa chiền, với đồng chiều cuống rạ, dây bìm bìm, bí lông tơ, giun đất, con gà trụi, châu chấu.. làm người đọc nhớ đến dòng thơ viết về nông thôn, nhất là thơ Nguyễn Bính. “ Trong các nhà thơ cùng thời viết về nông thôn như Bàng Bá Lân, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ... có lẽ chỉ có Nguyễn Bính là nhận thức sâu sắc được sự thay đổi của thôn quê trước “ cuộc xâm lăng” của đô thị.

  • TRẦN VĂN TOÀN - NGUYỄN XUÂN DIÊN1. Ảnh hưởng của Thơ Đường đối với Thơ Mới là một vấn đề từ lâu đã được đề cập tới. Ngay từ năm 1942, Hoài Thanh- Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam mặc dù giành nhiều trang để miêu tả ảnh hưởng của thơ Pháp (đặc biệt là trường phái Tượng trưng) nhưng các ông đã trân trọng và có một chút hứng thú đặc biệt về ảnh hưởng của Thơ Đường đối với Thơ Mới (điều này được bộc lộ qua công phu miêu tả, khảo cứu và cụ thể hơn từ chính số lượng trang viết). Khi phân chia các dòng mạch Thơ Mới, Hoài Thanh- Hoài Chân nói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng của thơ Pháp, dòng mạch mang tính cách Việt, đồng thời cũng nói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng từ Đường thi.

  • HOÀNG NGỌC HIẾN…Trong thời kỳ đổi mới xuất hiện nhiều tác phẩm cảm hứng phê phán rất mạnh. Có những quan điểm và giọng điệu phê phán rất khác nhau: xót xa và lo thương, căm uất và hằn học, tỉnh táo và điềm đạm... Cảm hứng phê phán mang tinh thần hài hước khoan hòa sẽ tạo một vị trí đặc biệt cho Nguyễn Việt Hà trong văn xuôi Việt Nam đương đại…

  • ALEXANDER GENISTrên thị trường Mỹ đã xuất hiện những cuốn sách điện tử đầu tiên. “Softbook” - một đĩa điện tử có màn hình bọc da. Sức chứa - 100 000 trang, trọng lượng - 15 kg, giá cả - 300 đôla cộng 10 đôla kết nối mỗi tháng. “Paketbook” giá 500 đôla, nhưng đi kèm với nó phải có máy tính cá nhân. “Dedicate Reader” - một sổ tay điện tử. Nó giống như một cuốn sách thực sự, có một màn hình kép chứa các bản vẽ, bản đồ, sơ đồ, bảng biểu. Giá là 1500 đôla. Như kinh nghiệm cho thấy, không ai thích đọc văn bản theo màn hình, vì thế tại viện nghiên cứu “Media-lab” người ta đang tìm cách chế tạo thứ “mực điện tử” - những cái bao hết sức nhỏ có thể tùy theo cường độ và hướng của dòng điện sắp xếp lại với nhau để tạo thành văn bản. Theo cách đó, gần như loại sách bằng giấy thông thường có thể được in lại - thay một nội dung này bằng một nội dung khác. Tờ “New York Times” viết: “Ngay giờ đây đã thấy rõ sách điện tử là điều tất yếu. Nếu như không phải là sự thay thế sách in, thì cũng là sự luân phiên nó”. (Theo báo chí)