Đôi dòng tản mạn về con-người-thơ Trịnh Công Sơn

15:26 01/04/2016

KỶ NIỆM 15 NĂM NGÀY MẤT NHẠC SĨ TRỊNH CÔNG SƠN     

LÝ TOÀN THẮNG
(Viết tặng VH và BH)

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua nét vẽ của Đinh Cường

Tôi không có cái may mắn, như nhiều người, được là bạn của ông, hoặc ít nhất cũng được ông nhớ tên nhớ mặt. Tuy rằng, tôi cũng có diện kiến ông hai lần, đều ở Sài Gòn, có lẽ phải từ những năm 80 gì đó, và đều là do đi uống bia với thầy Cao Xuân Hạo, vô tình chạm mặt ông, bắt tay nói dăm câu ba điều. Lúc ấy bia đang còn rất hiếm, hình như chỉ bán ở một vài nơi, trong đó có Nhà khách Thành ủy Bến Nghé - nơi tôi được gặp ông.

Thời đó tôi cũng chưa thích ‘nhạc Trịnh’, tôi đang còn mải mê với những bản nhạc không lời của những Paul Mauria, Francis Goya, James Last. Phải sau này, khi không còn trẻ, đã qua những trải nghiệm thăng trầm, tôi mới dần dà thích nghe ông, hay nói đúng hơn - nghe những tình khúc của ông, vì trong đó phần ca từ của ông thực sự làm tôi kinh ngạc: có những câu, những đoạn tài hoa như thơ - thơ hay, của những nhà thơ tài danh hiếm hoi!

Tuy thế, vì nhiều lí do, cũng chưa bao giờ tôi viết về ca từ trong những tình khúc hay nhất của Trịnh Công Sơn. Phải mãi gần đây, một chiều buồn, ngồi nghe mấy người bạn cùng nghề ngôn ngữ học hát ‘nhạc Trịnh’, chơi ghi ta mộc, bỗng tự dưng thấy nhớ ông và muốn viết về ca từ, về con-người- thơ trong những tình khúc rất đẹp và buồn của ông… Thế rồi mấy người bạn giục, khuyên nên viết về ca từ của tình khúc Đêm thấy ta là thác đổ, vì đó là thơ - hơn thế, hình như thầy Hoàng Ngọc Hiến có đề nghị xếp vào danh sách những bài thơ tình hay nhất thế kỉ XX. Bây giờ… trước mắt tôi là bản ca từ ấy (cũng do mấy người chép hộ). Và tôi bắt đầu đọc, bắt đầu nghĩ.

*

Thơ ‘Tây’ (như thơ Nga, thơ Anh, thơ Pháp) cũng như thơ ‘Ta’/thơ Việt đều có câu chuyện vần điệu, nhịp điệu. Nhưng thơ Tây khác hẳn thơ Ta ở một điểm căn bản: tổ chức ngữ âm của nó, âm luật của nó là do sự bố trí các âm tiết có Trọng âm và Khinh âm (không có trọng âm) trong dòng thơ, câu thơ mà có; còn thơ Ta thì khác - ấy là câu chuyện sắp xếp, hòa phối các thanh Bằng thanh Trắc (trong số 6 thanh: Ngang, Huyền, Sắc, Nặng, Hỏi, Ngã) của một ngôn ngữ có thanh điệu. Rồi trong nội bộ thanh Bằng thanh Trắc lại còn chia ra: Bằng Cao (thanh Ngang, không ghi dấu), Bằng Thấp (thanh Huyền), Trắc Cao (thanh Sắc, thanh Ngã), Trắc Thấp (thanh Nặng, thanh Hỏi). Câu thơ Việt nhờ những Bằng - Trắc, Cao - Thấp đó mà khi trầm khi bổng, khi lên khi xuống, với những ấn tượng thanh âm mà trong truyền thống từ chương và thi pháp xưa, cổ nhân đã từng chỉ giáo: thanh Bằng thì uyển chuyển du dương, như con đường bằng phẳng, (nghe) buồn nhưng êm ả; thanh Trắc thì không du dương uyển chuyển, như con đường mấp mô lên xuống, trong đó: hai thanh Sắc, Nặng thì nghe buồn nhưng trong mà xa (khi ở trong các tiếng có âm cuối là các phụ âm -p,- t,- c,- ch thì nghe ngắn, thẳng mà gấp gáp, thúc giục); hai thanh Hỏi, Ngã thì nghe mạnh, đẹp và cao. Cho nên, nếu xét ca từ trong tình khúc Đêm thấy ta là thác đổ từ góc độ thi ca, như một thi phẩm, thì cũng phải bắt đầu trước hết, và quan trọng nhất, từ âm luật Bằng - Trắc và Cao - Thấp của nó.

*

Ca từ của tình khúc Đêm thấy ta là thác đổ là một thi phẩm lạ, độc đáo - ấy là vì nó không tuân theo những khuôn phép thông thường, vốn có cuả các ‘thể loại thơ’. Thi phẩm, như một thứ cây lai ghép: nó vừa ‘thất ngôn’ (7 chữ) lại vừa ‘lục ngôn’ (6 chữ). Truyền thống thơ Việt cũng có một trường hợp như thế; đó là thơ ‘song thất lục bát’: hai câu 7 chữ lai ghép với hai câu 6 - 8 chữ (lục bát). Toàn ca từ/bài thơ có 28 câu, 2 lời, mỗi lời 7 câu thơ 7 chữ và 7 câu thơ 6 chữ; dựa theo cả phần nhạc và phần lời có thể chia làm 3 trường đoạn nhạc và 3 khổ thơ như sau.

I
Một đêm bước chân về gác nhỏ
Chợt nhớ đóa hoa tường vi
Bàn tay ngắt hoa từ phố nọ
Giờ đây đã quên vườn xưa


II
Một hôm bước qua thành phố lạ
Thành phố đã đi ngủ trưa
Đời ta có khi là lá cỏ
Ngồi hát ca rất tự do


III
Nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà
Từ những phố kia tôi về
Ngày xuân bước chân người rất nhẹ
Mùa xuân đã qua bao giờ
Nhiều đêm thấy ta là thác đổ
Tỉnh ra có khi còn nghe


Tất cả các khổ thơ đều được tổ chức theo lối - bắt đầu là một câu bảy chữ, rồi tiếp theo là một câu sáu chữ, và cứ thế lặp lại cho đến hết bài.

Một người từng làm thơ (hay rất yêu thơ) hẳn biết rằng: thơ 7 chữ âm luật khác với thơ 6 chữ; cho nên phải xem xét riêng từng loại một. Hãy thử phân tích kỹ khổ mở đầu tình khúc ở Lời I làm ví dụ minh họa. Khổ này có hai câu thơ 7 chữ:

Một đêm bước chân về gác nhỏ
Bàn tay ngắt hoa từ phố nọ


Cuối dòng là vần Trắc (nhỏ, nọ), với một cách bố trí thanh điệu ở ba vị trí bắt buộc ‘phân minh’ 2, 4, 6 (các chữ được in đậm) theo mô hình: Bằng (2) - Bằng (4) - Trắc (6). Chúng làm ta nhớ đến những câu thơ ‘thất ngôn’ kinh điển của Bà Huyện Thanh Quan: “Lom khom dưới núi tiều vài chú”, cũng với vần Trắc cuối dòng như thế, nhưng với một mô hình âm luật Bằng- Trắc khác hẳn: Bằng - Trắc - Bằng. Hay câu thơ mở đầu của Huy Cận trong thi phẩm Tràng giang bất hủ: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”, cũng với vần Trắc cuối dòng như thế, nhưng cũng với một mô hình âm luật Bằng - Trắc khác hẳn :Trắc - Bằng - Trắc. Như ta có thể dễ dàng nhận thấy qua trường hợp Bà Huyện Thanh Quan và Huy Cận, thơ ‘thất ngôn’(7 chữ) thường mô hình âm luật phải là: Bằng - Trắc - Bằng hay Trắc - Bằng - Trắc. Điều này ta không thấy ở ba dòng thơ 7 chữ trên của Trịnh Công Sơn, bởi Trịnh Công Sơn đã ‘phá cách’ vượt ra ngoài những khuôn vàng thước ngọc của thơ ‘thất ngôn’ - ông đã chọn một mô hình âm luật bất thường’: Bằng (2) - Bằng (4) - Trắc (6). Hơi thơ của ông vì thế nghe lạ lẫm, nhưng hay (và nó phù hợp với phần nhạc trong tình khúc của ông, như ta sẽ thấy ở phần dưới). Hãy nhớ lại tài hoa Hàn Mạc Tử, ông cũng từng ‘phá cách’ như vậy, khi mở đầu tuyệt tác Đây thôn Vĩ Dạ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ” cũng là với vần Trắc cuối dòng, nhưng mà với một mô hình âm luật Bằng - Trắc bất thường: Bằng - Bằng - Bằng.

Bây giờ ta hãy xem tiếp sang hai câu thơ 6 chữ ở khổ đầu ca từ:

Chợt nhớ đóa hoa tường vi
Giờ đây đã quên vườn xưa


Lại cũng là những dòng thơ lạ, bất ngờ một cách tài hoa về phương diện âm luật. Một mặt, thơ 6 chữ nếu theo mô hình thơ lục bát thì phải là vần Bằng ở cuối dòng, và Trịnh Công Sơn đã theo như vậy. Nhưng mặt khác, về Bằng Trắc thì ông lại ‘phá cách’ một cách mạnh mẽ, trong ba câu thơ 6 chữ trên ông không hề theo cái mô hình âm luật của thơ lục bát là: Bằng - Trắc - Bằng (B - T - B) thường thấy ở dòng lục: “Yêu nhau cởi áo cho nhau” (Ca dao); “Ngày xuân con én đưa thoi” (Truyện Kiều), mà ông biến hóa:

Chợt nhớ đóa hoa tường vi: T - B - B
Giờ đây đã quên vườn xưa: B - B - B

Nghĩa là xét từ góc độ lí luận thi ca, phần lời/ca từ trong Đêm thấy ta là thác đổ là thơ làm theo lối ‘thơ tự do’ đương thời, chứ không phải theo lối ‘thơ cách luật’ truyền thống. Nếu bây giờ ghép trở lại ba câu thơ 7 chữ với ba câu thơ 6 chữ, như trong khổ mở đầu tình khúc, ta sẽ có mô hình âm luật của chúng như sau:

Bằng (2) - Bằng (4) - Trắc (6)
Trắc (2) - Bằng (4) - Bằng (6)
Bằng (2) - Bằng (4) - Trắc (6)
Trắc (2) - Bằng (4) - Bằng (6)

Thử đọc lên, nghe đã thấy nhạc, đã thấy một âm điệu trong sự hòa phối các thanh Bằng - Trắc, Cao - Thấp ở sáu dòng thơ. Có thể nghĩ đến một câu hỏi thú vị ở đây: cái con-người-thơ trong Trịnh Công Sơn là ‘phá cách’, tự do - nhưng là ông ‘muốn’ vậy hay ông ‘phải’ vậy? Câu trả lời có lẽ là cả hai, bởi ông không có tự do tuyệt đối ở đây. Trịnh Công Sơn là người-nhạc- làm-thơ (hơn là người-thơ-viết-nhạc) nghĩa là ông luôn luôn phải nương theo Nhạc khi làm thơ (trừ khi ông viết lời trước nhạc, hoặc phổ thơ người khác).

Hãy thử nhìn lại phần nhạc và phần lời mở đầu tình khúc, ta sẽ thấy ngay cái không-tự-do tuyệt đối ấy của ông - cái bó buộc không sao tránh khỏi của mối quan hệ qua lại giữa 6 thanh tiếng Việt (Ngang, Huyền, Sắc, Nặng, Hỏi, Ngã) với 7 nốt nhạc cơ bản (Đồ, Rê, Mi, Pha, Son, La, Si, Đô). Ứng với câu hát-dòng thơ 7 chữ đầu tiên là 7 nốt nhạc; ứng với 7 nốt nhạc ấy là những chữ/âm tiết mang thanh Bằng - Cao (B - C), Bằng - Thấp (B - Th) hay Trắc - Cao (T - C), Trắc - Thấp (T - Th) khác nhau được bố trí khéo léo trong ca từ:

La Đố Si La Si Mì

Một đêm bước chân về gác nhỏ

t-th B-C t-c B-C b-th T-C t-th

Ứng với câu hát - dòng thơ 6 chữ thứ hai là 6 nốt nhạc; ứng với 6 nốt nhạc ấy là những chữ/âm tiết mang thanh Bằng - Cao (B - C), Bằng - Thấp (B - Th) hay Trắc - Cao (T - C), Trắc - Thấp (T - Th) khác nhau của ca từ:

Sol Fa Mi Rê Mì

Chợt nhớ đóa hoa tường vi

t-th T-C t-c B-C b-th B-C

Tiếp theo, câu hát-dòng thơ (7 chữ) thứ 3 khá đặc biệt, phần nhạc thì giống như ở câu (thơ 7 chữ) thứ 1 nhưng phần lời thì khác - Trịnh Công Sơn thay đổi âm điệu và âm vực ở chữ thứ 1 của câu hát:

Mi La Đố Si La Si Mì

Bàn
tay ngắt hoa từ phố nọ

b-th B-C t-c B-C b-th B-C t-th

Đến câu hát - dòng thơ (6 chữ) thứ 4, câu cuối cùng của khổ thơ mở đầu, Trịnh Công Sơn tiến xa hơn, ông đổi mới cả phần nhạc lẫn phần lời:

Mi Si Rế Đố Si Đố

Giờ đây đã quên vườn xưa

b-th B-C t-c B-C b-th B-C

Cả bốn câu hát - dòng thơ ở trường đoạn I mở đầu tình khúc này, Trịnh Công Sơn đều bắt đầu bằng một nốt vừa phải, nốt Mi - mà ứng với nó ông chọn các từ có thanh Thấp (Huyền, Nặng): Một, Chợt, Bàn, Giờ. Thế nhưng sang hai câu hát - dòng thơ mới của trường đoạn II, theo dòng cảm xúc, Trịnh Công Sơn lại khác - ông mở đầu câu hát với một nốt cao hơn, nốt La, rồi nương theo đó dâng lên, cao nữa với những nốt Đố, Rế, Mí, Fá tiếp theo:

La Mí Fá Mí Rế Mí La

Một hôm bước qua thành phố lạ (7 chữ)

La Rế Mí Rế La Đố

Thành phố đã đi ngủ trưa (6 chữ)

Có điều phần nhạc thì được Trịnh Công Sơn biến hóa đi như vậy, nhưng phần lời thì ông lại không thay đổi, vẫn giữ nguyên sự phân bố, hòa phối các thanh Bằng - Trắc và Cao - Thấp như ở trường đoạn/khổ thơ I, cụ thể là:

t-th B-C t-c B-C b-th T-C t-th (7 chữ)

b-th T-C t-c B-C t-th B-C (6 chữ)

Có điều hơi lạ nữa là ở đây mặc dù nốt La cao hơn nốt Mi, nhưng Trịnh Công Sơn vẫn dùng thanh Thấp giống như ở nốt Mi: Một, Thành (chứ không dùng thanh Cao). Có lẽ là lí do ngữ nghĩa buộc ông phải vậy, ông không thể tự do khi cần diễn đạt những tình ý bằng lời: Một hôm, Thành phố.

Ở hai câu hát tiếp theo, cảm xúc sau khi dâng lên bây giờ dường như đã lắng xuống, dường như Trịnh Công Sơn đã bình tâm hơn nên ông quay trở lại với giai điệu đã sử dụng ở trường đoạn I, thấp và đều hơn - với những thanh Bằng - Trắc, Cao - Thấp tương ứng:

La Đố Si La Si Mì

Đời ta khi cỏ

b-th B-C t-c B-C b-th T-C t-th

Sol Fa Mi Rê Mì

Ngồi hát ca rất tự do

b-th T-C b-c T-C t-th B-C

Nhìn một cách tổng quan, trong cả tình khúc Đêm thấy ta là thác đổ, ở Lời I, Trịnh Công Sơn đã sử dụng tất cả là:

+ Phần nhạc: 4 kiểu giai điệu ở 7 câu thơ 7 chữ và 6 kiểu giai điệu ở 7 câu thơ 6 chữ; tổng cộng là 10 kiểu;

+ Phần lời: 4 loại âm luật Bằng - Trắc và Cao - Thấp ở 7 câu thơ 7 chữ, và 7 loại âm luật ở 7 câu thơ 6 chữ; tổng cộng là 11 loại.

Có một điều về nguyên tắc ta nên chú ý ở đây: ca từ ở một bài hát dù ‘thơ’ đến đâu nó cũng được tổ chức, về thanh âm, có chỗ khác với một bài thơ thông thường vì hai lẽ. Thứ nhất, trong một ca khúc sự khu biệt chỉ có hai bậc ‘Cao - Thấp’ của thanh điệu không đủ khả năng thể hiện hết những phân cách tinh tế ở bảy nốt nhạc (chưa kể tới sự Thăng - Giáng). Thứ hai, viết lời cho một ca khúc người nhạc sĩ chú tâm trước hết đến sự đối lập Cao - Thấp (tức là âm vực - pitch của thanh điệu) ở các từ ngữ hơn là sự đối lập Bằng - Trắc của chúng; điều này không giống như khi làm thơ người thi sĩ trước hết và chủ yếu phải quan tâm đến âm luật Bằng - Trắc vốn là cái hồn cốt làm nên các thể loại thơ. Cho nên, xét một ca từ như trong tình khúc Đêm thấy ta là thác đổ, ta có thể bỏ qua âm điệu Bằng - Trắc, chỉ xét âm vực Cao - Thấp của những thanh mà Trịnh Công Sơn đã lựa chọn cho các nốt nhạc tương ứng ở mỗi câu hát, và ta sẽ thấy sự lựa chọn này ở Trịnh Công Sơn rất khéo léo và tinh tế - đặc biệt là ở 5 vị trí đầu.

Quý bạn đọc có thể tự hỏi: vì sao Trịnh Công Sơn không chọn một giai điệu khác cho phần nhạc, và từ đó là một âm điệu Bằng - Trắc, một âm vực Cao - Thấp khác cho phần ca từ, phần thơ của tình khúc? Chẳng hạn, ông có thể thay đổi phần nhạc, để có một phần lời mới mở đầu cho tình khúc, bắt đầu bằng một vần Bằng ở câu thơ 7 chữ, và sau đó là một vần Trắc ở câu thơ 6 chữ. Giá sử (vâng, giá sử thôi!) ông hạ bút:

Về gác nhỏ một đêm bước chân (7 chữ)
Đóa hoa tường vi chợt nhớ (6 chữ)
Từ phố nọ bàn tay ngắt hoa (7 chữ)
Giờ đây đã quên vườn (6 chữ)

Nghĩa là mọi sự ngược hẳn lại với phần ca từ đã có trong tình khúc, ở mỗi dòng thơ cũng như trong cả khổ thơ. Quý bạn đọc sẽ tìm ra câu trả lời (thậm chí không cần phải phân tích gì nhiều lắm); nếu nhớ lại thi sĩ Hàn Mạc Tử, người cũng mở đầu thi phẩm Đây thôn Vĩ Dạ với một kiểu âm luật Bằng - Trắc ‘phá cách’ như thế (y như ở tình khúc của thi nhân họ Trịnh):

Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mát quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền


Nếu Hàn Mạc Tử (giả sử…) cũng chọn một nhạc điệu khác, một âm hưởng khác, chẳng hạn bắt đầu khổ thơ bằng một vần Bằng,và sau đó là một vần Trắc (như ta vừa mới giả tưởng ra ở Trịnh Công Sơn); lệ như:

Thôn Vỹ sao anh không về chơi
Hàng cau nắng mới lên nhìn nắng
Như ngọc mát quá xanh vườn ai
Che ngang mặt chữ điền lá trúc


Khi ấy mặc dù về phương diện âm luật Bằng - Trắc ở đây không có gì sai, nhưng chắc là quý bạn đọc cũng sẽ như tôi, sẽ buồn lắm lắm!...

L.T.T  
(TCSH326/04-2016)





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • NGUYỄN VIỆT ĐỨC1.Về bản sắc văn hoá dân tộc.Mỗi dân tộc đều có một tiếng nói riêng, một cốt cách riêng được phản ánh thông qua những giá trị tinh thần và vật chất cụ thể, đó là bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc đó.

  • VĨNH PHÚCNghiên cứu, phê bình, giới thiệu Dân ca Nam Bộ trong giai đoạn này chúng tôi chỉ sưu tập được 15 bài, tuyển chọn và sử dụng 9 bài. Hầu như đều nổi trội lên 2 thể loại chủ yếu là Hò và Lý, kể cả những bài viết mang tính tổng quan về vùng dân ca này.

  • MẶC HY                Hồi ký "Lúa vàng! Lúa vàng trên cánh đồng làng, tang tình tang, tang tình tang... Đêm nay, gặt mà lúa về... ta đập mà ta xay, ta giã mà ta giần..."

  • MAI VYSự sáng tạo nghệ thuật của giới nghệ sĩ biểu diễn xuất phát từ cảm xúc trước tác phẩm, trước cuộc sống. Đó là đặc thù trong quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực. Mối quan hệ đó bao giờ cũng là mối quan hệ có tính chất cảm tính. Người nghệ sĩ chân chính nào cũng có khả năng cảm xúc rất nhạy bén trước đối tượng được thể hiện. Họ có khả năng lồng trí tưởng tượng vào trong quá trình sáng tạo cốt để thâm nhập sâu hơn vào bản chất của các sự vật.

  • NGUYỄN THỤY KHACó thể nói, khi có loài người là có âm nhạc. Thực ra những âm thanh trong thiên nhiên, vũ trụ có trước loài người. Nhưng loài người không chỉ nghe được nó như loài thú chỉ đạt tới cảm xúc, mà còn nhận thức nó, bắt chước nó để tạo ra những âm thanh của mình. Một cành cây hay một khúc xương, người làm ra cây sáo. Sợi dây cung trở thành dây đàn. Một tấm da thú căng ra là thành cái trống.

  • MAI VYÂm nhạc là một bộ môn nghệ thuật có nhiều loại hình phong phú và đa dạng, từ làn điệu dân ca mộc mạc, từ nét nhạc tấu đơn giản của cây đàn nghiệp dư, đến những bản a-ri-a hết sức phức tạp trong ô-pê-ra hay các hình thức âm nhạc giao hưởng khác nhau như liên khúc giao hưởng, Trường ca giao hưởng.

  • NGUYỄN THỤY KHAVới độ dày gần nửa mét, gồm 7 quyển sách chia làm 5 tập (có tập 2 và tập 5 gồm 2 quyển) và bìa sách trình bày đẹp, trang trọng, bộ sách “Hợp tuyển tài liệu Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX” là bộ sách âm nhạc đồ sộ và công phu nhất của ngành âm nhạc từ trước đến nay do Viện Âm nhạc Việt chủ biên và ấn hành vừa giới thiệu trước công luận gần đây.

  • NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNĐã gần một năm, Anh từ biệt trần gian về cõi vĩnh hằng, tâm tưởng tôi vẫn vấn vương với Anh, vẫn luôn mường tượng thấy Anh với nụ cười tươi tắn, rất hồn nhiên, lại nhiều lúc thấy Anh đang mơ màng chìm trong một thế giới riêng tư xa thẳm nào đó.

  • NHẤT LÂMVâng.Ca khúc thời ấy thật hào hùng, sôi sục và đầy lãng mạn.Đó là đêm trước của tháng Tám năm 1945, những năm tháng của phong trào Việt Minh chuẩn bị cho ngày toàn dân vùng lên đánh đổ mọi thế lực thù địch để giải phóng dân tộc, đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do. Và cái mốc đó, theo tôi là từ ngày cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) năm 1941.

  • VIỆT ĐỨCVề với Trường Sơn, về với kỷ niệm của một thời khói lửa đạn bom là tiếng lòng, là tâm nguyện của nhiều hội viên Hội nhạc sỹ Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế kể từ sau ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam 30/4/1975. Và sau gần 30 năm, mùa xuân 2004, tâm nguyện ấy đã trở thành hiện thực khi kỷ niệm của một thời chiến tranh cứ ào ạt ùa về theo bước chân các nhạc sỹ trở lại tuyến biên giới miền Tây A Lưới.

  • PHAN THUẬN THẢOGagaku - Nhã nhạc - là loại hình âm nhạc cung đình của Nhật Bản, đối lập với Zokugaku, tức âm nhạc dân gian. Thuật ngữ Gagaku được tiếp thu từ Trung Hoa cùng với sự tiếp nhận một bộ phận các nhạc khí và bài bản từ hệ thống âm nhạc cung đình phong phú và đặc sắc của đất nước Trung Hoa rộng lớn và giàu truyền thống văn hoá.

  • LÊ PHÙNGThế là không còn phút giây mong ngóng, đợi trông - “Ngày em đến đôi mắt long lanh, thơ ngây mơ màng, ngày em đến đôi má hây hây hương thơm nồng nàn...” Bởi chàng nhạc sĩ lãng tử ấy đã ra đi, về với cõi vĩnh hằng. Còn đâu nữa bóng hình của gã si tình say mê, đợi chờ ngày em đến.

  • Nhà thơ - Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo là một tên tuổi nổi tiếng như một nghệ sĩ đa tài Cầm Kỳ Thi Họa trong làng văn học nghệ thuật Việt . Ông là Ủy viên Hội đồng Thơ Hội Nhà Văn Việt Nam, người sáng lập và phụ trách tờ báo Thơ, nay là tạp chí Thơ; ông cũng là một trong những ngưới sáng lập ra Ngày Thơ VN.

  • DƯƠNG BÍCH HÀĐến hẹn lại lên - Festival Huế 2006 đã cận kề. Năm nay, ngoài các loại hình dân ca, dân nhạc, dân vũ; các lễ hội, kịch, tuồng... đặc sắc của Huế, ban tổ chức (BTC) Festival nhấn mạnh một số trọng tâm như: Giao lưu nhã nhạc Việt Nam - Nhật Bản - Hàn Quốc; không gian văn hoá cồng chiêng (nhân cồng chiêng được công nhận là di sản văn hoá); có dàn giao hưởng dân tộc; chương trình thử nghiệm đưa âm nhạc điện tử, nhạc Jar của Pháp kết hợp với âm nhạc truyền thống Huế, âm nhạc Phật giáo; và chương trình âm sắc Việt...

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNGCó ngày bỗng dưng thấy lòng thật quạnh hiu. Một nỗi cô đơn nào đó khôn tả xâm chiếm tâm hồn. Tôi đi hoài, lang thang vô định trên những con đường phố Huế xanh xao ánh đèn vàng, bất chợt lòng vang lên giai điệu quen thuộc một ca khúc nào đó của Trịnh Công Sơn. Tự hát cho riêng lòng mình và thấy nỗi buồn vơi đi, lòng cơ hồ bằng an và niềm vui trở lại.

  • NGUYỄN VIỆT ĐỨCQua tiến trình phát triển của lịch sử âm nhạc thế giới, riêng trong lĩnh vực ca khúc chúng ta đều biết có những ca khúc là của mọi thời đại, có những ca khúc chỉ của một thời, có những ca khúc chỉ của một dòng nhạc phục vụ cho nhu cầu của một lớp công chúng riêng nào đó, có những ca khúc lại phù hợp với khá nhiều lứa tuổi và đông đảo công chúng, có những ca khúc chỉ của một vài ngày, có những ca khúc mãi mãi nằm trên giấy...

  • NGUYỄN THỤY KHAĐọc Dòng nước trong (Ca khúc Bích Anh), Nxb Đà Nẵng, 2006

  • HOÀNG DIỆP LẠCCó sự gắn kết nào đó gần như là định mệnh giữa hai con người Trịnh Công Sơn và Nguyễn Xuân Hoàng. Sơn và Hoàng có cùng quê quán ở huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Và cả hai đã sinh ra ở miền cao nguyên, nơi bụi đỏ và sương mù hoà trộn, tạo thành những hạt huyết dụ trôi chảy theo các mạch máu trong thân thể của những con người xứ bụi mịt mùng.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG(Kỷ niệm 6 năm ngày mất nhạc sĩ Trịnh Công Sơn 1/4/2001 - 1/4/2007)Với dòng - sông - Trịnh, đi về biển rộng là một cuộc hành trình trở về với nguồn cội. Dòng sông tìm về biển cả để thấy được sự mệnh mông, hùng vĩ và tuôn trào của biển cả. Tuy nhiên đấy cũng là sự bắt nguồn cho những vết xước trầm tích trong lòng người ở lại - như cọng rễ hoang nay mới đủ sức đâm lên một mầm nhói!

  • NGUYỄN THỤY KHAVào khoảng năm 1962 ở miền Bắc, bỗng rộ lên một bài tình ca ngắn mang tên “Giã từ”. Bài hát được truyền miệng rộng rãi và nếu có ai đó ký âm thành văn bản thì đều ghi là bài hát Liên Xô (CCCP).