Đôi điều về đọc thơ, phê bình thơ qua một trường hợp cụ thể

08:52 04/09/2008
HỒNG NHULTS: Những cuộc trao đổi mang tính nghề nghiệp về thơ ở tầm "vĩ mô" dường như đang co lại ở tầm "vi mô". Các ý kiến khác nhau, thậm chí ngược nhau trong tranh luận học thuật là chuyện bình thường. Song, sẽ không bình thường khi công cuộc đổi mới của Đảng đã bước vào nền kinh tế tri thức mà vẫn còn những "tư duy thơ" theo cơ chế suy diễn với những mục đích gì đó, ngoài thơ.Nhằm rộng đường dư luận, Sông Hương xin được trao đổi lại một trường hợp cụ thể sau đây.


Tình cờ trong tay tôi có tờ báo Quảng Bình chủ nhật số 4493 ra ngày 21/7/2002 đăng bài "Hồn quê đọng giữa mây trời" (đọc tập thơ "Đám mây lơ lửng" (1) của Hoàng Vũ Thuật -HVT) của tác giả Tạ Đình Nam (TĐN). Đây là một trong số bài tham luận trong cuộc hội thảo do Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Bình tổ chức vừa qua trong dịp tập thơ này đoạt giải A Giải thưởng VHNT Lưu Trọng Lư của tỉnh Quảng Bình.
Sau khi đưa ra những nhận định thành công của tập thơ mà tập trung nhất là "tình cảm đặc biệt của Hoàng Vũ Thuật với làng quê, với bao kỷ niệm nơi chôn rau cắt rốn"... tác giả đã dành phần quan trọng để vạch ra những thiếu sót, khuyết điểm, một số điều cần bàn (chữ của TĐN).
Nhận thấy bài phê bình có nhiều điều không ổn, không được; tôi xin bàn tới những điều cần bàn đó.
1. Tạ Đình viết: "Quan niệm của nhà thơ đối với cuộc sống thực tại vẫn còn nhiều uẩn khúc. Đọc một số bài trong "Đám mây lơ lửng" nhiều lúc tâm hồn ta cảm thấy bâng khuâng một nỗi buồn đối với cuộc đời thực tại". Tác giả dẫn câu "Ta vô vi trong khói hương cầu nguyện" (Cây trần gian) và hạ bút: "Do ảnh hưởng nhất định của học thuyết vô vi nên có lúc nhà thơ có cái nhìn cái nghĩ đối với cuộc sống thực tại còn mang nặng tâm trạng bi quan, buồn chán, thiếu niềm tin".
Tôi thực sự giật mình, ngơ ngác tự hỏi thầm: tác giả nói gì vậy? nghĩ gì vậy? Hay là mình đọc nhầm? Không! Rõ ràng giấy trắng mực đen. Quái lạ! Tôi dở tập thơ của Hoàng Vũ Thuật đọc lại bài "Cây trần gian" 5 khổ mỗi khổ 3 câu. Và đây là khổ thứ hai: "Những giọt lệ từ lâu quên chảy/ Giờ theo cùng ánh sáng hoà tan/ Ta vô vi trong khói hương cầu nguyện"... Có thể "tự sự hoá" bài thơ như sau: Mùa Phật Đản 2540 (1996) nhà thơ đi xem lễ, nhìn thấy những ngọn nến cháy như từ lâu quên cháy, giờ ròng ròng như những giọt lệ, hoà tan vào bao nhiêu ánh sáng lung linh của đêm hội lễ chùa. Cả vầng trăng lấp ló sau cành hoa đại, trăng cũng hiện về như quá khứ chợt hiện về. Và nàng ở đằng kia thì lơ đãng, nàng chẳng nhìn thấy gì cả, niềm vui, nỗi đau, cùng sự xô đẩy của đám đông xem hội như vòng luân hồi xô đẩy... Nhà thơ thốt nhiên xao động, nghĩ về lẽ đạo, về cảnh đời, về tình người trong trần gian cuộc thế...
"Ta vô vi trong khói hương cầu nguyện", tôi nghĩ đây là một câu thơ vừa đúng tâm trạng vừa hay! Có gì đâu mà tác giả phê bình Tạ Đình nặng lời qui chụp: "mang nặng tâm trạng bi quan buồn chán, thiếu niềm tin"? Thiết nghĩ cái "vô vi" mà Hoàng Vũ Thuật nói ở đây là cái vô vi của cung bậc tình cảm, của sự giằng kéo con tim vì... nàng; không phải là học thuyết vô vi như Tạ Đình đã gán ghép một cách thô thiển. Đó là chưa nói trong bài của mình, Tạ Đình đã dẫn giải sai lệch về học thuyết vô vi. Anh viết: "Như chúng ta đã biết, vô vi là tâm điểm của học thuyết Trang Tử..." Không phải! Vô vi chính là học thuyết của LãoTử (tức Lão Đam), nhà tư tưởng cổ đại Trung Hoa (vào khoảng thế kỷ 5-6 trước Công nguyên). "Đạo Đức kinh" là tác phẩm triết học của Lão Tử. Nét nổi bật của học thuyết Lão Tử nêu trong sách này là: Nó có một số nhân tố duy vật luận và phép biện chứng thô sơ. Lão Tử thừa nhận sự tồn tại của thế giới khách quan với các hiện tượng khách quan; thế giới đó luôn vận động theo những quy luật khách quan. Lão Tử gọi đó là ĐẠO. Còn ĐỨC là tên gọi các khái niệm của sự biểu hiện đặc thù của ĐẠO trong từng hiện tượng cụ thể, ví dụ như lửa thì đức của nó là nóng và bốc lên cao, như nước thì đức của nó là mềm và chảy xuống chỗ thấp. Lão Tử tuyệt đối hoá tác dụng và tính phổ biến của quy luật khách quan rồi từ đó rút ra thuyết vô vi, thực tế là phục tùng, giao phó số phận cho những quy luật đó, phủ nhận và thủ tiêu mọi khả năng đấu tranh và sáng tạo của con người.
Còn Trang Tử (tức Trang Chu, 355 đến 275 trước Công nguyên) được coi là người kế thừa học thuyết Lão Tử, nên người đời sau thường gọi là "Học thuyết Lão - Trang". Hoa kinh là tác phẩm triết học của ông. Trang Tử đã hệ thống hoá sâu sắc phần chủ nghĩa duy tâm của Lão Tử, còn phần phép biện chứng thì ông hạ thấp nó xuống thành thuyết tương đối luận. Do thế, ông chủ trương mạnh mẽ với "chủ nghĩa xuất thế" (tức thoát tục).
Như vậy Lão, Trang tuy người ta vẫn gọi gộp nhưng vẫn là hai. Học thuyết của các ông có điểm giống nhau, nhưng lại khác nhau, không thể lẫn lộn. Xin lỗi, tôi phải nói dài dòng như vậy vì theo tôi, người viết phải biết tôn trọng người đọc và về một mặt nào đó, phải xem người đọc là thầy của mình. Bút đã sa xuống rồi thì rành rành rọt rọt, đừng có dại dột mà nói, viết lơ mơ; dẫn giải sai sót!
2.Tác giả bài phê bình còn dựa vào một số câu, một số đoạn trong các bài thơ khác rồi vận dụng nhận thức vừa khô cứng vừa tư biện của mình để phê phán, bất chấp đặc trưng, ngữ ngôn, thi pháp... của thể loại. "Một pho tượng tạc bằng nỗi cô đơn/ Giữa dòng người lạc lõng " (Ngã tư thánh đường). Chỉ có một chữ "cô đơn" trong câu mà tác giả lên án là "nhà thơ cảm thấy mình cô đơn trong dòng chảy cuộc sống"(!) Rồi: "Đời người bao nhiêu khổ hạnh/ Niềm vui một kiếp bèo trôi" (Thi sĩ đen) là "buồn chán thất vọng"(!) Đến: "Người ơi người hay trăng muộn/ Mọc xế góc đời ta đây/ Ta mong manh và lơ lửng/ Vô hồn giữa những đám mây" (Vầng trăng hiền thục) là "mất niềm tin vào con người" v.v... và v.v...
Thơ là tình cảm, là tâm trạng. Đã là tâm trạng thì mỗi người mỗi vẻ. Đưa nó vào nghệ thuật một cách chân thực, tất cả đều được cảm thông, đều được trân trọng. Có như thế mới đa dạng, mới phong phú và mới thơ! Không ai lại có thể dở hơi áp đặt tâm trạng của nhà thơ phải khuôn bó theo như tâm trạng của mình, càng không nên suy diễn chủ quan rồi rút ra kết luận vội vàng hoặc phiến diện. Cuộc sống thực tại giờ đây bên cạnh bao nhiêu sự tích anh hùng, bao nhiêu hành động cao đẹp của con người mới, của xã hội mới hướng tới tương lai rạng rỡ; còn có cũng bao nhiêu là tệ nạn, là tham nhũng, dối gian lừa lọc... có cả những sự việc, những vụ án khủng khiếp làm ta đau đớn tận tâm can. Nhà thơ lẽ nào lại không xông vào cuộc bằng ngòi bút của mình, lại thờ ơ hoặc lại chỉ tô vẽ bên ngoài? Sự đau buồn trong thơ là một vẻ đẹp hiện hữu, hơn nữa là một vẻ đẹp khách quan. Tôi nhớ một nhà thơ đã nói đại ý: "Một trong những quyền của thi sĩ là quyền được buồn!" Như vậy, đau buồn đâu phải là thứ tình cảm không nên, tình cảm lạc điệu với cuộc sống thực tại? Đôttôiepxki chẳng đã từng nói: "Cái Đẹp cứu rỗi thế giới" đó sao! Lẽ nào trong Cái Đẹp của Đôt lại không bao gồm cả vẻ đẹp của sự buồn đau? Các nhà thơ buồn đau, thậm chí thất vọng đi nữa cũng là để nói lên điều muôn thuở mà con người trong cuộc sống luôn mong hướng tới: niềm vui và hi vọng! Từ khi Đảng ta chủ trương sự nghiệp đổi mới đến giờ (trong đó có đổi mới văn học nghệ thuật), điều này chẳng còn là "vùng cấm", chẳng còn là lạ đối với đông đảo người đọc nữa, kể cả những người đọc bình thường...
Hoàng Vũ Thuật viết: "Cuộc sống quăng tôi lên phía trước/ Dù gai đâm buồn tẻ dành cho..." (Người đàn bà ngồi bên cửa sổ) hay một đoạn trong "Những đứa trẻ không quê" mà Tạ Đình Nam đã dẫn ra: "Tôi hỏi gió, gió lặng thầm bay đi/ Tôi hỏi sương, sương rơi ngoài cửa sổ/ Tôi hỏi sao đêm, sao đêm ngấn lệ/ Tôi hỏi ánh chiều, chiều xế bên sông"... thì rõ ràng đấy là phương hưóng, một phương hướng tích cực, không chịu lùi trước khó khăn; đấy là lời giải đáp, một lời giải đáp đầy tính nhân văn rồi! Vậy không biết vì sao và không thể nào hiểu nổi khi tác giả Tạ Đình lại nói ngược, lớn tiếng la lên là: "nhà thơ mất niềm tin, mất phương hướng, tự đi tìm nguyên nhân nhưng vẫn không có lời giải đáp!". Hoặc là Tạ Đình Nam muốn thơ phải trình bày phương hướng, lời giải đáp một là hai là... như trong văn kiện, hoặc anh không đọc khổ cuối của bài thơ trên đây: "Tôi nhìn ra bốn phía mênh mông/ Đồng trĩu phù sa nhà cao mái phố/ Và tôi bỗng thấy mình xấu hổ/ Khi xuân về cùng những đứa trẻ không quê"!.
Tác giả bài tham luận còn một nhầm lẫn quan trọng, nếu không muốn nói là tai hại, khi cho rằng "thời kỳ 1930-1932 là thời kỳ các nhà thơ mới ta đang lột xác, từ bỏ tháp ngà nghệ thuật của mình để tìm đường về với Cách mạng!" bởi vì theo anh "các nhà thơ mới bế tắc trong thế giới quan và phương pháp sáng tác! ".
Phong trào thơ mới Việt Nam xuất hiện từ 1932 trở về sau, mà một trong những người khởi xướng là Phan Khôi với bài "Tình già". Vậy thì từ năm 30,31 làm gì có phong trào đó để các nhà thơ mới bế tắc?
Thời kỳ 1930-1932 càng không phải là thời kỳ lột xác để tìm đường về với Cách mạng của các nhà thơ mới. Để khỏi làm mất thì giờ của bạn đọc, tôi xin phép không phải dẫn giải nữa. Trong tiến trình văn học Việt , đến các năm 1935,1936 phong trào thơ mới đã chiếm lĩnh trên mọi thi đàn, và là buổi cực thịnh của nó. Trong nhiều sách báo, kể cả các giáo trình văn học, đã có nhiều nhận định và phân kỳ về giai đoạn này, chúng ta có thể đọc bất cứ ở đâu.
Hoàng Vũ Thuật là nhà thơ trưởng thành trong chống Mỹ, cứu nước. Sáng tác của anh nở rộ và đi sâu vào các ngõ ngách của cuộc sống từ sau công cuộc đổi mới của đất nước. Trong giàn hợp xướng thi ca hôm nay, Hoàng Vũ Thuật đóng góp phần của mình bằng một phong cách riêng, giọng điệu riêng không giống ai! Đó là-theo tôi-trên cảm hứng tình yêu, nói cách khác là lấy tình yêu "anh và em" làm chỗ tựa, anh mở rộng ra và len lỏi vào các góc nhỏ, khuất của nhiều mặt cuộc sống: trời trăng sông biển, nhân tình thế thái, chuyện đạo chuyện đời... cả những ngày tháng cụ thể và những con số 1,2...thảy đều lấp lánh ý nghĩa tình người trong đời sống chẳng phải dễ dàng gì hôm nay. Thơ Hoàng Vũ Thuật có nhiều khi nhoè nghĩa, nhoè cả tứ (cái nhoè của ý tại ngôn ngoại), tạo nên một cảm giác lạ lùng, khắc khoải, day dứt khôn nguôi. Anh không hề bị ảnh hưởng hay "đồng điệu tâm hồn" (chữ của Tạ Đình ) với các nhà thơ mới thời tiền chiến. Sự đau buồn của lớp nhà thơ như anh khác xa một trời một vực với sự buồn chán bế tắc của một số nhà thơ mới thời trước. Tôi nói một số bởi vì hoàn toàn không đồng ý với cách nói vơ đũa cả nắm của Tạ Đình : "các nhà thơ mói bế tắc trong thế giới quan và phương pháp sáng tác."Các nhà thơ mới trứ danh như Thế Lữ, Phạm Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận, Anh Thơ... với những tác phẩm như "Nhớ rừng", "Tiếng địch sông Ô", "Gửi hương cho gió", "Lửa thiêng", "Bức tranh quê" v.v...mà là bế tắc cả phương pháp cả cách nhìn à?
3. Một chi tiết trong phần kết của bài phê bình, tác giả Tạ Đình trở đi trở lại và nhấn mạnh: "nhà thơ (HVT) cô đơn, buồn chán, thiếu niềm tin để rồi đi tìm phương hướng giải thoát vào một thế giới khác".
Thế giới nào vậy? Anh suy ra làm tôi nghĩ mãi... Vô vi, Phật, Chúa hay thậm chí "tự giải thoát" bằng một phương tiện nào đó-chiếc cà vạt thay dây chẳng hạn-để rời cõi dương thế?... Tất cả đều buồn cười, đều oan uổng đối với một nhà thơ đầy trách nhiệm, đầy nhân bản với cuộc đời và đầy tình yêu mê đắm với con người như Hoàng Vũ Thuật!
Vậy thì cái gì đây? Tôi không tin là anh Tạ Đình quy kết Hoàng Vũ Thuật về chính trị. Điều này quá hoang đường! Song cái cách viết, cách nhấn của tác giả trong bài viết có dấu hiệu của sự biểu hiện ý định đó.
Nhân đây, tôi xin nói thêm một chút. Trong hai bài thơ... thất tình cuối tập "Đám mây lơ lửng" mà tôi cho là khá thành công, khá độc đáo của nhà thơ, đã bị tác giả bài báo phê: "nhà thơ cảm thấy bi quan về cả số phận tương lai của những đứa con tinh thần của mình". "Thơ chắp cánh cho tâm hồn bay lên chứ không bao giờ trở thành thanh gươm tự giết chết trái tim mình..."(!?)
Chúng ta hãy xem Hoàng Vũ Thuật viết ra sao: "Câu thơ như quả dại rừng sâu/ Như mái chèo bỏ sông đi biền biệt/ Như dòng chữ vẹo xiên vật vã cơn đau..." (Sao ngày xưa trăng tròn làm chi ) và: "Vì anh biết những bài thơ anh viết/ Là thanh gươm tự giết trái tim mình" (Những bài thơ anh viết).
Ôi! Đọc thơ như thế, phê bình thơ như thế... thì còn bàn luận với nhau làm sao được!

Tôi không hề có ý tranh luận hoặc trao đổi gì với anh Tạ Đình cả, tôi vốn rất không quen, thật lòng là rất ngại chuyện này. Nhận thức rằng giờ đây dân trí ta đã phát triển khá cao, xã hội và độc giả đối với văn nghệ chân chính đã từ lâu có con mắt nhìn xanh trong và ưu ái, chấp nhận tất cả những gì cần chấp nhận của các nhà thơ, miễn là trung thực và xây dựng. Đọc bài anh viết; chẳng đặng đừng, tôi phải nêu lên ý kiến của mình. Đó là lẽ thường tình vậy!
Huế, 31-7-2002.
H.N
(nguồn: TCSH số 163 - 09 - 2002)
-------
(1) NXB Hội Nhà văn - Hà Nội 2000

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • MAI KHẮC ỨNGCó thể sau khi dẹp được loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng (968- 979) thống nhất lãnh thổ và lên ngôi hoàng đế, đã đặt được cơ sở ban đầu và xác định chủ quyền Đại Cồ Việt lên tận miền biên cương Tây Bắc vốn là địa bàn chịu ảnh hưởng Kiểu Công Hãn. Trên cơ sở 10 đạo thời Đinh nhà vua Lý Thái Tổ (1010- 1028) mới đổi thành 24 phủ, lộ. Nguyễn Trãi viết Dư địa chí (thế kỷ XV) vẫn giữ nguyên tên gọi đạo Lâm Tây. Tức vùng Tây- Bắc ngày nay.

  • TRẦN ANH VINHÂm vang của những sự kiện xẩy ra năm Ất Dậu (1885) không những vẫn còn đọng trong tâm trí người dân núi Ngự mà còn được ghi lại trong một số tác phẩm. Bài vè “Thất thủ Kinh đô” do cụ Mới đi kể rong hàng mấy chục năm ròng là một tác phẩm văn học dân gian, được nhiều người biết và ngưỡng mộ. Riêng Phan Bội Châu có viết hai bài:+ Kỷ niệm ngày 23 tháng Năm ở Huế (Thơ)+ Văn tế cô hồn ngày 23 tháng Năm ở Kinh thành Huế.

  • HOÀNG CÔNG KHANHCó một thực tế: số các nhà văn cổ kim đông tây viết tiểu thuyết lịch sử không nhiều. Ở Việt Nam càng ít. Theo ý riêng tôi nguyên nhân thì nhiều, nhưng cơ bản là nhà văn viết loại này phải đồng thời là nhà sử học, chí ít là có kiến thức sâu rộng về lịch sử. Cũng nhiều trường hợp người viết có đủ vốn liếng cả hai mặt ấy, nhưng hoặc ngại mất nhiều công sức để đọc hàng chục bộ chính sử, phải sưu tầm, dã ngoại, nghiên cứu, đối chiếu, chọn lọc hoặc đơn giản là chưa, thậm chí không quan tâm đến lịch sử.

  • TRƯƠNG ĐĂNG DUNG                 Tặng Đỗ Lai ThuýChủ nghĩa hiện đại là kết quả của những nỗ lực hiện đại hoá đời sống và tư duy xẩy ra từ những năm cuối của thế kỷ XIX, ở Châu Âu. Những thành tựu nổi bật của khoa học tự nhiên, của triết học, xã hội học và tâm lí học đã tác động đến cách nghĩ của con người hiện đại trước các vấn đề về tồn tại, đạo đức, tâm lí. Tư tưởng của Nietzsche, Husserl, hay Freud không chỉ ảnh hưởng đến tư duy hiện đại mà tiếp tục được nhắc đến nhiều ở thời hậu hiện đại.

  • ĐẶNG TIẾNTân Hình Thức là một trường phái thi ca hiện đại được phổ biến từ năm bảy năm nay, phát khởi do Tạp Chí Thơ, ấn hành tại Mỹ, chủ yếu từ số 18, xuân 2000 “chuyển đổi thế kỷ”, và được nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước hưởng ứng. Tên Tân Hình Thức dịch từ tiếng Anh New Formalism, một trường phái thơ Mỹ, thịnh hành những năm1980 - 1990.

  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP Một ngày kia, cát bụi vùng Hoan Diễn đã sinh tạo một “kẻ ham chơi”. Y cứ lãng đãng trong đời như một khách giang hồ mang trái tim nhạy cảm, một trái tim đầy nhạc với những đốm lửa buồn. Để rồi sau những cuộc say tràn cung mây, khi dòng cảm hứng chợt bùng lên từ những vùng u ẩn nằm sâu trong cõi nhớ, những giai âm ùa về như những luồng điện làm vỡ òa bí mật: có thương có nhớ có khóc có cười- có cái chớp mắt đã ngàn năm trôi. Đây là những câu thơ khép lại một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Trọng Tạo: Đồng dao cho người lớn(1).

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTừ lâu, ở Huế, nhiều người đã biết tiếng ba công chúa, ba nữ sĩ (Tam Khanh) con vua Minh Mạng, em gái nhà thơ nổi tiếng Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, trong đó MAI AM là người được nhắc đến nhiều nhất. Mai Am nổi tiếng trước hết vì tài thơ và cùng vì cuộc đời riêng không được may mắn của bà, tuy bà là người sống thọ nhất trong “Tam Khanh”.

  • LÊ DỤC TÚCùng với nghệ thuật tiếp cận và phản ánh hiện thực, nghệ thuật miêu tả và khắc họa chân dung nhân vật, nghệ thuật châm biếm và sử dụng ngôn ngữ cũng là một trong những nét nghệ thuật đặc sắc ta thường gặp trong các phóng sự Việt Nam 1932 - 1945.

  • NGUYỄN VĂN DÂNTrong thế kỷ XX vừa qua, thế giới, đặc biệt là thế giới phương Tây, đã sản sinh ra biết bao phương pháp phục vụ cho nghiên cứu văn học, trong đó phương pháp cấu trúc là một trong những phương pháp được quan tâm nhiều nhất.

  • AN KHÁNHHai mươi tám năm kể từ ngày chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, đủ để một thế hệ trưởng thành, một dòng thơ định vị. Tháng 3 vừa qua, Hội Văn nghệ Hà Nội và nhóm nhà thơ - nhà văn - cựu binh Mỹ có cuộc giao lưu thú vị, nhằm tìm ra tiếng nói "tương đồng", sự thân ái giữa các thế hệ Mỹ - Việt thông qua những thông điệp của văn chương.

  • TRẦN ĐÌNH SỬ Bạn đọc Việt Nam vốn không xa lạ với phê bình phân tâm học hơn nửa thế kỷ nay, bởi nó đã bắt đầu được giới thiệu vào nước ta từ những năm ba mươi, bốn mươi thế kỷ trước. Nhưng đáng tiếc nó đã bị kỳ thị rất nặng nề từ nhiều phía. Giống như nhân loại có thời phản ứng với Darwin vì không chấp nhận lý thuyết xem con người là một loài cao quý lại có thể tiến hóa từ một loài tầm thường như loài khỉ, người ta cũng không thể chấp nhận lý thuyết phân tâm học xem con người - một sinh vật có lý trí cao quý lại có thể bị sai khiến bởi bản năng tầm thường như các loài vật hạ đẳng!

  • PHẠM ĐÌNH ÂN(Nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày mất của Thế Lữ 3-6-1989 – 3-6-2009)Nói đến Thế Lữ, trước tiên là nói đến một nhà thơ tài danh, người góp phần lớn mở đầu phong trào Thơ Mới (1932-1945), cũng là nhà thơ tiêu biểu nhất của Thơ Mới buổi đầu. Ông còn là cây bút văn xuôi nghệ thuật tài hoa, là nhà báo, dịch giả và nổi bật là nhà hoạt động sân khấu xuất sắc, cụ thể là đưa nghệ thuật biểu diễn kịch nói nước nhà trở thành chuyên nghiệp theo hướng hiện đại hóa.

  • THÁI DOÃN HIỂUPhàm trần chưa rõ vàng thauChân tâm chẳng biết ở đâu mà tìm.                                VẠN HẠNH Thiền sư

  • HỒ THẾ HÀ  Thi ca là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đặc biệt. Nó là điển hình của cảm xúc và tâm trạng được chứa đựng bởi một hình thức - “hình thức mang tính quan niệm” cũng rất đặc biệt. Sự “quái đản” trong sử dụng ngôn từ; sự chuyển nghĩa, tạo sinh nghĩa trong việc sử dụng các biện pháp tu từ; sự trừu tượng hoá, khái quát hoá các trạng thái tình cảm, hiện thực và khát vọng sống của con người; sự hữu hình hoá hoặc vô hình hoá các cảm xúc, đối tượng; sự âm thanh hoá theo quy luật của khoa phát âm thực nghiệm học (phonétique  expérimentale)...đã làm cho thi ca có sức quyến rũ bội phần (multiple) so với các thể loại nghệ thuật ngôn từ khác.

  • LÊ XUÂN LÍTHỏi: Mã Giám Sinh sau khi mua được Kiều, Mã phải đưa Kiều đi ròng rã một tháng tròn mới đến Lâm Tri, nơi Tú Bà đang chờ đợi. Trên đường, Mã đâm thèm muốn chuyện “nước trước bẻ hoa”. Hắn nghĩ ra đủ mưu mẹo, lí lẽ và hắn đâm liều, Nguyễn Du viết:              Đào tiên đã bén tay phàm              Thì vin cành quít, cho cam sự đờiĐào tiên ở đây là quả cây đào. Sao câu dưới lại vin cành quít? Nguyễn Du có lẩm cẩm không?

  • CHU ĐÌNH KIÊN1. Có những tác phẩm người đọc phải thực sự “vật lộn” trên từng trang giấy, mới có thể hiểu được nhà văn muốn nói điều gì. Đó là hiện tượng “Những kẻ thiện tâm” (Les Bienveillantes) của Jonathan Littell. Một “cas” được xem là quá khó đọc. Tác phẩm đã đạt hai giải thưởng danh giá của nước Pháp là: giải Goncourt và giải thưởng của Viện hàn lâm Pháp.

  • PHONG LÊSinh năm 1893, Ngô Tất Tố rõ ràng là bậc tiền bối của số rất lớn, nếu không nói là tất cả những người làm nên diện mạo hiện đại của văn học Việt Nam thời 1932-1945. Tất cả - gồm những gương mặt tiêu biểu trong phong trào Thơ mới, Tự Lực văn đoàn và trào lưu hiện thực đều ra đời sau ông từ 10 đến 20 năm, thậm chí ngót 30 năm.

  • HẢI TRUNGHiện tượng ngôn ngữ lai tạp hay gọi nôm na là tiếng bồi, tiếng lơ lớ (Pidgins và Creoles) được ngành ngôn ngữ học đề cập đến với những đặc trưng gắn liền với xã hội. Nguồn gốc ra đời của loại hình ngôn ngữ này có nhiều nét khác biệt so với ngôn ngữ nói chung. Đây không chỉ là một hiện tượng cá thể của một cộng đồng ngôn ngữ nào, mà nó có thể phát sinh gắn liền với những diễn biến, những thay đổi, sự phát triển của lịch sử, xã hội của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia khác nhau.

  • BÙI NGỌC TẤN... Đã bao nhiêu cuộc hội thảo, bao nhiêu cuộc tổng kết, bao nhiêu cuộc thi cùng với bao nhiêu giải thưởng, văn chương của chúng ta, đặc biệt là tiểu thuyết vẫn chẳng tiến lên. Rất nhiều tiền của bỏ ra, rất nhiều trí tuệ công sức đã được đầu tư để rồi không đạt được điều mong muốn. Không có được những sáng tác hay, những tác phẩm chịu được thử thách của thời gian. Sự thất thu này đều đã được tiêu liệu.

  • NGUYỄN HUỆ CHICao Bá Quát là một tài thơ trác việt ở nửa đầu thế kỷ XIX. Thơ ông có những cách tân nghệ thuật táo bạo, không còn là loại thơ “kỷ sự” của thế kỷ XVIII mà đã chuyển sang một giọng điệu mới, kết hợp tự sự với độc thoại, cho nên lời thơ hàm súc, đa nghĩa, và mạch thơ hướng tới những đề tài có ý nghĩa xã hội sâu rộng.