NGUYỄN PHÚC VĨNH BA
Mùa Xuân là một chủ đề được thi hào Nguyễn Du nhắc đến khá nhiều trong thơ chữ Hán của cụ. Lạ thay đó là những mùa xuân tha hương buồn bã đến chết người.
Ảnh: internet
Trong 249 bài thơ chữ Hán qua ba tập thơ Thanh Hiên tiền hậu tập, Nam Trung tạp ngâm và Bắc Hành tạp lục, cụ đã dùng tới 40 từ “xuân” kết hợp với các từ hàn, bệnh, vũ,... gợi nên một trường cảm xúc khá bi đát. Riêng trong 4 bài thơ được đặt nhan đề có từ XUÂN (Xuân nhật ngẫu hứng, Xuân dạ, Xuân tiêu lữ thứ, Mộ xuân mạn hứng) cụ đều bày tỏ một nỗi buồn sâu lắng, âm ỉ khi thân phiêu lạc ở đất khách quê người. Đây đúng ra là một bi kịch trong cuộc đời của cụ.
Theo Đại Nam Liệt Truyện: “Nguyễn Du là người ngạo nghễ, tự phụ, song bề ngoài tỏ vẻ giữ gìn, cung kính, mỗi lần vào chầu vua thì ra dáng sợ sệt như không biết nói năng gì...’’. Theo giai thoại, vua Gia Long cũng từng lấy làm thắc mắc và đã từng có lần tìm hỏi cụ nhưng nhà vua vẫn không có được câu trả lời rõ ràng. Cụ làm quan mà vẫn chán nản buồn rầu, chức lớn nhưng cụ vẫn như thể là bất đắc chí, ba lần xin về hưu, sáng tác nhiều bài thơ đầy phiền muộn, chán nản. Phải chăng những biến cố lịch sử trong thời gian này đã làm cho cụ bị trầm uất? Tại sao một con người được trọng dụng như cụ lại có một nỗi niềm bi ai như thế?
Với Xuân nhật ngẫu hứng ta thấy một Nguyễn Du bất cần đời, chán chường trước “tài mệnh tương đố” khi sinh nhằm thời binh lửa triền miên và dù đã đỗ tam trường vẫn đành lênh đênh hải giác thiên nhai. Bài thơ được sáng tác trong thời kì cụ phải ăn nhờ ở đậu ở quê vợ, có lẽ vào khoảng đầu triều Tây Sơn khi mà đất nước vẫn còn chưa hẳn ổn định vì ở miền Nam, thế lực của Nguyễn Vương Ánh vẫn lăm le khôi phục lại cơ đồ. Đây là thời kỳ loạn lạc nhất của đất nước ta vì có đến 5 thế lực phong kiến Mạc, Lê, Trịnh, Nguyễn, và Tây Sơn đang giành giật cơ đồ vương bá:
春 日 偶 興
Xuân nhật ngẫu hứng
患 氣 經 時 戶 不 開
Hoạn khí kinh thời hộ bất khai
逡 巡 寒 暑 故 相 催
Thuân tuần hàn thử cố tương thôi
他 鄉 人 與 去 年 別
Tha hương nhân dữ khứ niên biệt
瓊 海 春 從 何 處 來
Quỳnh Hải* xuân tòng hà xứ lai
南 浦 傷 心 看 綠 草
Nam phố thương tâm khan lục thảo
東 皇 生 意 漏 寒 梅
Đông hoàng sinh ý lậu hàn mai
鄰 翁 奔 走 村 前 廟
Lân ông bôn tẩu thôn tiền miếu
斗 酒 雙 柑 醉 不 回
Đẩu tửu song cam túy bất hồi.
Lược dịch:
Ngày xuân ngẫu hứng làm thơ
Trời xấu qua rồi cửa vẫn gài
Êm êm rét nóng rủ nhau trôi
Xa quê lại một năm li biệt
Đất khách thêm mùa xuân của ai
Cỏ biếc lòng đau trời Nam phố
Mai vàng chi nữa chúa Xuân ơi!
Lão già trước miếu say mềm rượu
Quanh quẩn hồi lâu chẳng muốn rời.
---------------
(* Quỳnh Hải: huyện Quỳnh Côi, quê vợ của cụ Nguyễn Du).
Với Xuân dạ ta lại thấy cụ Nguyễn Du đã thấm thía nỗi đau đời dành cho một con người tài hoa: bệnh tật, xa nhà, không danh phận. Đêm dù của mùa xuân nhưng lại nhuộm một màu u ám và đau thương:
春 夜
Xuân dạ
黑 夜 韶 光 何 處 尋
Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm?
小 窗 開 處 柳 陰 陰
Tiểu song khai xứ liễu âm âm
江 湖 病 到 經 時 久
Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu
風 雨 春 隨 一 夜 深
Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm
羇 旅 多 年 燈 下 淚
Ky lữ đa niên đăng hạ lệ
家 鄉 千 里 月 中 心
Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm
南 臺 村 外 龍 江 水
Nam Đài thôn ngoại Long Giang* thủy
一 片 寒 聲 送 古 今
Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm (kim).
---------------
(* Long Giang hay Thanh Long giang: Sông Lam).
Lược dịch:
Đêm xuân
Đêm mãi đen hoài, nắng đẹp đâu?
Ngoài song bóng liễu phủ lên nhau
Giang hồ thân bệnh hoài vương vấn
Mưa gió đêm xuân cứ dãi dầu
Lưu lạc bao năm đèn nhỏ lệ
Quê nhà ngàn dặm ánh trăng thâu
Nam Đài ơi với sông Lam đó!
Sóng lạnh muôn đời tiếng lắng sâu.
Năm 1789 Tây Sơn chiếm Bắc Hà, cụ vừa 24 tuổi. Để tránh nạn binh lửa cụ đã về ẩn tại quê vợ, huyện Quỳnh Côi (Thái Bình). Bài thơ này nằm trong Thanh Hiên tiền hậu tập, có lẽ đã được cụ Nguyễn Du làm trong thời gian này, cụ khoảng dưới 30 tuổi. Qua đấy ta có thể thấy thể chất của cụ không mấy khỏe mạnh do cuộc sống nghèo túng và bản thân cụ cũng hay đau ốm. Chính nơi đây đã chôn vùi quãng đời thanh xuân của cụ. Sống nơi thôn ổ, cụ đã gần gũi và hiểu biết rõ ràng đời sống và tâm tình của tầng lớp dân quê nghèo khó. Mãi hơn 10 năm sau, lúc đã 37 tuổi (1802) cụ mới ra làm với triều Nguyễn với chức vụ Tri huyện Phù Dung (Hưng Yên) rồi sau đó thăng Tri phủ Thường Tín (Hà Tây).
Những mùa xuân tha hương tại Quỳnh Côi vẫn là đề tài cho cụ viết các bài thơ khác, cũng chất ngất lòng nhớ quê hương, xót thân mình đau yếu và cảnh sống nhờ ở tạm trong nghèo túng thiếu thốn như trong bài Mạn hứng: “Bách niên thân thế ủy phong trần/ Lữ thực giang tân hựu hải tân” (Trăm năm thân thế mặc phong trần/ Bãi biển bờ sông kiếm miếng ăn). Nguyễn Du thường gọi mình là “tha hương nhân” (Xuân nhật ngẫu hứng) hay “bạch đầu nhân” (Mạn hứng, Tạp thi I...) luôn mang cái “Nhất phiến hương tâm thiềm ảnh hạ” (Sơn cư mạn hứng: Một mảnh lòng quê soi bóng nguyệt) mà cuộc sống thì “Nhất thất xuân hàn cựu bệnh đa” (U cư II: Đầy nhà xuân lạnh thêm nhiều bệnh) hay “Tam niên tích bệnh bần vô dược” (Mạn hứng: Ba năm đau ốm, thuốc thang không). Theo ông Đào Duy Anh, trong Thanh Hiên tiền hậu tập, Nguyễn Du có 17 bài nói về bạch phát hay bạch đầu. Nguyễn Du đã phác họa cuộc đời trẻ trung của mình như sau:
雜 詩
Tạp thi I
壯 士 白 頭 悲 向 天
Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên
雄 心 生 計 兩 茫 然
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên
春 蘭 秋 菊 成 虛 事
Xuân lan thu cúc thành hư sự
夏 暑 冬 寒 奪 少 年
Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên
黃 犬 追 歡 鴻 嶺 下
Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ
白 雲 臥 病 桂 江 邊
Bạch vân ngọa bệnh Quế Giang biên
村 居 不 厭 頻 沽 酒
Thôn cư bất yếm tần cô tửu
尚 有 囊 中 三 十 錢
Thượng hữu nang trung tam thập tiền.
Lược dịch:
Bài thơ vơ vẩn
Bạc đầu tráng sĩ nhìn trời
Miếng ăn, chí lớn tơi bời lòng son
Xuân thu muôn sự héo mòn
Hè đông đoạt sạch trẻ non sức người
Chó vàng Hồng Lĩnh rong chơi
Mây nằm nghỉ bệnh trắng trời Quế Giang
Cứ mua cho hết rượu làng
Tiền thì ba chục sẵn sàng túi đây.
Có lẽ không gì làm cho ta chạnh lòng hơn những câu thơ như thế, nhất là đối với một con người tài hoa như cụ Nguyễn Du. Một cõi lòng tan nát, không dám mơ một ngày được trọng dụng và liệu khi ấy thì có còn “hùng tâm” để dâng hiến hay không. Vả lại, triều Lê mà Nguyễn Du ví như muốn phù trợ cũng chỉ là một triều đại ươn hèn, mục nát, tham tàn và về cuối lại rước voi về giày mồ, gây nên lắm điều sỉ nhục.
Với Mộ xuân mạn hứng Nguyễn Du lại bày tỏ một nhân sinh quan đậm màu sắc Lão Trang, xem kiếp sống như một trò mộng huyễn và công danh lại càng phù ảo như ánh nắng cuối xuân.
暮 春 漫 興
Mộ xuân mạn hứng
一 年 春 色 九 十 日
Nhất niên xuân sắc cửu thập nhật
拋 擲 春 光 殊 可 憐
Phao trịch xuân quang thù khả liên
浮 世 功 名 看 鳥 過
Phù thế công danh khan điểu quá
閒 庭 節 字 帶 鶯 遷
Nhàn đình tiết tự đái oanh thiên
側 身 不 出 有 形 外
Trắc thân bất xuất hữu hình ngoại
千 歲 長 憂 未 死 前
Thiên tuế trường ưu vị tử tiền
浮 利 榮 名 終 一 散
Phù lợi vinh danh chung nhất tán
何 如 及 早 學 神 仙
Hà như cập tảo học thần tiên.
Lược dịch:
Làm thơ vào cuối xuân
Một năm xuân đẹp chín mươi ngày
Vùn vụt thiều quang ngẫm xót thay
Cõi thế công danh chim cánh lướt
Sân nhàn thời tiết bóng oanh bay
Xét thân không thoát vòng sinh hoại
Lo mãi làm chi cuộc sống này
Rốt cuộc lợi danh đều tan tác
Phải chi sớm học phép tiên hay.
Sau khi ra làm quan với triều Nguyễn, cụ lại tiếp tục xa nhà. Cuối năm 1803, với tư cách là Đông các điện đại học sĩ, cụ Nguyễn Du đi đón sứ thần Thanh triều ở Lạng Sơn. Ở địa vị này, cụ vẫn mang tinh thần chán danh lợi trần thế và nỗi niềm bất đắc chí khi cộng tác với triều Nguyễn. Phải chăng cụ Nguyễn Du còn mang tâm trạng của một di thần triều Lê với quan điểm Nho giáo cứng nhắc “Trung thần bất sự nhị quân”? Ta nên nhớ rằng quãng đời làm quan của cụ rất hanh thông và nhà Nguyễn rất trọng dụng cụ.
Dẫu vậy, qua Xuân tiêu lữ thứ, được làm ra trong thời điểm này, tâm sự của cụ được bộc bạch rất bi thương:
春 宵 旅 次
Xuân tiêu lữ thứ
蕭 蕭 蓬 鬢 老 風 塵
Tiêu tiêu bồng mấn lão phong trần
暗 裏 偏 驚 物 候 新
Ám lý thiên kinh vật hậu tân
池 草 未 闌 千 里 夢
Trì thảo vị lan thiên lý mộng
庭 梅 已 換 一 年 春
Đình mai dĩ hoán nhất niên xuân
英 雄 心 事 荒 馳 騁
Anh hùng tâm sự hoang trì sính
名 利 營 場 累 笑 顰
Danh lợi doanh trường lụy tiếu tân
人 自 蕭 條 春 自 好
Nhân tự tiêu điều, xuân tự hảo
團 成 成 下 淚 沾 巾
Đoàn thành thành hạ lệ triêm cân.
Lược dịch:
Đêm xuân xa nhà
Tóc mai phơ phất giữa phong trần
Mê muội lòng lo việc mới dần
Giấc mộng văn chương chưa dứt bóng
Mai vàng sân trước đã mời xuân
Anh hùng chí lớn thôi rong ruổi
Danh lợi quan trường chỉ lụy thân
Người dẫu xác xơ, xuân vẫn đẹp
Chân thành* riêng lão lệ đầm khăn.
---------------
(* Đoàn thành là thành Lạng Sơn).
Khi đi tiếp sứ trở về, cụ ở tại Phú Xuân một thời gian. Đến năm 1809, Nguyễn Du đựơc cử làm Cai bạ Quảng Bình. Năm 1913 cụ đi sứ hơn một năm tròn ở Trung Quốc. Về nước cụ được thăng làm Tham Tri Bộ Lễ và làm việc tại Kinh đô Huế. Trong quãng thời gian làm quan này, cụ Nguyễn Du vẫn thường ốm đau bệnh tật và cuộc sống có nhiều khó khăn. Vì thế, Huế cũng chỉ là đất khách, nơi khiến cụ thấm thía hơn nỗi đời luân lạc. Huế trong mắt cụ cũng buồn bã vì lòng thương nhớ quê nhà bao la trong tim cụ như cụ viết trong bài Thu chí: “Hương giang nhất phiến nguyệt /Kim cổ hứa đa sầu” (Sông Hương một mảnh trăng soi/ Dáng sầu vời vợi bao đời đến nay).
Đúng ra, chúng ta có thể nói cụ Nguyễn Du một đời luân lạc tha phương, nếm đủ mọi cay đắng phong trần không thua gì cô Kiều trong tác phẩm của cụ. Điều đáng chú ý là chính nhờ trải qua cuộc phong trần mà cụ Nguyễn Du gần gũi và hiểu được nỗi cơ cực của dân chúng thời cụ sống ngày ấy.
Phải chăng chính vì nhờ hiểu thấu đời sống cơ cực của dân chúng mà cụ chẳng chút bằng lòng với chế độ quân chủ thời bấy giờ. Năm thế lực phong kiến Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn, và Tây Sơn với những cuộc tương tranh của họ đã gây nên bao mất mát tang tóc cho người dân nghèo khổ. Cuối cùng Nguyễn Vương Ánh nắm được ngai vàng và mở ra một triều đại mới. Thế nhưng các lí tưởng nhân bản mà Nho gia hướng đến như thay trời chăn dân, thương dân như con đỏ, dân là quý, quan lại là cha mẹ của dân,… vẫn còn trong sách vở. Qua một số bài thơ khác Sở kiến hành, Thái Bình mại ca giả, Thăng Long cầm giả ca, Văn tế thập loại chúng sinh,… chúng ta càng thấy rõ rằng cụ cảm thông rất sâu sắc đến lớp người thấp cổ bé họng, gặp muôn vàn bất hạnh trong cuộc đời. Con người Nho sĩ lý tưởng trong cụ đụng độ với thực tế lầm than trong xã hội. Bi kịch cuộc đời Nguyễn Du - Từ Hải - Thúy Kiều là ở đây. Từ đấy, cụ không thể lấy cái thế được triều Nguyễn trọng dụng, vui với cái thành đạt của riêng mình mà làm ngơ trước khổ đau của dân chúng. Hơn hết, với một tâm hồn nhạy cảm, hiểu biết sâu sắc, cụ đã nhận ra sự bế tắc của chế độ quân chủ phong kiến. Lẽ tất nhiên, trong vòm tư tưởng của thời đại, chúng ta không thể trông đợi cụ có thể nghĩ tới một hình thức xã hội cấp tiến hơn là chỉ chán ngán than thở xã hội thời ấy còn đầy bất công và hà lạm, như cụ viết “Đã mang lấy nghiệp vào thân/ Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”. Chỉ hiểu vậy, chúng ta họa mới giải thích được những nỗi niềm u sầu hay chán ngán công danh trong thơ của cụ.
Đọc suốt Truyện Kiều, có lẽ không ai kìm được xúc cảm trước mười lăm năm luân lạc của Kiều mà tai hoạ, khổ nạn chan đều trong những tháng ngày đau thương bi đát của Kiều. Nếu cụ Nguyễn Du bản thân không trải những xót xa phong trần thì hẳn chúng ta cũng không có cái may mắn được thưởng thức những vần thơ trác tuyệt như thế. Viết Truyện Kiều hay là viết cuộc đời trôi nổi của mình, khóc Tiểu Thanh hay khóc Tố Như cũng thế mà thôi. Đọc những bài thơ chữ Hán trên, ta thấy rõ hơn cuộc đời của tác giả để đối chiếu với nhân vật mà tác giả xây dựng nên. Âu cũng là số phận của giới sĩ phu một thời, của “con tằm đến thác vẫn còn vương tơ”.
Ngày xuân, đọc lại những bài thơ xuân chữ Hán của cụ gọi là nén nhang, bát nước dâng cho một con người tài hoa mà mệnh bạc.
N.P.V.B
(TCSH347/01-2018)
...................................
Các bản dịch thơ trong bài là của tác giả bài viết.
Tải mã QRCode
HỒNG NHUĐó là “Tình bậc thang” (NXB Hội Nhà văn 2006) và “Mặt cắt” (NXB Hội Nhà văn 2007) của một nữ thi sĩ mà cho đến nay không nhiều người biết đến, ít nhất là trong làng thơ. Vì một lẽ rất giản đơn: chị mới xuất hiện trên thi đàn Việt Nam vài ba năm nay thôi.
FAN ANHTrong cuộc sống của tất cả chúng ta, đôi khi nụ cười không đồng nghĩa với sự hạnh phúc, cũng như nước mắt không phải bao giờ cũng đồng điệu với nỗi đau. Chính vì thế, mặc dù tiểu thuyết Ba ơi, mình đi đâu? của Jean Louis Fournier là một tác phẩm có thể “gây ra” không ít những tiếng cười, nhưng cảm xúc thanh lọc (Catharsis) mà cuốn sách nhỏ này mang lại cũng lớn lao như bất kì một vở bi kịch nào.
Ngày 6 tháng 4 năm 2007 tại Hà Nội, chúng tôi đến thăm nhà thơ Dương Tường tại nhà riêng. Dương Tường ngồi sau một chiếc bàn nhỏ và thấp chất đầy sách vở và ly tách giữa một căn phòng rộng dùng làm phòng triển lãm tranh. Tranh treo kín các tường.
ĐOÀN TUẤNTrong tâm tưởng của tôi, thi sĩ Nguyễn Bính là một người có dáng gầy, vóc nhỏ, gương mặt nhẹ nhõm với đôi mắt sáng, tinh anh, mũi dọc dừa và cái miệng cân đối. Tóc Nguyễn Bính không bao giờ để dài. Áo quần Nguyễn Bính thường có màu sáng. Ông đi lại nhanh nhẹn, nhiều khi vội vã. Gương mặt Nguyễn Bính là một gương mặt ưa nhìn bởi trong đó chứa đựng chiều sâu của nhiều ý nghĩ và sắc mặt thay đổi theo tâm trạng thất thường của ông.
PHẠM QUANG TRUNGTôi muốn nói đến bài “ Tạm biệt” (hay “ Tạm biệt Huế”) của nhà thơ Thu Bồn. Dẫu đã có nhiều bài thơ hay, rất hay lấy cảm hứng từ Huế, tôi dám quả quyết là nó sẽ vẫn được nhắc tới như là một trong những bài thơ hay nhất. Xin kể một kỷ niệm đẹp riêng với tôi.
NGUYỄN KHẮC PHÊNâng hợp tuyển “Hải Bằng” (HTHB) sang trọng và trĩu nặng trên tay, thật nhiều cảm xúc tràn đến với tôi. Cuốn sách được gia đình nhà thơ Hải Bằng tặng cho tất cả những người đến dự ngày giỗ lần thứ 11 của nhà thơ được tổ chức tại một ngôi nhà mới xây ở cuối đường Thanh Hải - lại là tên nhà thơ quen thuộc của xứ Huế.
TÔN PHƯƠNG LANCũng như những nhà văn mặc áo lính thuộc thế hệ đầu và tờ tạp chí Văn nghệ quân đội của họ, Trần Dần là một tên tuổi quen thuộc mà gắn với tên tuổi ông là cuốn tiểu thuyết Người người lớp lớp. Là một học sinh thành phố, khi Cách mạng tháng Tám thành công, 19 tuổi, ông bắt đầu hoạt động cách mạng rồi đầu quân tham gia kháng chiến chống Pháp và hoạt động văn nghệ.
Hồ Thế Hà sinh năm 1955, quê ở thị trấn Ngô Mây, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Anh tham gia quân đội từ 1978 đến 1982, chiến đấu tại Campuchia. Hồ Thế Hà tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Huế năm 1985 và được giữ lại trường. Hiện anh là Phó Giáo sư, Tiến sĩ đang giảng dạy tại khoa Ngữ văn, trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Anh đồng thời là Ủy viên Ban chấp hành Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Huế nhiệm kì: 2000 - 2005; 2005 - 2010. Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế, nhiệm kì 2000 - 2005; 2005 - 2010.
PHẠM PHÚ PHONGĐúng vào dịp Huế chuẩn bị cho Festival lần thứ III năm 2004, Vĩnh Quyền cho tái bản tập ký và truyện Huế mình, tập sách mới in trước đó chưa tròn một năm, năm 2003. Trước khi có Huế mình, Vĩnh Quyền đã có nhiều tác phẩm được bạn đọc chú ý như các tiểu thuyết lịch sử Vầng trăng ban ngày, Mạch nước trong, Trước rạng động, các tập truyện Người tử tù không chết, Người vẽ chân dung thế gian, Màu da thượng đế, tập bút ký Ngày và đêm Panduranga và tập tạp văn Vàng mai.
...Không có sự lựa chọn nào cả, tôi đến với thơ như một nghiệp dĩ. Tôi nghĩ thơ là một thứ tôn giáo không có giáo chủ. Ở đây, các tín đồ của nó đều được mặc khải về sự bi hoan trần thế và năng lực sẻ chia những nỗi niềm thân phận. Cuộc đời vốn có cái cười và cái khóc. Người ta, ai cũng có thể cười theo kiểu cười của kẻ khác, còn khóc thì phải khóc bằng nước mắt của chính mình. Với tôi, thơ là âm bản của nước mắt...
…Có thể thấy gần đây có những xu hướng văn học gây “hot” trong độc giả, ví như xu hướng khai thác truyện đồng tính. Truyện của tôi xin khước từ những “cơn nóng lạnh” có tính nhất thời ấy của thị trường. Tôi bắt đầu bằng chính những câu chuyện giản đơn của cuộc sống hàng ngày, những điều giản đơn mà có thể vô tình bạn bước qua…
NGÔ KHAKỷ niệm 40 năm ngày Bác Hồ ra đi, chúng ta đều nhớ lại di chúc thiêng liêng của Bác để lại cho nhân dân ta. Đó là tình cảm và niềm tin của Bác đối với chúng ta ngày nay và các thế hệ mai sau.
NGUYỄN ĐỨC TÙNG(Tiếp theo Sông Hương số 245 tháng 7-2009 và hết)
Nguyễn Khắc Phê quê ở Hương Sơn, Hà Tĩnh. Anh xuất thân trong một gia đình trí thức. Bố anh từng đậu Hoàng Giáp năm 19 tuổi. Các anh trai đều là bác sĩ, giáo sư, tiến sĩ nổi tiếng như Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Khắc Dương, Nguyễn Khắc Phi... Có người nói vui “Nguyễn Khắc Phê con nhà quan tính nhà lính”.
VĂN CẦM HẢI(Đọc “Ngôi nhà vắng giữa bến sông”, Tập truyện ngắn của Nguyễn Kiên - Nxb Hội Nhà văn, 2004)
NGUYỄN QUANG SÁNGMấy năm gần đây, dân ta đi nước ngoài càng ngày càng nhiều, đi hội nghị quốc tế, đi học, đi làm ăn, đi chơi, việc xuất ngoại đã trở nên bình thường. Đi đâu? Đi Mỹ, đi Pháp, đi Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc... Nhà văn Văn Cầm Hải cũng đi, chuyến đi này của anh, anh không đi những nơi tôi kể trên, anh đi Tây Tạng, rất lạ đối với tôi.
HÀ KHÁNH LINHDân tộc ta có hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, đã xảy ra nhiều cuộc nội loạn ngoại xâm, nhiều thế hệ người Việt Nam đã cầm vũ khí ra trận giết giặc cứu nước, nhưng mãi đến cuối thế kỷ 20 những chàng trai nước Việt mới phải đi giữ nước từ xa, mới đi giữ nước mà mang trong lòng nỗi nhớ nước như tứ thơ của Phạm Sĩ Sáu.
LÊ VĂN THÊSau sáu năm (kể từ 2002) nhà văn Cao Hạnh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, (cuối năm 2008); Hội Văn học nghệ thuật Quảng Trị mới có thêm một nhà văn được kết nạp. Đó là Văn Xương.
NGÔ MINHTrong đợt đi Trại viết ở Khu du lịch nước nóng Thanh Tân, anh em văn nghệ chúng tôi được huyện Phong Điền cho đi dạo phá Tam Giang một ngày. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Thế là người dẫn đường. Anh dân sở tại, thuộc lòng từng tấc đất cổ xưa của huyện.
PHẠM PHÚ PHONG…Làng em đây, núi rừng Trung Việt cũng là đây/Xưa kia đã hùng dũng đánh Tây/Giờ lại hiên ngang xây thành chống Mỹ/Đường Trường Sơn là đường chân lý/Đã cùng quê em kết nghĩa hẹn hò… (Quê em, 1971)