Đọc thơ Ngô Minh

15:55 05/03/2010
MAI VĂN HOANTrong số bạn bè cùng lứa thì Ngô Minh bước vào làng thơ muộn màng hơn cả. Nếu Lâm Thị Mỹ Dạ được chú ý ngay khi còn ngồi trên nghế nhà trường, Hải Kỳ có thơ in trên báo Văn nghệ những năm 69,70 thì Ngô Minh vẫn chưa hề có ai hay biết.

Nhà thơ Ngô Minh - Ảnh: LVT

Ngày ấy, Ngô Minh đang mải miết hành quân trên đường Trường Sơn. Cho đến khi trở về Huế, bạn bè vẫn chưa biết Ngô Minh làm thơ. Ngô Minh xuất hiện một cách khá đột ngột và nhanh chóng khẳng định bằng những thành công liên tiếp. Ngô Minh được dư luận chung đánh giá là cây bút có bản sắc.

Ngô Minh viết nhiều đề tài khác nhau những nổi lên trong thơ anh là hình ảnh người mẹ nghèo quê cát.

Ở làng quê của anh có những loài chim “biết thương người đỏ hoe mí mắt”, có những nấm mồ “vừa lấp gió khỏa bằng”, có những túp lều tranh chơ vơ cồn cát và đặc biệt là có người mẹ già lam lũ tảo tần. Hơn ba lần Ngô Minh nhắc đến ngày mẹ sinh anh:

            Mẹ ơi! Sao mẹ chọn mùa thu sinh con
            Để mỗi đám mây đều bất thần mưa đổ.
            ...
            Mẹ giữ ngày sinh con nơi chỗ đau núm ruột
            Nhắc con ghi lý lịch đời mình

Trong bài thơ dài “Cát xanh” kỷ niệm này hiện lên hết sức cảm động:
            Mẹ sinh con trên hai bàn tay
            Manh áo rách ủ làm chăn đắp
            Đêm trời nổi cơn bão cát
            Cuốn mịt mù bốn phía không gian
            Nhúm rau chôn với tên làng
            Chôn với cửa sông trong veo màu nước.

Bởi vậy, dù ở đâu, đi đâu, làm gì Ngô Minh cũng không quên được mẹ; không thể nào quên được cái làng cát Thường Luật của anh:

            Năm ở chiến trường nửa dêm nóng ruột
            Biết gió mùa về cát buốt ngọn khoai
            Gặp lá lốt rừng nhớ ngọn trầu cay
            Bên vại nước mệ ngồi trong cát ướt
            Đêm khoảng sáng cánh rừng xao xác
            Bóng mẹ già nơi làng cát ngóng trông.
                                                (“Đứa con của cát”)

Cùng với nỗi nhớ về mẹ là nỗi nhớ năm tháng Trường Sơn. Những năm tháng này trở thành nỗi nhớ thường trực trong anh. Nỗi nhớ ấy như sợi dây đàn kéo căng chỉ cần chạm khẽ là ngân lên cung bậc. Vốn sống phong phú những năm tháng ấy đã tạo cho anh sự liên tưởng nhạy bén. Thăm lăng tẩm những ông vua triều Nguyễn, thoáng thấy dáng ngựa đá, Ngô Minh nghĩ ngay dến những người lính:

            Gió xa xưa thổi bốn phía đồi
            Nhắc người lính thời trai lưng ngựa
            Móng gõ thành ao, hoa súng nở
            Yên ngựa thành đèo gọi tuổi tôi lên

Và phải là người từng xông pha trận mạc, luôn nghĩ về đồng đội của mình, luôn cảm thấy như máu đồng đội chưa khô trên vạt áo còn nguyên bụi của mình mới có được nỗi đồng cảm sâu xa, khi đến bên ngựa đá:

            Biết tìm đâu người lính buổi xa xăm
            Ai đang còn bạc phơ mái tóc
            Nấm cỏ vô danh- ai người đã khuất
            Nhớ cuồng chân người hóa đá đứng chờ
                                    (“Ngựa đá và những bông hoa cỏ”)

Cũng nhờ cái vốn phong phú mà chỉ một làn gió thổi qua dã thức dậy trong anh bao nhiêu hồi ức:

            Gió lặng im trinh sát mở đường
            Gió líu ríu bản làng thân thuộc
            Gió nhắc chừng có mùi giặc khét
            Gió mỉm cười qua chốt giặc tan hoang
                                    (“Gió tuổi hai mươi”)

Ngô Minh không chỉ sống với quá khứ, anh còn sống với hiện tại. Hiện tại đang đặt ra bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu vấn đề, do vậy thơ anh viết về hiện tại đầy băn khoăn, trăn trở của một người có trách nhiệm, một người từng góp xương máu mang lại hạnh phúc cho nhân dân, cho đất nước. Trong thơ anh “có ngày vui hiên nắng” nhưng cũng có cả “ngày buồn vườn mưa”.

Mưa -từ lâu đã trở thành nguồn đề tài độc đáo trong những bài thơ viết về Huế. Từng dầm trong mưa Huế gần ba chục năm nay, vì vậy Ngô Minh rất hiểu thế nào là mưa Huế. Các câu thơ cứ kéo dài ra nối tiếp nhau như những trận mưa dai dẳng, triên miên. Mưa Huế trở thành trường liên tưởng đan xen: giữa thực và mộng, niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và đau khổ... Tất cả ẩn hiện, chập chờn trong mưa Huế, tạo thành bản giao hưởng: khi trầm lắng khi sôi nổi, khi gấp gáp khi chậm rãi khoan thai. Người đọc bắt gặp trong bản giao hưởng Mưa Huế của Ngô Minh những kỷ niệm bạn bè:

“Chúng mình cứ đi như thế suốt mùa đông; mặc áo mưa dầm, mang thơ đến những căn phòng nhỏ, nơi đèn không đủ sáng để nhận ra nét gầy guộc bạn bè, chỉ những nụ cười thoáng hiện trên môi góp lửa cho thơ nóng bỏng”.

Người đọc lắng nghe trong bản giao hưởng của Ngô Minh những âm thanh quen thuộc:

“Căn phòng tôi- góc mùa đông bé nhỏ vọng tiếng mưa, tiếng guốc em về”.
Có trong bản giao hưởng đó những mảnh đời hiện tại: “Tiếng em bé rao: Ai mì nóng không? Xe xiết trong mưa khuya...”. Có trong bản giao hưởng bao suy tư, trăn trở: “mưa ơi, tôi biết lòng mưa vô bờ bến nhưng mưa chẳng phải là mưa thánh để tôi có thể vẩy cho em giải thoát khô nghèo”...

Trong thơ Ngô Minh người đọc bắt gặp nhiều phác thảo chân dung của một số nhà văn, nhà thơ, chân dung bạn bè và cả “chân dung tự họa” của chính anh. Nếu trong hai đoản khúc thơ văn xuôi mạch liên tưởng tuôn trào, triền miên như những cơn mưa Huế  thì ở những bức chân dung Ngô Minh chọn cách thể hiện khác: dồn nén, cô đúc. Câu thơ bị ngắt ra, tiết kiệm lời đến mức tối đa. Phần lớn thơ chân dung được Ngô Minh viết bằng nội lực. Tình cảm lắng xuống chiều sâu, lí trí nổi trội lên với những suy ngẫm, nhận xét, khái quát vừa sắc sảo vừa cụ thể sinh động. Viết về Văn Cao, Ngô Minh so sánh:

            “Ông gầy như cái vỏ chai
            Bảy mươi hai năm đầy vơi mắt rượu
            Bảy mươi hai năm không đựng lẫn thứ gì
            Ngoài men
            Và lửa”

Viết về Nguyễn Tuân, Ngô Minh kết luận:
            “Không ai trùm che nổi ông
            Ông cũng chẳng trùm che ai
            Bóng mát văn ông chim về xây tổ”

Số phận long đong của nhà thơ Phùng Quán cũng được Ngô Minh đề cập đến qua cách nói ngắn gọn đầy ấn tượng:

            “Anh trở thành nhân vật chính mình
            Ba mươi năm
            Văn nương
            Rượu chịu
            Ba mươi năm
            Vịn câu thơ đứng dậy
            Cả cười!”

Về Nguyễn Trọng Tạo, Ngô Minh phát hiện:

            “Người như bão con đò thì mỏng
            Chưa nhổ sào đã chuếnh choáng sông trăng”

Ngô Minh còn viết về một người bạn thơ không may lâm nạn với một nỗi đau đớn, thương xót, uất nghẹn:

            “Chàng gục xuống dưới trời đau đớn
            Với hai bàn tay trắng đất ơi
            Lũ phàm tục ôm con quỷ nhảy
            Những trận cười sặc sụa máu tươi”
                                    (“Cổ tích thơ”)

Bên cạnh chân dung các nhà văn nhà thơ, Ngô Minh còn vẽ “chân dung tự họa” của chính mình. Ở đây ta bắt gặp một Ngô Minh “Tuổi bốn mươi ki vôi lên tóc” (Thơ tặng tuổi Bốn mươi), một Ngô Minh... “rơi về góc Huế”. Nhà thơ Thu Bồn có lần đến Huế để tìm em nhưng chỉ thấy “nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền”. Ngô Minh thì “rơi về góc Huế” để tìm Huế và tìm lại chính mình. Suốt bao nhiêu năm anh đi lang thang hết đêm này qua đêm khác, hết ngày nọ đến ngày kia khi thì “lả chả trăng như nước mắt” lúc thì “lập lòe lửa nhang góc phượng sương mờ”... Trong cuộc tìm kiếm lặng lẽ và kiên nhẫn ấy anh đã gặp những con người, những số phận “ngoài cuộc đời”. Ngô Minh lên núi Ngự Bình không phải để chiêm ngưỡng cái thế bình phong hay nghe tiếng thông reo vi vu mà để thăm ngôi mộ của “đứa con sinh thiếu tháng”:

            Cháu là người ngoài cuộc đời
            Chỉ được nhìn Huế năm ngày qua lồng kính

Tìm về với “đứa con sinh thiếu tháng” là Ngô Minh tìm về với nỗi đau mất mát, tìm về với những oan hồn, tìm về với thế giới tâm linh. Anh không chỉ đứng trên cầu Tràng Tiền ngắm “những con đò mộng” đang “lả lướt đi về trong gió mai” mà còn đứng ở bệnh viện ngay khoa sản để lắng nghe “Cửa hạnh phúc đầy tiếng rên la”. Ngô Minh cũng không tìm đến những tòa biệt thự sang trọng, đầy đủ tiện ngghi mà tìm về với “góc nghĩa địa lều tranh Dương Thành Vũ”:

            Bạn như người ngoài cuộc đời
            Uống bóng mình xạm đen râu ria đáy chén
            Câu thơ không đủ ấm
            Kể chuyện tiếu lâm nghe tiếng mình cười.

Đọng lại trong tâm trí người đọc là hình hảnh “mệ già ngồi bên đường, chìa mê nón xin đời bố thí”:

            Bốn mùa mệ không đổi dáng ngồi
            Như tượng đài thời gian rách nát
            Mệ cũng là người ngoài cuộc đời

Bởi là “người ngoài cuộc đời” nên cái “tượng đài thời gian rách nát” kia không mấy ai để ý:

“Dân xe cúp, xe con rú máy vèo qua xả khói vào mê nón. Rơi vào mê nón nắng mưa nhiều hơn đồng hào”.

Thật là trớ trêu: Người giàu sang, chức quyền thì vô tình, dửng dưng trước cái “tượng đài thời gian rách nát” còn thi sĩ hay động lòng trắc ẩn thì lại rỗng túi. Anh cảm thông với mệ:

            Thơ không bán được, mệ ơi!
            Thơ cũng ở ngoài cuộc đời, thưa mệ!

“Tìm tôi, tìm Huế” như thiên phóng sự chắt lọc những chi tiết đời thường. Những chi tiết rất thực ấy được Ngô Minh tái hiện một cách giản dị. Ta tưởng như không phải anh đang làm thơ mà chỉ ghi lại những mảnh đời, những thân phận tuy khác nhau về lứa tuổi, nghề nghiệp, cảnh ngộ nhưng giống nhau ở một điểm: họ đều là những người “ngoài cuộc đời!”. Mà đâu chỉ có họ, Ngô Minh cũng tự nhận mình là người “cùng hội, cùng thuyền” với họ”

            Huế trăm năm lớp lớp oan hồn
            Chính tôi- một oan hồn đang sống!

Điều này đã giải thích cho chúng ta hiểu vì sao anh lại cảm thông với họ sâu sắc đến như vậy.

Có thể nói “Tìm tôi, tìm Huế” là một phần “chân dung tự họa của Ngô Minh. Trong bài thơ này anh giới thiệu về mình khá cụ thể, chẳng khác gì bản “sơ yếu lý lịch”. Anh “kê khai” hoàn cảnh “Một vợ hai con có bìa hộ khẩu”. Anh “kê khai” chỗ ở” “Đường Phan Bội Châu số nhà ba mốt”... Anh kể những việc mà ngoài đời người ta cố giấu đừng nói là đưa vào thơ như: “mỏi rời chân đứng chờ vợ đẻ”. Nhiều lúc Ngô Minh cũng “hờ hững”, cũng “láo nháo nói cười”, như tôi như anh như tất cả chúng ta. Vâng, đó chẳng qua là cái bên ngoài... Còn một Ngô Minh “trầm ngâm trước mộ đứa con trai sinh thiếu tháng”, một Ngô Minh “thắp nhang bên gốc xà cừ”, một Ngô Minh luôn trăn trở, tìm kiếm... thì đã mấy ai biết đến?

Ngô Minh có sở trường về thơ thế sự. Những bài thơ thế sự của anh chiếm được cảm tình của rất nhiều độc giả. Thơ anh chính là máu thịt cuộc đời. Nếu chỉ “láo nháo nói cười” làm sao Ngô Minh có thể viết được những câu thơ gan ruột như “Tìm tôi, timg Huế”?!

M.V.H
(132/02-2000)



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG THỤY ANH

    Mùa hè treo rũ
    Trong cái hộp hai mươi mét vuông
    Ngổn ngang màu
    Ký tự chen chúc như bầy ngỗng mùa đông
    Ngày lên dây hết cỡ
                                Chật
    Dâng đầy lên ngực
    Chuông nhà thờ chặt khúc thời gian

     

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO

    Lâu nay, đọc thơ của trẻ em, tôi thường có cảm giác, hình như các em làm thơ dưới ngọn roi giáo huấn mà người lớn thường giơ lên đe nẹt trẻ con. Cho nên khi cầm trong tay tập thơ Cái chuông vú của bé Hoàng Dạ Thi “làm” từ 3 đến 5 tuổi, tôi không khỏi ngạc nhiên.

  • NGHIÊM LƯƠNG THÀNH

    Đọc xong Những đứa con rải rác trên đường, cuốn tiểu thuyết mới của nhà văn Hồ Anh Thái (Nxb. Trẻ 2014), thoạt đầu tôi có cảm giác trống vắng.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNG

    Anh Cao Việt Dũng hỏi: anh có biết Lưu Quang Vũ không? Anh nghĩ gì về thơ Lưu Quang Vũ?

  • CHÂU THU HÀ

    Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng văn hóa của dân tộc Việt Nam. Tinh hoa và cốt cách của Người là nguồn cảm hứng vô tận cho văn nghệ sĩ, nhà báo.

  • DÃ LAN - NGUYỄN ĐỨC DỤ

    Cách đây mấy năm, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội có cho phát hành cuốn TỪ ĐIỂN VĂN HỌC (1983 - 1984). Sách gồm hai tập: tập I và tập II đầy cả ngàn trang, với sự cộng tác của nhiều tác giả.

  • MAI VĂN HOAN

    "Dư âm của biển" - theo tôi là cách gọi hợp nhất cho tập thơ mới này của Hải Bằng. Đặt "Trăng đợi trước thềm" chắc tác giả gửi gắm một điều gì đó mà tôi chưa hiểu được. Song với tôi "Trăng đợi trước thềm" có vẻ mơ mộng quá, tên gọi ấy chưa thể hiện được giai điệu cuộc đời của thơ anh.

  • PHẠM PHÚ PHONG

    Nguyễn Hiến Lê (1912 - 1984), hiệu là Lộc Đình, người làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, thị xã Sơn Tây, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc thủ đô Hà Nội, là nhà văn, nhà nghiên cứu, biên soạn, khảo cứu, về nhiều lĩnh vực như văn học, triết học, sử học, ngôn ngữ học, đạo đức học, chính trị học, kinh tế học, giáo dục học, gương danh nhân…

  • Chuyện gì xảy ra trong ngày 30/4/1975 tại Sài Gòn? Nhiều người đã viết về sự kiện này. Một lần nữa, kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái - nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn đã lên tiếng, cùng với sự trợ giúp của vợ và hai con - Nguyễn Hữu Thiên Nga và Nguyễn Hữu Thái Hòa.

  • Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật cho ra mắt bạn đọc một số đầu sách về sự kiện lịch sử này, về lịch sử kháng chiến Nam Bộ và về cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của toàn dân Việt Nam.

  • LÊ HUỲNH LÂM

    Không khỏi bất ngờ khi cầm trên tay tập “Hôm qua hôm nay & hôm sau” của Vũ Trọng Quang do Nxb Đà Nẵng ấn hành vào tháng 1 năm 2006. Vậy là đã 9 năm.

  • PHẠM XUÂN DŨNG

    Tôi và nhiều bạn bè sinh viên còn nhớ nguyên vẹn cảm giác lần đầu nghe bài thơ “Đêm qua” của nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường trong đêm cư xá Huế lạnh và buồn đến nao lòng tê tái.

  • Ý NHI 

    1.
    Một buổi chiều, khoảng cuối năm 1989, chúng tôi có cuộc gặp gỡ tại nhà Trần Thị Khánh Hội, trong một con hẻm rộng, quận Phú Nhuận.

  • TRẦN HOÀI ANH

    (Kỷ niệm 49 năm ngày mất cố Thi sĩ Nguyễn Bính 1966 - 2015)

  • DƯƠNG PHƯỚC THU  

    Kể từ lúc thị xã Huế được nâng lên cấp thành phố, cho đến khi người Nhật làm cuộc đảo chính hất chân người Pháp khỏi đông Dương vào ngày 9/3/1945 thì Huế vẫn là thành phố cấp 3, nhưng là thành phố của trung tâm chính trị, văn hóa, nơi đóng kinh đô cuối cùng của nhà nước quân chủ Việt Nam.

  • HỒ VĨNH  

    Thi hữu Quốc Hoa Nguyễn Cửu Phương là một thành viên trong hội thơ Hương Bình thi xã do Ưng Bình Thúc Giạ Thị làm hội chủ. Năm 1933 thi đàn đặt tên là Vỹ Hương thi xã, qua năm 1950 các thi hữu bắt đầu đổi tên Vỹ Hương thi xã thành Hương Bình thi xã.

  • Mùa xuân chiếm một ví trí quan trọng trong thơ Nguyễn Trãi. Xuân hiện lên bằng nhiều vẻ dáng khác nhau, được khắc họa bằng nhiều cung bậc khác nhau. Mỗi một bài thơ xuân như là một trang nhật kí và cảm xúc của cuộc đời thi nhân.

  • Đọc sách Lý Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý (ảnh, NXB Khoa học xã hội, Sách Khai tâm, quý 1/2015) của Hoàng Xuân Hãn là cách để “gặp lại” danh tướng Lý Thường Kiệt.

  • CAO HUY THUẦN

    Từ trong mênh mông, một sợi mưa rơi vào lá sen. Nước vốn không có hình. Nằm trong lá, nước tròn như một viên ngọc, tròn như một hạt lệ, tròn như một thủy chung. Gió thoảng qua, lá sen lay động, nước rơi không để lại một dấu vết, rơi như chưa bao giờ có, rơi như một hững hờ.

  • NGUYÊN QUÂN

    Những lúc bứt thoát được những hệ lụy cuộc sống, tôi chỉ thích được lang thang lên mạng, mong bắt gặp một câu thơ, một dòng văn nào đó gần gũi với tâm trạng để ru dỗ mình bằng những phút giây đồng điệu.