NGUYỄN ĐỨC TÙNG
Trước khi biết lòng tử tế là gì
Bạn phải mất đi nhiều thứ
Naomi Shihab Nye & tác phẩm

Đã có lần nào trong đời bạn lâm vào cảnh chán nản, thua sạch, mất hết, tuyệt vọng không?
Lúc ấy bạn muốn đi tới sự bình an. Bằng một ý tưởng, không phải hình ảnh, Naomi Nye tìm được cách nói giản dị, dễ hiểu, chỉ ra tính chất của sự việc từ lời mở đầu, trong khi vẫn ngấm ngầm báo hiệu cho những người đọc khác, gần mình hơn, thấy được sức nặng của sự khai triển bất ngờ về sau. Chỉ khi ở trong tình huống tột cùng, cực đoan, gay cấn, chúng ta mới đủ sức đánh mất tất cả. Sự thật có thể không chịu đựng nổi: không một người nào tự nguyện rời bỏ các thói quen và niềm tin và chân lý của mình dễ dàng, cũng như không một nhà độc tài nào từ bỏ dễ dàng ngai vàng của mình: chúng ta phải bị đánh bật ra từ cội rễ của chúng ta; chúng ta không thể lấy một tay mình để chặt đứt tay khác. Chỉ trong trường hợp cực đoan như thế, đánh mất tất cả, con người mới thấy được chân diện mục. Như một kẻ bị hất xuống vực thẳm nhưng còn sống, bạn từ từ ngoi lên, thở phào, mở mắt: mây trời lặng lẽ bay.
Bạn muốn về nhà.
Lòng tử tế
Trước khi biết lòng tử tế là gì
Bạn phải mất đi nhiều thứ
Cả tương lai bỗng chốc hóa thành không
Như muối tan trong bọt nước.
Điều gì trước đây bạn nắm được trong tay,
Đếm lui đếm tới mỗi ngày, nâng niu gìn giữ:
Tất cả đều phải ra đi
Nhờ thế, may ra bạn biết
Cảnh đời đơn chiếc ra sao
Giữa những miền đất xôn xao hạnh phúc
Bạn đi cuộc đi vô cùng tận
Cứ tưởng rằng chuyến xe chẳng bao giờ ngừng hẳn
Bạn tưởng những hành khách ngồi kia
Đang ăn thịt gà và bắp
Sẽ suốt đời ngồi bên cửa sổ nhìn ra bầu trời.
Rồi trước khi bạn biết sức nặng dịu dàng
Của lòng tử tế
Bạn cần phải đi xa hơn thế, đến một nơi
Một người da đỏ nằm chết
Bên vệ đường, trong tấm vải poncho
Bạn phải nhìn cho được: kẻ nằm chết ấy chính là bạn,
Anh ta có thể là người
Đi trong đêm trường với nhiều kế hoạch
Chỉ hơi thở mong manh buộc chặt với đời.
Trước khi bạn biết lòng tử tế từ sâu sắc nguồn cơn
Bạn phải biết đau buồn kia cũng sâu xa như thế
Bạn phải thức dậy mỗi ngày với nỗi đau buồn ấy
Tập chuyện trò với nó
Chưa đủ đâu: bạn còn phải trò chuyện suốt ngày
Mê mải cho đến khi giọng nói của bạn
Khàn đi, cúi nhặt
Những sợi chỉ khổ đau vương vãi thế gian này
Bạn sẽ thấy được tấm vải ngày ngày chúng ta đan dệt
Rồi cuối cùng thật ra chỉ còn lòng tử tế, sau hết chỉ còn chúng là có nghĩa
Chỉ lòng tử tế thắt lại dây giày cho bạn
Dẫn bạn ra đường, đi tới thùng thư, mua bánh mì
Chỉ lòng tử tế ngẩng đầu lên
Như một người lạ mặt từ đám đông, của thế giới rộn ràng kia
Bảo bạn rằng: chính tôi là người bạn đi tìm
Khắp thế gian
Rồi nắm tay bạn đi qua những ngã đường
Như một cái bóng
Hay như một người tri kỷ.
(1)
Nhịp điệu của thơ: là nhịp tim của người viết và người đọc. Nếu bạn di chuyển mau lẹ, nhịp đập của tim tăng lên, ảnh hưởng đến sự phát ra âm thanh của chữ. Sau một giai đoạn nhấn mạnh gay cấn ở phần giữa của bài thơ, Naomi Nye trở lại nhịp cân bằng mà bà tự mình làm mất đi sau những câu đầu tiên. Các hình ảnh xảy ra tự nhiên khiến người đọc có cảm giác chúng xuất hiện trước như kẻ dẫn đường. Hầu hết các cảm xúc và ý tưởng khác đến sau, gần như phi tuyến tính, tiền ngôn ngữ.
Có một sự khác biệt rõ ràng giữa câu thơ và câu văn phạm trong thơ của Naomi Nye. Câu thơ là những nhịp đập mà chúng ta không biết đến, hệt như một người khỏe mạnh không cảm nhận được nhịp đập của tim mình. Trong khi chúng là thành phần căn bản về nhạc điệu thì câu văn phạm có vai trò trong việc tạo ra vóc dáng cấu trúc của bài thơ. Tác giả chọn phương pháp đặc sắc mà tôi muốn chỉ ra: không một câu thơ nào đứng một mình như một câu văn phạm. Tất cả đều là các đoạn bị cắt rời, làm cho sự ngắt dòng trở nên tươi mới, duyên dáng và nhịp đi có tính dồn dập, thúc đẩy.
Đọc chậm:
What you held in your hand,
what you counted and carefully saved,
all this must go so you know
how desolate the landscape can be
between the regions of kindness.
Nhưng Naomi Nye là ai?
Sinh năm 1952, bà thuộc thế hệ những nhà thơ Hoa Kỳ sau thế chiến thứ II. Thật khó mà biết được họ đã chịu ảnh hưởng như thế nào từ những người đi trước, trong không khí văn chương sôi động của những năm sáu mươi, bảy mươi. Robert Lowell, Anne Sexton, Mariane Moore, Allen Ginsberg, Sylvia Plath, Gerald Stern, John Ashbery và những người khác. Nhất là Dylan Thomas. Thơ của bà kết hợp được phong cách dữ dội, nổi loạn của Lucille Clifton, Maya Angelou và tính dịu dàng nhưng cương nghị của Mariane Moore, Nikki Giovanni. Đọc Naomi Nye, tôi thường lấy lại cảm giác bình tĩnh như được trấn an.
Chính tôi là người bạn đi tìm khắp thế gian
Ngày 11 tháng 9 năm 2001 là một chấn thương lớn của Hoa Kỳ, cũng là của cộng đồng Hồi giáo, cho những người có nguồn gốc Trung Đông và những người yêu mến văn hóa Ả Rập. Và chấn thương ấy sẽ lâu dài. Naomi Nye sinh ở Mỹ, nhưng thân phụ bà sinh ở Jerusalem; ông lớn lên giữa những người Do Thái, người Armenia và Hy Lạp. Mẹ là một phụ nữ Mỹ. Nhà thơ thường quay về Trung Đông thăm viếng và tham dự những sinh hoạt văn hóa xã hội; và trong gia đình bà, tiếng Ả Rập cũng được nói bên cạnh tiếng Anh. Cuộc chiến tranh Palestine, sự khủng hoảng Hồi Giáo sau sự kiện 911, sự đàn áp phụ nữ, đàn áp dân chủ và nhân quyền, chống lại các giá trị phổ biến, chiến tranh, tội ác chống nhân loại, là những mối quan tâm sâu sắc và thường trực của bà.
Khi tin tức về cái chết của anh truyền tới
Chúng tôi ngồi khép lại vòng tròn
Có người khóc, có người không khóc
Ngày xa xưa, trên một xứ sở khác
Những cô gái dịu dàng đội lên đầu thùng nước
Và nhịp nhàng bước đi
(The Grieving Ring)
(2)
Cái gì đã nối những người ngồi thành vòng tròn với cái chết, nối cái chết với những thùng nước đội đầu của các cô gái?
Tôi nghĩ đến vòng tròn. Sự trở đi trở lại. Sức nảy nở của hạt giống mùa màng. Các quy ước, nghi lễ, nghi thức (rituals) tiêu biểu cho trạng thái tịch lặng, an nhiên, vững chãi của đời sống tâm linh cộng đồng. Những kẻ muốn tạo ra các thế hệ mới, các thế hệ được trang bị ký ức có tính chọn lọc về quá khứ, có thể tài giỏi về chuyên môn nhưng nô lệ về tinh thần, là những kẻ sợ hãi các nghi thức, vì chúng chống lại sự thay đổi.
Nghi thức không phải chỉ là, thậm chí không bao giờ là, các lễ hội ồn ào có nhiều người tham dự với các hình thức ồn ào hào nhoáng. Như nhiều người vẫn hiểu lầm, vô tình hay với dụng ý. Chúng bao quát hơn, tinh tế hơn, thường ngày hơn, và quan trọng nhất là, chúng phải được tạo nên qua nhiều năm tháng, dần dà một cách “tự nhiên”. Không có tác giả. Cũng như ngôn ngữ hay ca dao. Cũng như, một ví dụ khác, bữa ăn tối gia đình mỗi ngày có đông đủ mọi người, thời bây giờ rất khó làm được, là một thứ nghi thức.
Một kẻ không nhà
Tháo giày ra
Trước căn phòng bằng giấy các tông của mình
(Penny Harter, haiku, ghi theo trí nhớ)
Nhân loại yêu mến các nghi thức. Vì đó là căn nhà của họ, hay là quán cà - phê - vỉa - hè - dưới - hàng - phượng - vĩ tụ tập bạn bè mấy mươi năm của họ.
Ngôn ngữ thơ của Nye không dựng trên căn bản của tu từ học, vốn bị giam cầm bên trong các biên giới quốc gia; nó nằm sâu hơn, dưới những tầng lớp cốt lõi của tư tưởng, của cảm xúc, có tính tập thể, của nguồn mạch văn minh văn hóa Ả Rập hùng mạnh.
Hùng mạnh tức là khiêm tốn, cởi mở. Nhờ thế, Naomi Nye có khả năng viết về nhiều đề tài. Plato từng cho rằng đề tài của thơ không phải là sự chọn lựa chủ quan của tác giả. Quả thật, nếu chỉ dựa vào văn bản thì khó biết được bà đã đi đường nào: chọn lựa đề tài, xây dựng các ý tưởng, dựng bài thơ lên như dựng ngôi nhà, hay hoàn toàn ngẫu nhiên, không biết mình nói gì cho đến khi bài thơ đã nói xong? Mặc dù viết về những vấn đề chung, như tự do, chiến tranh, bạo lực, thơ của bà mang nặng tính riêng tư, cá nhân, cũng như nhiều nhà thơ Mỹ cùng thời. Đây có lẽ là một trong những khác biệt tế nhị giữa thơ Mỹ và thơ châu Âu: trong kinh nghiệm đọc của riêng tôi, thơ châu Âu thường trừu tượng hơn, để lại ít hơn các dấu ấn cá biệt của hoàn cảnh riêng tư, trong khi thơ Mỹ “hiện thực” hơn. Tôi nghĩ rằng có phần ảnh hưởng của phong trào “Thơ xưng tội” (Confessional poetry) khởi đi từ Robert Lowell và Anne Sexton. Có con đường đi xuống, đi xuống mãi đến vực lỗi lầm quá khứ, đến tội lỗi của chúng ta, đến niềm hy vọng tan vỡ, đến sự thất vọng đối với con người. Từ bóng tối, chúng ta đi dần lên trở lại, khó nhọc nhưng không bỏ cuộc, cuối cùng chúng ta đi lên được từng bước, nâng đỡ bởi sự tha thứ. Sự tha thứ đối với người khác và đối với chính dĩ vãng của chúng ta. Bài thơ nào cũng có nhiều hình ảnh, nhưng chúng thường xoay quanh một hình ảnh trung tâm, xuyên qua nhiều bậc thang nhận thức. Đây là một hình ảnh trung tâm:
Bạn phải đi xa hơn thế nữa, đến nơi một người
Da đỏ nằm chết bên vệ đường
Trong tấm vải poncho
Hình ảnh là một phần của cuộc sống, có tầm ảnh hưởng rộng hơn nhiều người tưởng. Khi phát âm một chữ, ta thường nghĩ đến một hình ảnh cụ thể; các giấc mơ đọng lại trong ký ức cũng bằng hình ảnh. Chúng là những hoạt động vừa lý trí vừa xúc cảm, đến thẳng từ vô thức. Không thể giải thích được tại sao lại là người da đỏ, lại là tấm vải poncho. Chúng hoàn toàn đặc thù cho một hoàn cảnh riêng tư, nhưng bất kỳ một người đọc nào ở ngoài biên giới Hoa Kỳ cũng có thể cảm nhận và chia sẻ. Bởi vì:
Bạn phải nhìn cho được: kẻ nằm chết ấy chính là bạn
Đó là cách nói nửa kêu gọi, nửa tâm tình. Nói cho cùng, trong nhiều trường hợp, thơ tâm tình cũng có khả năng mê hoặc, hùng biện. Ví dụ:
Mùa cam đương ngọt trên đầu
Chim kêu ríu rít địa cầu của ta
(Tố Hữu)
Hay, nhưng có phần hùng biện.
Đọc xong, người đọc dễ quên “cam” và “chim” đi mà nghĩ nhiều hơn đến địa cầu. Địa cầu của ta: vì vậy nó đang rộng hóa ra chật. Cái ta bao giờ cũng nhỏ bé.
Tranh luận với người khác, là hùng biện, tranh luận với chính mình, là thơ.
(William B. Yeats)
Tâm tình hay hùng biện là vấn đề giọng điệu. Giọng điệu của một bài thơ là giọng nói của nhà thơ thể hiện trong bài thơ ấy. Là chữ ký, dấu triện của nhà thơ lên một bài cụ thể. Giọng điệu có thể thay đổi; giọng nói thì không. Một bài thơ có thể có nhiều hơn một giọng điệu. Cơ sở vật chất của giọng điệu là từ vựng, văn phạm, cấu trúc câu, cách ngắt dòng, vần, cách nói trực tiếp và cách nói bóng bẩy. Âm thanh bao gồm các nguyên âm, các phụ âm, lên giọng xuống giọng; và trong tiếng Việt còn là các dấu huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã. Tiếng nói một người, trong một bài thơ, có thể mau lẹ hay chậm rãi, thúc giục gay gắt hay ung dung từ tốn. Sức nặng của mỗi chữ cũng khác nhau: những chữ có “nội dung” nặng hơn những chữ bổ túc, thường là các tính từ, trạng từ, liên từ. Sự khác nhau này cũng tạo ra chú ý của người đọc đối với một câu thơ, nhờ vào việc di lệch khỏi các chuẩn tắc.
Ví dụ đại danh từ có tính liên kết who và liên từ and chuyên chở một nội dung lớn hơn trọng lượng của chính chúng:
Đi trong đêm trường với nhiều kế hoạch
Chỉ hơi thở mong manh buộc chặt với đời.
(3)
Mặc dù truyền thống văn học Trung Đông ảnh hưởng đến bà, ghi dấu ấn của nó trong những bài thơ có hình thức như thể gazelle, Naomi Nye thường làm thơ tự do như bài thơ trên đây. Tương tự các nhà thơ đương đại, thơ tự do của bà rất “tự do”, nghĩa là nếu tháo rời chúng ra như người ta tháo một cái máy, cấu trúc của các bài thơ ấy gần như không còn lại gì cả, có thể làm cho các nhà phê bình cổ điển ngẩn ngơ. Ai cũng biết rằng thơ tự do không có luật cố định về vần, không có khuôn mẫu cố định về điệu (mặc dù tất nhiên chúng vẫn có thể có vần điệu riêng của từng bài), nhưng gần đây chúng cũng đánh mất cả những tiêu điểm cuối cùng như đơn vị câu thơ và sự chuyển câu, ngắt câu (line-ending).
Tôi cho rằng tuy thế vẫn còn một trong hai yếu tố cuối cùng bền bỉ ở lại: (1) sự lập lại (repetition) của các chữ, hay (2) sự lập lại của các mẫu cảm xúc.
Before you know
Before you learn
Before you know
Nhờ thế, có một sự dừng lại, một điều gì gần như là sự treo lơ lửng, nằm xen kẽ giữa các trạng huống gấp rút hơn.
Naomi Nye sử dụng trong thơ nhiều hình ảnh mang tính phổ biến, di chuyển gần về phía các biểu tượng, vốn cũng là một loại ẩn dụ nhưng có tầm khái quát cao, mang tính tập thể và bao giờ cũng có tính truyền thống. Chúng có thể xuất hiện đơn nhất hay tạo ra các tổ hợp. Các ẩn dụ chăm chú nói về bản thân nó, trong khi các biểu tượng không nói về bản thân nó.
Bà thường nhắc đến đất đá, nước, mưa, trà, ngựa, mặt trời, mù sương… đầy khí hậu sa mạc chẳng hạn. Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn là tổ hợp ẩn dụ của Tuệ Sỹ. Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm là tổ hợp biểu tượng của Quang Dũng. Bộ lạc ta xưa mất hải tần vừa là ẩn dụ vừa là biểu tượng của Đinh Hùng.
Bài thơ của Naomi Nye đi xa mà không lạc đề, về gần nhưng không ràng buộc; đó là nhờ khả năng cưu mang sự diễn dịch nhiều lớp đối với các ý nghĩa. Dùng một câu thơ để chở một ý tưởng trừu tượng là một trong những công việc khó khăn của nhà thơ. Nó có thể thất bại. Bởi vì ý tưởng trừu tượng đến lượt chúng hạn chế sự phát triển nhiều lớp của các ý nghĩa. Chủ đề của một bài thơ có thể phức tạp, nhiều hơn một, miễn là tính phức tạp của chúng đừng trở nên quá nặng đối với bài thơ. Naomi Nye có thể đề cập đến cùng lúc nhiều vấn đề như tình yêu, sự đau khổ, sự cô độc, lòng nhân hậu, một phần vì khả năng sử dụng ngôn ngữ có tính liên kết: các giới từ và liên từ nối chúng lại. Tôi có thói quen chú ý đến cách sử dụng các giới từ và liên từ của các nhà thơ, nhất là những nhà thơ mới xuất hiện, nhận xét họ qua một kỹ năng gần như không thay đổi trong các bài thơ khác nhau, cùng một người.
Before you know kindness as the deepest thing inside,
like salt in a weakened broth.
Chúng ta chú ý chữ as (như) và chữ like (như) được dùng khác nhau. Đó là các liên từ vừa kết nối vừa phân biệt các sự vật, đối tượng. Ngưỡng cửa siêu hình:
Bạn phải nhìn cho được: kẻ nằm chết ấy chính là bạn
Thơ không sinh ra trong chân không, nhưng đọc một số nhà thơ tiếng Việt (và cả tiếng Anh) gần đây, tôi không có ấn tượng mạnh mẽ về việc họ đang sống ở đâu, viết ở đâu, triết lý của họ về cuộc đời là gì. Đọc Naomi Nye thì trái lại: bà sống cuộc đời cụ thể mỗi ngày, ghi lại chúng, hít thở không khí tự do hiện đại nhưng vẫn không đi lạc trong môi trường đa văn hóa của Mỹ. Người ta không thể nào kiến tạo một thế giới tốt đẹp mà không bắt đầu từ sự cảm thông giữa một người và một người. Những kẻ không có khả năng “chạnh lòng” trước sự đau khổ cá nhân của người khác, một cách riêng lẻ - sự chạnh lòng đôi khi làm họ mất cả khả năng tự kiểm soát, lạc hướng, thứ tình yêu đôi khi làm họ thất bại - những kẻ ấy không bao giờ có thể trở thành những người cứu giúp thế giới, những nhà cách mạng hay những kẻ tự tuyên bố tương tự. Sự cảm thông là phương tiện quan trọng nhất để cải thiện các mối quan hệ xã hội. Khi một người bắt đầu tập nhìn sự vật từ tâm trạng của người khác, anh ta sẽ dịu giọng xuống, bớt ra vẻ hùng hồn say đắm, khi một người may mắn thành công bắt đầu tập nhìn sự vật từ khung cửa hẹp của kẻ rủi ro thất bại, anh ta sẽ bớt hăng hái đi trong các tuyên bố về chân lý của mình. Nhờ thế, anh hiểu ra rằng chính anh cũng có thể rơi vào vị trí của người thất bại, hoặc là trong quá khứ, hoặc là trong tương lai: anh trở nên khiêm tốn hơn, và do đó, thông minh hơn, anh trở nên lưỡng lự hơn, và do đó, minh triết hơn.
Tuy thế bạn vẫn có thể tránh được kinh nghiệm trực tiếp mà vẫn học được bài học lịch sử nếu lắng nghe người khác. Lắng nghe các nạn nhân, trẻ con, những người phụ nữ, những người dũng cảm và các đấng thiêng liêng. Không mất thì giờ lắng nghe những kẻ đang bị chi phối bởi lợi ích hay quyền lực, đang say mê bởi các lý thuyết. Lắng nghe tiếng nói của thơ ca. Trẻ con biết cách để cảm thông với người khác mau lẹ. Có lẽ đó là lý do khiến Naomi Nye, sau cuộc chiến tranh vùng vịnh 1991, xuất bản tuyển tập thơ Bầu Trời Chung Của Chúng Ta (This Same Sky), tập hợp 129 nhà thơ nhỏ tuổi khắp thế giới. Trong khi nước Mỹ lao vào cuộc chiến tranh ở Iraq thì nó cũng đủ sức mạnh tinh thần để khiêm tốn tiếp nhận và hào hiệp truyền đi thông điệp từ một cô bé thi sĩ ở Iraq.
Ai có thể mở cánh cửa này
Của dòng sông xanh, của đám mây vàng,
Của trái tim tôi?
(Zuhur Dixon)
Thơ không kêu gọi các hành động cụ thể, không dẫn đến các kết luận, nhưng với chút hài hước nhẹ nhàng, có thể tạo ra các khải thị:
Điều gì trước đây bạn nắm được trong tay,
Đếm lui đếm tới mỗi ngày, nâng niu gìn giữ:
Tất cả đều phải ra đi
Mối quan hệ giữa hình thức và nội dung trong thơ có lẽ bắt đầu như thế này: nội dung kêu gọi hình thức, nhưng đó không phải là một nội dung hiển hiện như ta thấy trong văn bản, tức là trong hình thức sau cùng của nó, sau sự xuất hiện của thể. Ví dụ: ở nông thôn khi rảnh rỗi, xong việc đồng áng, thế nào cũng phát sinh các hình thức tế lễ, ca hát, nhảy múa, trong những hình thức được quy định. Hình thức lễ hội này là biểu hiện sau cùng của sự chờ đợi, mong đợi, của kỳ vọng tập thể. Đó là thể. Biểu hiện bên trong của thể là cấu trúc, biểu hiện bên ngoài của cấu trúc là thể. Đến thăm một người mới qua đời, chúng ta thất vọng nếu không thấy cảnh tang lễ, người thân khóc lóc, đi qua một đám cưới chúng ta thất vọng nếu không thấy cô dâu mặc áo choàng trắng dịu dàng mà thấy một cô nàng mặc quần jeans nói cười ầm ĩ. Như vậy các lễ cưới làm cho niềm vui được trọn vẹn, cũng như tang lễ làm cho sự đau khổ trở nên chịu đựng được, đáng kính trọng và có ý nghĩa. Tuy thế, hình thức không phục vụ cho nội dung theo nghĩa giản dị của chữ này. Thể của một bài thơ không phải là phương tiện của các ý tưởng. Khác với một số nhà thơ có khuynh hướng trừu tượng, sử dụng nghĩa bóng nhiều hơn nghĩa đen, dùng nhiều hình ảnh trong các giấc mơ, ví dụ John Ashbery hay Frank O’Hara thực mà ảo, ảo mà thực, Naomi Nye có lối viết trực tiếp, dẫn chuyện có cao điểm và có kết thúc, một phần nhờ cấu trúc nhiều lớp ý nghĩa.
Sự tiếp nhận của người đọc đối với ý nghĩa là một quan tâm của thơ hậu hiện đại. Trong khi từ chối sự diễn dịch ý nghĩa, nói cho cùng các bài thơ vẫn mời gọi sự đọc kỹ, đọc lại.
Ví dụ, nếu đọc Wallace Stevens (Ngọn nến trong thung lũng):
Ngọn nến của tôi cháy một mình trong thung lũng bao la
Những tia sáng dài xa của đêm sâu chụm đầu lên nó
Cho đến khi gió thổi.
(4)
Bạn sẽ thấy sự khó hiểu không nằm trong ngôn ngữ. Nó nằm ở ý nghĩa. Ngôn ngữ không chỉ chứa đựng các thông tin; chúng có thể được chia làm hai loại: một loại ngôn ngữ mang tính quy chiếu (referential language), có tính biểu tượng, tượng trưng, đại diện. Đó là ngôn ngữ của các từ điển. Loại thứ hai có thể gọi là ngôn ngữ trình diễn (performative language), khi sự xuất hiện của chúng tạo ra sự thay đổi một tình trạng ở người tiếp nhận. Vì ngôn ngữ thơ là sống động, có tính trình diễn, nên ý nghĩa của chúng không nên được hiểu theo quy chiếu thông thường. Mặt khác trong khi ngôn ngữ thơ không thuần túy là ngôn ngữ thông tin, không nên được hiểu như một ngôn ngữ quy chiếu, thì nó lại chống lại sự trống rỗng, chống lại cái vô tích sự của ngôn ngữ đối với cuộc sống. Những bài thơ mô tả sự nhàm chán của đời sống lại không được quyền nhàm chán.
Tôi cho rằng đây là điều mà hiện nay nhiều người nhầm lẫn. Bài thơ của Naomi Nye chứng tỏ ngôn ngữ thơ dày đặc các thông tin: chúng được nén lại trong các câu, giữa các chữ, bên trong các chữ. Ngay khi có những chữ ít quan trọng hơn, ít có ý nghĩa về ký hiệu hơn xuất hiện, thì những chữ ấy cũng cần phải được người đọc và người trình diễn thơ quan tâm hệt như các chữ quan trọng khác. Các nhà thơ có thể viết những chữ hay những câu có vẻ vô nghĩa hay trống rỗng nhưng đó là chủ ý nghệ thuật riêng. Trong trường hợp này chúng cũng quan trọng như bất kỳ một câu hay chữ nào khác.
Trước khi bạn biết lòng tử tế từ sâu sắc nguồn cơn
Bạn phải biết đau buồn kia cũng sâu xa như thế
Thơ trước hết là âm thanh. Các chữ xung quanh chúng ta, tôi nghĩ, cũng tạo nên một trường. Chúng tương tác với nhau, chữ này gọi chữ kia, chữ trước kích thích chữ sau, chữ ngoài hất chữ trong ra. Việc đọc thơ vang lên làm cho trường chữ có tương tác mạnh hơn.
Như thế, đọc thơ tạo ra một kinh nghiệm hiếm có; đọc một bài thơ không phải là lập lại kinh nghiệm của tác giả, như máy ghi âm ghi lại lời người khác, mà tạo nên một tiếng nói thứ ba, ở tầm vóc lớn hơn hay nhỏ hơn, tùy người đọc. Toàn bộ kinh nghiệm sống của người đọc ấy được dồn lại trong khi đọc một bài thơ, chuyển tất cả kí ức thành các niềm mơ ước về tương lai, thẩm định và chuyển giao các giá trị tinh thần. Cách đọc (lớn lên, thành tiếng) một bài thơ quan trọng đến mức tùy theo giọng đọc lớn hay nhỏ, thấp hay cao, tâm trạng buồn rầu hay hứng khởi, các chữ được kéo dài ra hay được nén lại, mà bài thơ có tác động khác nhau lên người nghe, tôi muốn nói là cộng đồng người nghe, trong đó có chính người đọc lên. Đọc theo trí nhớ còn là chuyện khác nữa, vì trí nhớ thay đổi. Các ý tưởng, cũng như các mùi vị, cảm giác chen lẫn nhau khi bạn thưởng thức cái đẹp. Vậy, đọc thơ là một quá trình liên tưởng tự do, giúp chiếu rọi ánh sáng tới những vùng tối riêng, phi điều kiện hóa, nhằm giải phóng lịch sử.
Đọc thơ không nên dừng lại với việc đọc bằng mắt. Thơ cũng viết cho tai: cần đọc chúng vang lên.
Ngoại lệ: đối với các bài thơ dở thì bạn được miễn nhiệm vụ này.
Thơ của Naomi Nye gây cho người đọc ấn tượng về một người suốt đời đi tìm sự thật, mặc dù bà không đặt nhiều niềm tin vào cái gọi là sự thật cuối cùng, vào chân lý cuối cùng, quan trọng nhất. Thật ra, không làm gì có sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử. Tuy vậy, khác với quan điểm của chủ nghĩa giải cấu trúc, như có thể thấy với Jacques Derrida, Naomi Nye tin tưởng vào khả năng của thơ ca trong việc nhìn thấu tận đáy bản chất của sự đau khổ của thế giới, và khả năng nhìn thấy được những khuôn mặt khác nhau của sự thật. Như thế, bà gần với Margaret Atwood hơn, nhà thơ Canada, người viết những câu thơ:
Nếu sự thật của thế giới này một ngày được nhận ra
Sẽ được nhận ra qua nước mắt
(Dẫn theo Hilda Hollis)
(5)
Cách đây vài năm, tôi đến thăm di tích Maya ở Nam Mỹ. Bên những ngọn tháp hùng vĩ, tôi ngạc nhiên khi được biết bí mật cao nhất của người Maya trong xây dựng lại thuộc về âm nhạc. Nếu đứng dưới chân một bức tường, không cần phải là hai bức tường đối diện, và vỗ tay, bạn sẽ nghe được tiếng ngân rất lâu dội đi dội lại. Như thế kiến trúc của tường tháp đã được xây ở mức nhạy cảm khiến cho các rung động âm thanh của bàn tay nhỏ bé được ghi nhận. Vào giây phút ấy, tôi bỗng nhận ra rằng có một sự tương đồng lạ lùng giữa lòng tử tế của con người và sự hài hòa về âm học của các vật thể. Con người cũng như những bức tường đá kia hoàn toàn có khả năng ghi nhận các rung động từ người khác. Dễ dàng quan sát thấy rằng những đứa bé khi đứng gần nhau sẽ bắt chước điệu bộ cử chỉ, cười khóc của nhau. Đó là sự lan tỏa tức thời của các xúc động tinh thần. Nếu sự xúc động không thể lây lan trong một cộng đồng, nếu người này không thể tác động đến người khác để họ đồng cảm với mình, xã hội sẽ rơi vào một tình cảnh đáng sợ. Khi nhìn thấy sự đau khổ ở người khác, nếu chúng ta hoàn toàn thờ ơ, cơ chế tinh thần của chúng ta sẽ bị gãy đổ, các hoạt động tâm lý sẽ tê liệt, cái mà Freud gọi là cơ chế thăng hoa sẽ không làm việc, superego vắng mặt. Khi nhìn thấy sự bất công của xã hội, nếu chúng ta hành động, bất kể hành động ấy đưa đến kết quả cụ thể thế nào, thành công hay thất bại, thì về mặt tinh thần, chúng lập tức tạo kết quả lên chúng ta: đó là sự khẳng định rằng ý thức của chúng ta vẫn còn hoạt động.
Sự im lặng vì lẩn tránh và sợ hãi làm người ta già đi mau lẹ, bào mòn trí tuệ, và quan trọng hơn nhiều, bẻ gãy nhân cách, của họ. Bạn có thể tìm thấy nhiều ví dụ trong các nhân vật nổi tiếng bị đàn áp, dưới các chế độ khác nhau trong lịch sử.
Như thế, các hành động xã hội, bất chấp kết quả thành công hay thất bại, tác động như một liệu pháp tâm hồn. Toàn bộ điều này gọi chung là sự vang động, phản hồi. Chỉ những người có khả năng tiếp nhận sự vang động thì mới có khả năng cất bước ra khỏi ngôi nhà trú ẩn của mình, và về mặt luân lý, thoát ra khỏi sự vị kỷ, trở thành người tự do, mà không cần đến bất kỳ một sự ưu đãi nào. Đây không phải là sự hòa lẫn giữa cái tôi và cái ta, mà chỉ là tương tác giữa những cái tôi trong cộng đồng dân tộc, nhân loại. Khép kín mình lại bao giờ cũng đưa đến sự mất bền vững, không những đối với các định chế xã hội, mà còn đối với sự lành mạnh tâm linh; sự mất bền vững này đến lượt nó thúc đẩy quá trình suy đồi tập thể.
Nhiều người nhận xét, với một chút than phiền rằng, thơ và nhạc thường buồn. Nhận xét đó có thể đúng.
Bạn phải thức dậy mỗi ngày với nỗi đau buồn ấy
Nhưng ý nghĩa của chuyện buồn hay vui trong thơ không dừng ở đó. Nỗi buồn đau là bậc thang, là cánh cửa mà bạn bắt buộc phải bước lên, phải vượt qua, để đi tới một cảnh quan khác, rộng rãi hơn. Bởi vì khả năng cao nhất của trí óc con người là tưởng tượng, khả năng cao nhất của tưởng tượng là sự đồng cảm - vốn là thứ nhiều khi vượt ra ngoài biên cương ngôn ngữ.
Vẫn Naomi Nye:
Người Ả rập thường nói
Khi một người khách lạ mới đến nhà
Trong ba ngày hãy nuôi nấng anh ta
Rồi mới hỏi: bạn là ai thế?
(6)
Nếu điều này làm cho bạn có chút nghĩ ngợi mông lung, ngay giữa một ngày bận rộn, chuyện này lan qua chuyện khác, đó mới thật là thơ. Ngoài ra, thì không phải.
N.Đ.T
(TCSH345/11-2017)
------------------------
(1)
Kindness
Before you know what kindness really is
you must lose things,
feel the future dissolve in a moment
like salt in a weakened broth.
What you held in your hand,
what you counted and carefully saved,
all this must go so you know
how desolate the landscape can be
between the regions of kindness.
How you ride and ride
thinking the bus will never stop,
the passengers eating maize and chicken
will stare out the window forever.
Before you learn the tender gravity of kindness,
you must travel where the Indian in a white poncho
lies dead by the side of the road.
You must see how this could be you,
how he too was someone
who journeyed through the night with plans
and the simple breath that kept him alive.
Before you know kindness as the deepest thing inside,
you must know sorrow as the other deepest thing.
You must wake up with sorrow.
You must speak to it till your voice
catches the thread of all sorrows
and you see the size of the cloth.
Then it is only kindness that makes any sense anymore,
only kindness that ties your shoes
and sends you out into the day to mail letters and
Purchase bread,
only kindness that raises its head
from the crowd of the world to say
It is I you have been looking for,
and then goes with you everywhere
like a shadow or a friend.
(2)
When word of his death arrived
We sat in a circle for days
Crying or not crying
Long ago in the other country
Girls balanced buckets
On their heads
(3)
who journeyed through the night with plans
and the simple breath that kept him alive.
(4)
My candle burned alone in an immense valley.
Beams of the huge night converged upon it,
Until the wind blew.
(5)
The facts of this world seen clearly
Are seen through tears
(6)
The Arabs used to say,
When a stranger appears at your door,
Feed him for three days
Before asking who he is
Tải mã QRCode
THANH TÙNG Ghi chépRa giêng Canh Dần, tết nhất vừa xong, tình cờ lướt mạng thấy Vitours đang mời đối tác tham gia famtrip Khám phá Cố đô Vương quốc Thái Lan và Tam giác Vàng. Tôi đăng ký ngay, dù chỉ còn 3 ngày nữa là khởi hành.
THU TRANG (Pháp)Vài tháng nay ở Pháp đã rộn ràng xảy ra nhiều chuyện đáng để chúng ta suy nghĩ. Có lẽ trước hết là việc chiếc tàu Erika chở dầu đã bị vỡ hầm chứa ngoài khơi, biển Bretagne vùng Tây nước Pháp. Một đại nạn! Dầu đã bị sóng đưa vào bờ làm đen bẩn hầu hết các bờ biển, bãi tắm nổi tiếng.
NGUYỄN VĂN DŨNGSakuya là vị nữ thần cực kỳ xinh đẹp của xứ mặt trời mọc. Nàng là người đầu tiên tự tay gieo hạt giống cây anh đào trên núi Phú Sĩ. Mùa xuân hoa anh đào nở, đẹp cái đẹp lộng lẫy mê hồn của nàng. Bởi thế, người Nhật gọi hoa anh đào là Sakura - đọc trại từ Sakuya. Ngày nay, hoa anh đào đã có nhiều loại và mọc nhiều nơi, nhưng không nơi đâu đẹp bằng hoa anh đào ở núi Phú Sĩ.
VŨ LÊ THÁI HOÀNGTrong ánh nắng vàng rực tuyệt đẹp, giữa một New York hối hả, tấp nập, tua tủa nhà chọc trời, kiêu hãnh hiện ra bóng hình một phụ nữ khổng lồ tay cầm ngọn đuốc cháy sáng soi đường vào Tân Thế Giới.
ĐẶNG THỊ HẠNHMùa rét năm ấy ở Paris đã không có tuyết. "Một điều rất đặc biệt", ông Xuân Thủy nói với tôi như vậy khi tôi đi dạo với ông trong khu vườn bao quanh một cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp dành riêng cho phái đoàn thương lượng của ta ở Paris .
HÀ PHẠM PHÚTôi chọn cái tựa trên cho bài viết một phần vì tôi bị ám ảnh bởi bộ tiểu thuyết Thiên long bát bộ của Kim Dung và bài của Quách Phong, một nhà nghiên cứu trẻ công tác tại đài phát thanh truyền hình châu Đại Lý - viết về chuyến thăm Đại Lý của nhà văn rất nổi tiếng này.
VÕ QUANG YẾNNúi cao cũng có đường trèo,Đường đi hiểm nghèo cũng có lối di. Ca dao
VÕ QUANG YẾNNguyễn Hải Đang, 20 tuổi xuân xanh, xúng xính trong bộ y phục mới tinh trường Bách Khoa Ecole Polytechnique, thường được gọi tắt là X.
NGUYỄN VĂN DŨNGKathmandu là kinh đô của vương quốc Nepal, nằm dưới chân Hy mã Lạp sơn. Là thành phố của tôn giáo và nghệ thuật, của nghi thức và lễ hội, của cổ kính và hiện đại, của thánh thiện và tâm linh, của suy tư và khát vọng, của du lịch và mộng mơ, của nắng gió và tuyết. Ngày nay, Kathmandu còn là thành phố của thanh bình và chiến tranh.
PHẠM THỊ ANH NGABài này nhằm giới thiệu một vài nét về diện mạo thi ca Pháp và một số hoạt động liên quan đến thơ trong xã hội Pháp những năm gần đây.
ĐINH CƯỜNGViện Bảo tàng Mỹ thuật Luxembourg, Paris vừa chấm dứt cuộc triển lãm qui mô, hàng trăm bức tranh của một họa sĩ lẫy lừng, bi thảm nhất thế kỷ hai mươi: Amedeo Modigliani.
ĐẶNG TIẾNNước Pháp có những thành phố nhỏ, lừng danh nhờ một sinh hoạt văn hoá. Ví dụ như Cannes, Deauville với những Đại Hội Điện Ảnh. Hay Angoulême nổi tiếng từ 30 năm nay với truyền thống Festival Quốc Tế Truyện Tranh BD, do chữ Bande Dessinée viết tắt, có nghĩa là băng hoạt họa (strip cartoon). Thành phố lịch sử với năm vạn dân, cách Paris hơn 400 km về phía Tây Nam, từ ngày 23 đến 26 tháng 1-2003, trở thành trung tâm thế giới về nghệ thuật Truyện Tranh BD, lần thứ 30.
NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP Ghi chépMột chiều cuối đông năm ngoái tại góc Quán Cũ 25 Phan Đình Phùng, khi biết chúng tôi chuẩn bị chuyến khảo sát văn hóa tại Nhật Bản, giáo sư Đại học ngoại ngữ Tokyo Kawaguchi đề nghị chúng tôi nên bố trí kế hoạch đến Nhật vào mùa xuân để còn kịp ngắm hoa anh đào. Y lời, đúng ngày mở đầu tháng Tư năm nay, PGS.TS Phan Trọng Thưởng, Viện trưởng Viện Văn học và tôi lên đường công du sang Nhật khi biết chắc hoa anh đào đã nở.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Ghi chép Truyền thống trong hội nhập...Rời xe bus số 64 chúng tôi rảo bộ trên con đường lát đá tảng của phố Della Concilia Zionli giữa hai hàng cột đá trông như những ngọn nến khổng lồ để đến với nơi mà bất kỳ người dân công giáo nào cũng hằng mơ ước.
NGUYỄN VĂN DŨNG KýSau gần nửa tháng rong chơi suốt hai đầu thượng hạ Ai Cập, tôi trở lại Paris chuẩn bị chuyến du hành sang Hy Lạp. Bỗng được tin của Văn Cầm Hải từ quê nhà: “Thầy về gấp. Đi Tây Tạng ngày 15/9”. Tôi quyết định ngay. Lúc ấy tôi không hiểu vì sao. Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao.
NGUYỄN VĂN DŨNGTôi mới có ý định leo núi Phú Sĩ trên đường từ Tokyo về cố đô Kyoto. Chiếc tàu siêu tốc chạy ngang qua vùng núi Fuji. Bên ngoài, trông Fuji hùng vĩ và đẹp hơn trong ảnh nhiều. Trên nền xanh thẳm của Công viên Quốc gia Fuji-Hakone-Izu, hai cánh núi từ tít tắp hai đầu Bắc Nam như đôi tình nhân thiên thu gặp lại, tràn về phía nhau. Và khi gặp nhau, cả hai hoà thành một, rồi bay vút lên trời, xuyên qua mấy tầng mây, để lộ giữa thinh không cao ngút cái chỏm mĩ miều như đầu ngọn bút lông.
TRẦN LỘC HÙNG1. Bạn bè tôi thường nói: “Không hiểu nước Nga nuôi mày kiểu gì mà tới bây giờ mày vẫn yêu nước Nga”. Vợ con tôi cũng vậy. Nước Nga dưới con mắt của những người thân của tôi hoàn toàn khác tôi. Đơn giản vì tôi đã tới nước Nga từ những năm tôi mới 17 tuổi, hơn nữa tôi đã sống, học tập và làm việc ở nước NGA ngót nghét 10 năm.
NGUYỄN VĂN DŨNG Bút kýChuyện kể rằng, vào một ngày tuyết trắng Tây kinh, Võ Tắc Thiên bỗng cao hứng lệnh cho tất cả loài hoa, nội trong một đêm phải nở hết. Sáng hôm sau, tuy giữa mùa đông giá lạnh, các loài hoa đều ríu rít nở, trừ... mẫu đơn. Võ Tắc Thiên giận lắm, bèn phán đày mẫu đơn xuống Lạc Dương cho khuất mắt. Từ đó, Lạc Dương trở thành quê hương của hoa mẫu đơn.
LÊ BÁ THỰ Bút kýNhận lời mời của Bộ Văn hoá và Viện sách Ba Lan, tôi đi dự Đại hội Dịch giả Văn học Ba Lan toàn thế giới lần thứ nhất. Sau khi đến Vacsava, sáng 11 tháng 5 tôi đáp xe lửa xuống Krakow , thành phố cách thủ đô Vacsava trên 300 cây số. Ngồi bên cửa sổ con tàu, tôi ngắm cảnh mùa xuân hai bên đường: những rừng thông tươi tốt, những cánh đồng lúa mì xanh xanh trải dài tít tận chân trời.
VI THÙY LINH Tuỳ bútNgười Trung Quốc (TQ) có câu: “Trên trời có thiên đàng, dưới có Tô Châu, Hàng Châu”. Chỉ thoạt nghe, đã thấy người ta thật tự hào, về cảnh đẹp thành phố (TP) này đến thế nào, trên đất Đại lục dày đặc thắng cảnh, di tích, kỳ quan của Trung Hoa cẩm tú.