NGUYỄN SỸ TUẤN
Nhân giỗ lần thứ 5 nhà văn Võ Hồng (2013 - 2018)
Ngân Sơn là một làng quê nhỏ bé ở Tuy An, Phú Yên, là quê hương của Võ Hồng (1921 - 2013), nên khi đặt bước chân vào con đường văn học ông mang theo cả cảnh sinh hoạt của làng quê vào Mùa gặt, truyện ngắn đầu tay in trên Tiểu thuyết thứ Bảy (1939), với bút danh Ngân Sơn. Những năm trọ học xa, rồi tham gia kháng chiến, qua nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều người, đã góp thêm vốn sống cho công việc sáng tác sau này của nhà văn. Do đó, ưu điểm dễ nhận ra ở Võ Hồng là ông có khả năng đi sâu khai thác nhiều mảng hiện thực đời sống khác nhau, theo dõi và trình bày nhiều số phận khác nhau, đi qua nhiều không gian và thời gian khác nhau của một đời sống đa diện, nhiều chiều.
Khác với nhiều người, đời văn của Võ Hồng gắn liền với một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Ở quãng đường đi dài cùng với nhân dân miền Nam, ông vẫn giữ cho ngòi bút của mình đứng thẳng, không thách thức nhưng vẫn ngạo nghễ, thái độ khách quan trung thực với lương tâm của người cầm bút. Tất cả những gì hiện ra dưới ngòi bút của ông, trước khi biến thành mực chảy thấm vào trang sách, đã chảy qua trái tim yêu nước bắt nguồn từ truyền thống dân tộc, loang thấm dần qua hai cuộc kháng chiến. Quả thật, không có gì quý bằng, trên quãng đường đi già nửa đời người, ông vẫn giữ được cái màu đặc sánh máu thịt của nhân dân, không hề bị phai loãng. Tư tưởng yêu nước của Võ Hồng, không thể hiện ở quan điểm chính trị khô khan, trực tiếp mà được hiểu ở một nghĩa rộng hơn, nâng lên ở một cấp độ cao hơn, khái quát hơn ở tấm lòng nhân ái, yêu thương nồng nàn đối với con người, với quê hương đất nước. Đó là chủ đề đi dọc quá trình sáng tác của nhà văn.
Xuất thân trong một gia đình khá giả ở nông thôn, những kỷ niệm tuổi thơ êm đềm đã phổ vào tâm hồn nhạy cảm của ông một tình yêu quê hương sâu sắc; đến tuổi trưởng thành, ông lại được chứng kiến không khí sôi động của những ngày Cách mạng tháng Tám, rồi trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến của toàn dân. Điều ấy có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hình thành văn cách của Võ Hồng. Một số truyện ngắn trong hai tập Hoài cố nhân, Trầm mặc cây rừng và bộ tiểu thuyết liên hoàn Hoa bươm bướm, Như cánh vạc bay đã dựng lại một cách chân thực diện mạo đời sống kháng chiến của nhân dân các tỉnh Nam Trung bộ. Cố nhiên, không thể đòi hỏi ở Võ Hồng những gì mà ông không thể có được. Võ Hồng triển khai mạch văn trên một diện rộng, ngoặt ra nhiều ngả rẽ, hướng về nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống kháng chiến, dưới một hệ thống hình tượng nghệ thuật đa dạng và tập trung thể hiện các nhiệm vụ chính của công tác kháng chiến: chống giặc đói, chống giặc dốt và chống giặc ngoại xâm.
Bối cảnh làm nên Hoa bươm bướm và Như cánh chim bay chỉ giới hạn trong phạm vi một vài địa phương mà người viết đã đi qua trong kháng chiến: Đà Lạt, Dran, Phương Cựu, Tuy Hòa, Phú Yên… nhưng nó có khả năng khái quát được hiện thực kháng chiến ở nhiều vùng, nhiều thời điểm lịch sử khác nhau trong thời gian chín năm ấy, với những phong trào, những sinh hoạt của nhân dân, cùng với con người thuộc đủ mọi tầng lớp khác nhau trong xã hội, bước vào cuộc kháng chiến chống ngoại xâm một cách hăng hái, nhiệt tình và tự giác. Đó cũng là không khí chung của nhiều miền quê kháng chiến trên khắp đất nước lúc bấy giờ.
Đó là những người dân nghèo khó, khốn cùng “ở trần mãi đã đâm chai đi, đến lúc mặc áo vào lại sinh ra ngứa ngáy, khó chịu” như lão Tâm có cuộc đời “gần sáu mươi tuổi, hồi tưởng lại, không năm nào được thong thả, nghỉ ngơi” [1, Như cánh chim bay, tr.157]. Dẫu cách mạng đến lâu rồi, lão vẫn nghèo, đến nỗi không có cái cuốc để đi phá đường tiêu thổ kháng chiến. Nhưng cái nghèo bây giờ không làm lão nhụt chí, cái nghèo càng thúc đẩy lão lên tiếng bênh vực cách mạng, tranh cãi, đánh lại “kẻ bề trên” đã mấy đời đè đầu cỡi cổ dân đen, như Hương Năm Dòn. Đó là chị Hậu tất bật giữa chuyện nhà, chuyện cửa, chuyện đồng áng nhưng vẫn không xao nhãng công tác; chị Tha cán bộ tuyên truyền hát sai nhịp nhưng đêm phát thanh nào cũng sẵn sàng lên “giúp vui đồng bào” một tiết mục…
Võ Hồng tỏ ra chân thực và tinh tế khi miêu tả người cán bộ, bộ đội. Đó là những người nông dân mặc áo lính: “Học được mười chữ, đánh vần ngọng nghịu oe, oet, oeo… thì tiếp đến có cuộc hành quân, bắn rát mặt, chạy hụt hơi, đến hồi trú quân giải lao, kiểm tra lại thì chữ nghĩa rơi rớt hết trọi. Chẳng biết rớt ở chặng đường nào, bờ bụi nào” (tr.102). Hiện thực cuộc kháng chiến sôi động, dưới bút lực của Võ Hồng hiện ra không chỉ toàn những điều tốt đẹp. Có cả những thiếu sót sai lầm của bản thân từng cán bộ phần lớn xuất thân từ thành phần lao động, ít học hành, có nhiều hạn chế về năng lực nên có lúc vi phạm cả chính sách (sai sót trong công tác vận động nếp sống mới, bài trừ mê tín, cưỡng bức bình dân học vụ, cố đóng đủ chỉ tiêu tuyển quân,…).
Khung cảnh đời sống kháng chiến hiện ra với tất cả sự phong phú và chân thực, có ý nghĩa phổ biến: cảnh dạy học trong những chòi lá và các cổng gác chận đường đó chữ, cảnh tăng gia sản xuất tự túc, cảnh tiêu thổ kháng chiến, các đường giao thông phải dùng goòng, cảnh làm lễ xung phong nhập ngũ, cuộc sống thiếu thốn phải thay xà phòng tắm bằng lá chuối non… hình như đã từng chứng kiến, đã từng trải qua và khảm vào trong ký ức thành kỷ niệm đẹp đẽ thời trai trẻ của thế hệ, hoặc từng nghe qua lời kể của cha ông thành máu thịt cuộc đời đi qua, để lại cho ta nên vóc nên hình. Không gian của tháng năm kháng chiến được tái hiện trên trang sách sôi động, như một mảng đời luôn cựa quậy, nhắc nhở, phát ra những âm thanh thu hút mọi người.
Hạn chế của Võ Hồng ở các tiểu thuyết này là nhân vật trung tâm chưa được ông dụng công khắc họa nổi bật, chưa có quá trình phát triển tính cách một cách rõ nét và phù hợp với logic đời sống. Người viết thường sa vào các chi tiết vụn vặt để cho chất liệu đời sống ùa vào lấn át sự phát triển của tính cách, làm cho truyện gần với hồi ký hơn là tiểu thuyết. Những hạn chế này được khắc phục trong các truyện ngắn ở hai tập Hoài cố nhân và Trầm mặc cây rừng. Đây là những trang đời đầy xúc động về những năm tháng không yên trước và sau cách mạng bùng nổ. Những trang văn đẹp, những hoài niệm trữ tình về thời trai trẻ, có thể nói là một trong những trang văn hay nhất viết về Hà Nội, Đà Lạt, Nha Trang, Tuy Hòa. Đôi khi chỉ là truyện tình yêu lứa đôi (Hoài cố nhân, Ngày xưa, Hà Vi, Trầm mặc cây rừng… ) vẫn có sức liên tưởng, gợi lên những tình cảm lớn lao về lịch sử oai hùng của dân tộc còn hắt sáng lên trong khoảng sâu thẳm của tâm hồn người đọc, dội mãi vào mai sau.
Viết về thực tại của xã hội vùng tạm chiếm miền Nam, Võ Hồng tiếp tục ngợi ca tình yêu quê hương đất nước, những người nông dân chân chất sống giản dị, mộc mạc: “Quê hương được nuôi dưỡng, được bồi đắp, được bảo vệ bằng sức cần lao âm thầm của đại đa số những con người sống đạm bạc, nghèo nàn nơi thôn quê chứ đâu phải nhờ lớp thị dân sung sướng nơi thành phố” [2]. Ở truyện dài và tiểu thuyết, Võ Hồng đã dựng được không khí xã hội hiện thực, neo chặt vào dòng chảy của thời gian và có dư vang trong đời sống đa chiều; chỉ ra được con đường phát triển, đời sống nội tâm của nhiều nhân vật tiêu biểu, phổ biến, có tác dụng sâu sắc và lâu bền trong tâm tưởng người đọc.
Qua trang viết, Võ Hồng thường biểu lộ mọi điều tốt lành cho mọi người, mọi nhà… Thế giới nhân vật của ông là thế giới của những con người yêu thương, độ lượng. Dưới ngòi bút của ông, nhân vật nào cuối cùng cũng có thể trở thành con người tốt. Ông đánh thức thiên lương ở mỗi người, bằng cách kéo tất cả những gì tốt đẹp về phía mình, những người tốt bụng về đứng chật tâm hồn nhân ái, ấm áp tình người của mình. Do vậy, kết thúc của những tác phẩm dài hơi thường bế tắc, phải tìm đến một giải pháp áo tưởng với các thiên đường ở trên cao ở ngoài cuộc đời thực: Thuyên chết, Nhàn về quê nuôi con và lập cơ quan từ thiện (Gió cuốn); cuộc đời khốn cùng của bé Thúy cuối cùng gặp tình thương của dược sĩ Uyên (Nhánh rong phiêu bạc); bé Ngọc cũng gặp được gia đình tốt bụng nhận làm con nuôi (Công chua lạc loài); James Huỳnh không trả thù Khải và Băng Trinh mà bỗng nhiên hào hiệp giải tán băng du đãng để làm lại cuộc đời (Thiên đường ở trên cao). Tư tưởng nhân ái của Võ Hồng đã giúp ông dễ dàng thành công khi xây dựng nhân vật tích cực, chính diện, nhưng đối với nhân vật xấu, nhân vật phản diện ông thường rơi vào mơ hồ, giản đơn. Tâm hồn Võ Hồng như được đúc bằng một khối thủy tinh trong suốt tình thương, không chịu nổi những va chạm mạnh, nên đôi khi lên án cái ác cũng hết sức ngọt ngào.
Đọc Võ Hồng, chúng ta khó tìm thấy những tư tưởng lộ liễu, tính gay cấn và những lời lẽ mạnh mẽ. Như một cao thủ có nội công thâm hậu, ông chỉ nói về những việc bình thường, những chuyện có thật trong đời sống quanh mình, chuyện của chính bản thân và gia đình, những chuyện không có chuyện chi để viết. Tư tưởng sâu sắc lại được biểu hiện qua những chi tiết hết sức bình thường, người đọc không phải truy tìm ở nhiều tầng nhiều lớp xa xôi cũng có thể nhận thức được vấn đề. Biệt tài dựng truyện, tạo không khí cho truyện và xương thịt cho tính cách qua từng nét phác thảo cô đọng, làm cho Võ Hồng gần với Nam Cao. Ở ông có cái hóm hỉnh sinh động của Nguyễn Công Hoan, tình cảm nhẹ nhàng chân chất và thiết tha của Thạch Lam, lại có cả sự sắc sảo của Nam Cao. Không phải là sự cộng lại pha tạp, ảnh hưởng mà là sự nhất quán của một văn cách tài hoa theo kiểu Võ Hồng.
Võ Hồng là người thận trọng, chăm chút, lựa chọn để đặt đúng chỗ, đúng câu, từng chữ ngôn ngữ nhân vật để thể hiện đúng trình độ, lứa tuổi, địa vị xã hội. Cách viết của ông giản dị nhưng giàu hình ảnh, kết hợp với lối tư duy giàu sức liên tưởng, nhờ đó mỗi hình tượng của ông đều có sức gợi cảm theo cấp số nhân, những liên tưởng vừa dí dỏm vừa tinh tế tạo cho ý nghĩa thẩm mỹ nhiều sắc diện đa dạng. Võ Hồng là người có vốn sống phong phú, nhạy cảm, nắm bắt được tâm lý của nhiều loại người khác nhau: sự sa ngã tất yếu của một người xuất thân từ tầng lớp trên sa sút như Thuyên (Gió cuốn), cái sắc sảo của người đàn bà góa ở nông thôn Việt Nam như cô Ba Hường (Dấu chân sa mạc), cái chân chất của người cần lao như anh Năm Nhiều (Thế giới của Năm Nhiều), cái chập chờn khoái cảm của những người nghiện ma túy (Thiên đường ở trên cao), cái ngây thơ hồn nhiên của bé Thúy (Nhánh rong phiêu bạc), bé Ngọc (Công chúa lạc loài)…
Đến với văn học, Võ Hồng đã đặt chân qua nhiều lĩnh vực: thơ, phê bình và cuối cùng tìm thấy chỗ đứng của mình trong văn xuôi. Nhưng có lẽ ở truyện ngắn ông thành công nhiều hơn là truyện dài, tiểu thuyết. Truyện ngắn Võ hồng không đi sâu vào những bi kịch gia đình để khái quát lên thành bi kịch xã hội như ở các thể loại dài hơi, mà đi vào những mảnh đời riêng lẽ, những thoáng chốc chênh vênh trong tâm trạng con người, cũng có khi gợi lên từ những phản cảm để đưa đến đồng cảm. Kết thúc truyện ngắn luôn chặt chẽ, phù hợp với vấn đề theo chu kỳ của ý đồ nghệ thuật. Những truyện ngắn xuất sắc của Võ Hồng, sẽ còn làm say lòng nhiều thế hệ người đọc như Lương Mai, Trong vùng rêu im lặng; những trang viết về nông thôn Việt Nam như Tình yêu đất, Dấu chân sa mạc; những trang miêu tả Hà Nội cổ kính lung linh qua Hoài cố nhân, Ngày xưa; những trang đời đầy nặng ôm lấy số phận những con người miền trung hiền lành, dung dị trong Như con chim sơn ca, Bên đập Đông Cháy… Hình như Võ Hồng không hề viết theo đúng nghĩa của động tác cơ học, mà là thể hiện, trải rộng tâm hồn mình ra trang giấy rồi gài lại, ghim lại từng mối chỉ lóng lánh kim tuyến tạo nên truyện một cách tự nhiên. Nhiều truyện có thể dừng lại nhưng người đọc lại bất ngờ biết thêm một quãng đời của nhân vật mà cũng chặt chẽ, không tản mạn, nhàm chán (Bí mật của anh Đỗ Cúc, Lương Mai, Thế giới của Năm Nhiều).
Võ Hồng rất giỏi kể chuyện. Trình tự phát triển của nghệ thuật miêu tả thường khảm vào một cốt truyện mang tính tự sự. Trong khoảng cách giao thoa ấy bao giờ cũng xuất hiện âm hưởng nồng nàn của tình người. Nhưng cũng chính lối kể chuyện trên lại làm cho các tác phẩm dài hơi của ông rơi vào tản mạn, thiếu tập trung vào chủ đề, thiếu xung đột gây nên những xúc động mạnh mẽ. Truyện của Võ Hồng thường xuất hiện ở ngôi thứ nhất - người dẫn truyện - và hẳn là cũng từ chuyện mình, gia đình mình mà nói ra thành chuyện người, chuyện xã hội. Tâm hồn người viết là khối thủy tinh trong suốt, hắt ra một thứ ánh sáng dịu dàng bao phủ lên từng số phận, soi tỏ xâu chuỗi được tất cả những gì diễn ra trong thực tại.
Bên cạnh đó, tuy nhận ra sức mạnh to lớn của nhân dân, nhưng đôi khi ông tỏ ra thiếu tin tưởng, dao động. Trong khi đó hầu hết nhân vật trung tâm mà Võ Hồng đặt tất cả tình yêu thương của mình mà tập trung khắc họa một cách tích cực, như Luân, Quy (Hoa bươm bướm, Như cánh chim bay), Ngọc (Công chúa lạc loài), Thúy (Nhánh rong phiêu bạt), Băng Trinh, Khải, Kiều Chân (Thiên đường ở trên cao)… đều là những người xuất thân từ tầng lớp trên, sa cơ thất thế bị đẩy vào khốn cùng. Hạn chế này do định kiến của bản thân người viết, lại là ưu điểm nổi bật của riêng ông khi đi sâu khai thác những bi kịch cá nhân của những người thuộc tầng lớp trên gắn liền với những thăng trầm của đất nước, của dân tộc.
Hai mảng hiện thực lớn được phản ánh trong sáng tác của Võ Hồng bổ sung cho nhau làm tăng thêm sức mạnh tư tưởng yêu nước của nhà văn. Đề cao tính người, với những khát vọng của nó, khẳng định cái phần tốt trong con người để chống chọi lại những nguy cơ hiểm ác từ bên ngoài con người, có cái nhìn bao dung đối với sai lầm, độ lượng đối với phần xấu trong con người để thức tỉnh trong họ sự lương thiện - đó là kiểu viết của Võ Hồng và ông có nhiều thành công đáng ghi nhận.
Điều quan trọng hơn là những vấn đề Võ Hồng đặt ra cho đến nay vẫn chưa hết tính thời sự, những hình mẫu con người được nhà văn tạo ra vẫn sống mãi, những cái ác nhà văn lên án vẫn còn “trường sinh bất lão”, sống dai dẳng trong đời sống xã hội. Bởi lẽ, Võ Hồng đi từ con người, xoay quanh những vấn đề của con người. Lối sống chạy theo đồng tiền chà đạp lên tất thảy mọi giá trị, khuynh hướng vật chất hóa con người, lãnh đạm trong mọi mối quan hệ; những kẻ cơ hội, phản bội, lợi dụng chức quyền tham ô hối lộ thời nào cũng có; tiếng kêu thống thiết chống chiến tranh, xây dựng hòa hợp hòa giải, xây dựng tình thương yêu con người, vì con người,… bàng bạc trong từng câu chữ, khảm vào từng mạch văn làm xao động lòng người.
N.S.T
(SHSDB31/12-2018)
........................................................
[1] Những trích dẫn chỉ ghi số trang là trích từ tác phẩm của Võ Hồng.
[2] Võ Hồng, Giai phẩm Văn, số đặc biệt về nhà văn Võ Hồng, 1974.
Tải mã QRCode
Hiện nay trên thế giới, quan niệm về Nghệ thuật tạo hình, Nghệ thuật thị giác và Mỹ thuật mang ý nghĩa gần giống nhau. Nó bao gồm: hội họa, đồ họa, kiến trúc, điêu khắc, trang trí ứng dụng, video clip, sắp đặt v.v..Loại hình nghệ thuật này luôn xuất hiện bằng những hình ảnh (image) thu hút mắt nhìn và ngày càng mở rộng quan niệm, phương thức biểu hiện cũng như khai thác chất liệu. Tuy nhiên, để hiểu thế nào là nghệ thuật trong tranh, hoặc vẻ đẹp của một công trình nghệ thuật còn là câu hỏi đặt ra với nhiều người.
HÀ VĂN LƯỠNGPuskin không chỉ là nhà thơ Nga vĩ đại, nhà viết kịch có tiếng mà còn là nhà cải cách văn học lớn. Là người “khởi đầu của mọi khởi đầu” (M. Gorki) Puskin bước vào lĩnh vực văn xuôi với tư cách là một người cách tân trong văn học Nga những năm đầu thế kỷ. Những tác phẩm văn xuôi của ông đã đặt cơ sở vững chắc cho văn xuôi hiện thực và sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực phê phán Nga, góp phần khẳng định những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc.
ĐẶNG VIỆT BÍCHGần đây trên tuần báo Văn Nghệ đã có bài viết bàn về vấn đề đào tạo "Văn hóa học", nhân dịp Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra nghị quyết V về xây dựng một nền văn hóa, văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
PHAN TUẤN ANH “Cuộc nói chuyện của chúng ta đã cho tôi thấy rằng hết thảy những gì liên quan đến bản chất của ngôn ngữ mới ít được nghĩ đến làm sao” (Martin Heidegger)
TRẦN ĐÌNH SỬVăn học sáng tác là nhằm để cho người đọc tiếp nhận. Nhưng thực tế là người đọc tiếp nhận rất khác nhau. Lý luận tiếp nhận truyền thống giải thích là do người đọc không sành.
NGUYỄN THANH HÙNGVăn học là cuộc sống. Quan niệm như vậy là chẳng cần phải nói gì thêm cho sâu sắc để rồi cứ sống, cứ viết, cứ đọc và xa dần mãi bản thân văn học.
LTS: Cuộc tranh luận giữa hai luồng ý kiến về nhân vật lịch sử Nguyễn Hiển Dĩnh, một mệnh quan triều đình Huế có công hay có tội vẫn chưa thuyết phục được nhau.Vấn đề này, Tòa soạn chúng tôi cũng chỉ biết... nhờ ông Khổng Tử "Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri giả" (biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, ấy là biết). Vậy nên bài viết sau đây của nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Nguyễn Đắc Xuân, chúng tôi xin đăng nguyên văn, tác giả phải gánh trọn trách nhiệm về độ chính xác, về tính khoa học của văn bản.Mong các nhà nghiên cứu, cùng bạn đọc quan tâm tham gia trao đổi tiếp.
NGUYỄN ĐẮC XUÂNNăm 1998, Thành phố Đà Nẵng dự định lấy tên nhà soạn tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh đặt cho con đường mới song song với đường 2 tháng 9 và đường Núi Thành. Nhưng sau đó qua một số tin bài của tôi đăng trên báo Lao Động nêu lên những điểm chưa rõ ràng trong tiểu sử của ông Nguyễn Hiển Dĩnh, UBND Thành phố Đà Nẵng thấy có một cái gì chưa ổn trong tiểu sử của Nguyễn Hiển Dĩnh nên đã thống nhất rút tên ông ra khỏi danh sách danh nhân dùng để đặt tên đường phố lần ấy. Như thế mọi việc đã tạm ổn.
Vừa qua nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân có viết một loạt bài về ông Nguyễn Hiển Dĩnh - một quan lại triều nguyễn, nhà soạn tuồng nổi tiếng Quảng Nam. Qua thư tịch, anh chứng minh Nguyễn Hiển Dĩnh tuy có đóng góp cho nghệ thuật tuồng cổ nhưng những hành vi tiếp tay cho Pháp đàn áp các phong trào yêu nước ở Quảng Nam quá nặng nề nên không thể tôn xưng Nguyễn Hiển Dĩnh là danh nhân văn hoá của việt Nam như Viện Sân khấu và ngành văn hoá ở Quảng Nam Đà Nẵng đã làm. Qua các bài viết của Nguyễn Đắc Xuân có những vấn đề lâu nay ngành văn hoá lịch sử chưa chú ý đến. nhà báo Bùi Ngọc Quỳnh đã có cuộc đối thoại lý thú với anh về những vấn đề nầy.
ĐỖ NGỌC YÊNVào những năm 70 của thế kỷ, ở nhiều nước phương Tây tràn ngập không khí của cuộc khủng hoảng gia đình, làm cho nhiều người rất lo ngại. Một số kẻ cực đoan chủ trương xóa bỏ hình mẫu gia đình truyền thống. Nhưng cái khó đối với họ không phải là việc từ bỏ hình mẫu gia đình cũ - mặc dù trên thực tế việc làm đó không phải dễ - mà vấn đề đâu là hình mẫu gia đình mới.
NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH Phóng sự điều tra
THỦY THANHLâu nay, "quả lắc" vì sự trong sáng tiếng Việt dường như đã trì vào điểm chết của dây dọi. Những mặc cảm, thành kiến hoặc dị ứng về sự "ga lăng ngôn ngữ" trước áp lực của thời đại tin học cũng chững lại như một thái độ thăm dò. Suy cho cùng thì ngôn ngữ cũng có đời sống riêng và nó bao gồm cả thể vía lẫn thể xác. Nó cũng "hữu sinh tất hữu diệt" trong luật tiến hóa và đào thải như nhiên. Ngôn ngữ nói chung là một phương pháp hệ thống hóa và tích lũy tri thức theo sự diễn tiến về mặt lịch đại và sự tiệm tiến về mặt đồng đại.
Các lý thuyết văn học tiếp cận văn chương theo những cách khác nhau và có thể được phân loại theo những tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, có một điểm chung tối quan trọng không thể chối cãi: tác phẩm văn học là một hiện tượng sử dụng ngôn ngữ trong đó không thể thiếu vai trò của tác giả, độc giả cũng như thực tại, cho dù mỗi yếu tố tham gia ở những mức độ khác nhau.
Viết là một công việc bất hạnh. Một trong những yếu tố gây khốn khổ cho nhà văn là cốt truyện. Cốt truyện là “ông ngoáo ộp” dọa dẫm người cầm bút và cũng là nguyên nhân chung dẫn đến sự bế tắc của họ trong quá trình triển khai tác phẩm.
Trên thế giới, ít có loài hoa nào ra đời sớm, phổ biến với nhiều biểu trưng cao quý như hoa sen. Dáng hình đẹp, màu sắc trang nhã, hương thơm thùy mị, thanh khiết, không nhiễm bẩn... chừng ấy đức tính tốt đẹp đã đưa hoa sen thành biểu trưng cao quý của đạo Phật.
TRẦN ĐƯƠNGGoethe (1749-1832) hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực và ở lĩnh vực nào ông cũng thâu tóm những tri thức đồ sộ, cũng đạt được những thành tựu xuất sắc. Tên tuổi ông trở thành niềm tự hào của cả dân tộc, được Các Mác gọi là người Đức vĩ đại nhất”.
AN CHÍNHCó lẽ Hồng Nguyên là một trong những nhà thơ rất thành công về việc dùng "tiếng địa phương trong thơ của mình.
Flier Andrei Jakovlevich(Tiến sĩ triết học, nhà văn hóa học của Nga)
HOÀNG NGỌC HIẾN (Đọc "Văn hóa chính trị - truyền thống và hiện đại" (1) của Nguyễn Hồng Phong)Đây là công trình nghiên cứu tổng kết có tính chất chiến lược Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX06 "Văn hóa, văn minh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội" do cố giáo sư Nguyễn Hồng Phong làm chủ nhiệm(2). Lịch sử những quá trình hiện đại hóa ở Việt Nam từ cuối t.k.XIX đến nay là một chủ đề quan trọng của công trình.
NGUYỄN ĐÌNH CHÍNHThực trạng của phê bình nghệ thuật hiện nay đang là một câu hỏi cần phải được trả lời.